Tiểu Luận ảnh hưởng của dầu mỏ tới quan hệ của mỹ và các quốc gia khác - Pdf 26

Website: Ema il :
PHẦN I
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU MỎ TỚI QUAN HỆ CỦA MỸ
VÀ CÁC QUỐC GIA KHÁC, QUA ĐÓ THẤY ĐƯỢC VỊ TRÍ CỦA MỸ
TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
Dầu mỏ - Nguồn năng lượng truyền thống này có vai trò quan trọng đối
với mọi quốc gia chứ không chỉ riêng với nước Mỹ, nhiên liệu dùng cho các
phương tiện giao thông vẫn chưa gì có thể thực sự thay thế cho xăng dầu và mỗi
khi mùa đông đến dầu lại dường như nóng bỏng cho nhu cầu sưởi ấm Nền KT
của 1 số quốc gia tăng trưởng nhanh chóng như Trung Quốc, ấn Độ và ngay cả
Mỹ làm cho tiêu thụ dầu trên toàn thế giới tăng nhanh trong khi đó trữ lượng
dầu không phải là vô tận. Người ta ước tính vào khoảng 100 tỷ tấn. Như vậy
với mức tiêu thụ hơn 30 tỷ thùng mỗi năm như hiện nay, dầu mỏ sẽ cạn kiệt sau
30- 40 năm nữa. Viễn cảnh chẳng mấy tốt đẹp này khiến dầu mỏ càng trở lên
nóng bỏng hơn. Các cường quốc luôn muốn chạy đua đến cùng để “ có chân”
trong các khu vực về dầu mỏ để chiếm lấy cơ hội phát triển thuận lợi hơn các
quốc gia khác trước khi đón chờ ngày tàn của dầu mỏ.trong đó những quốc gia
càng mạnh thì lại cang có ưu thế. điều này không chỉ ảnh hưởng tới quan hệ các
cường quốc với nhau mà còn ảnh hưởng tới quan hệ với các khu vực quốc gia có
nguồn vàng đen này. Mỹ với tiềm lực số 1 về KT và quốc phòng đang ra sức
thực hiện mục tiêu chiến lược đó. Nhưng chẳng hề dễ dàng một chút nào
1
Website: Ema il :
PHẦN II
DẦU MỎ VẪN ĐANG LÀ VẤN ĐỀ NÓNG BỎNG VỚI MỸ TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ
I. NHU CẦU DẦU MỎ VẪN Ở MỨC CAO VÀ GIA TĂNG TỪ
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ
1. Hiện trạng và nguyên nhân
Mỹ cũng là nhà tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới. Năm 2006, Mỹ tiêu thụ
trung bình 20,8 triệu thùng/ngày( chiếm khoảng 25% lượng dầu tiêu thụ của

này.nhu cầu nhập khẩu ngày càng tăng từ4,3 triệu thùng(1985) tới hơn 12 triệu
thùng/ ngày Năm 2005, theo thống kê Mỹ phải nhập từ bên ngoài là 13714000
thùng/ ngày trong đó có 5578000 thùng từ Opec, 2234000 từ vịnh Persian. Vậy
là hơn 50% nhập khẩu dầu của Mỹ đến từ hai khu vực không thật sự ổn định
này. Canada là nước cung cấp nhiều dầu nhất cho Mỹ (18%) Mexico(15%) và
Arapxeut(12%).(2005)
- Do vậy mà bất kì sự thay đổi nào về giá dầu cũng ảnh hưởng tới mỹ.
Một vấn đề lớn với Mỹ là sự biến động thất thường của giá dầu. Người dân Mỹ
chỉ phải trả 50,2 usd con số này cao hơn rất nhiều so với hồi chiến tranh vùng
vịnh là 41,15 đôla. Nhưng lại thấp hơn tháng 7 – 2005 là 63 dola/thùng và 70
đôla/thùng mấy tháng sau.người mỹ ko giả quyết đc vấn đè này mà phụ thuộc
vào OPEC
1971: Nâng giá dầu sau khi thương lượng với các tập đoàn khai thác. Tiến
tới đạt tỷ lệ quốc gia hóa 50% các tập đoàn.
1973: Tăng giá dầu tăng từ 2,89 USD một thùng lên 11,65 USD. Thời
gian này được gọi là cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, OPEC khai thác 55%
lượng dầu của thế giới.
3
Website: Ema il :
1974 đến 1978: tăng giá dầu 5-10% hầu như mỗi nửa năm một lần để
chống lại việc USD bị lạm phát.
1979: Khủng hoảng dầu lần thứ hai. Sau cuộc cỏch mạng Hồi giỏo giá
dầu từ 15,5 USD một thùng được nâng lên 24 USD. Libya, Algérie và Iraq thậm
chí đũi đến 30 USD cho một thùng.
1980: Đỉnh điểm chính sách cao giá của OPEC. Lybia đũi 41 USD, Ả Rập
Sauđi 32 USD và các nước thành viên cũn lại 36 USD cho một thựng dầu.
1981: Lượng tiêu thụ dầu giảm do các nước công nghiệp lâm vào cuộc
khủng hoảng kinh tế và bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, do giá
dầu cao, nhiều nước trên thế giới đầu tư vào các nguồn năng lượng khác. Lượng
tiêu thụ dầu thế giới giảm 11% trong thời gian từ 1979 đến 1983, thị phần dầu

hướng tiêu dùng giảm theo sức mua vì thế cũng giảm. Đối với chính phủ, đã có
luc Bush phải tăng gấp đôi hay gấp 3 lần mưc tiền của hoá đơn năng lượng. Đối
với các doanh nghiệp giá dầu tăng làm chi phí sản xuất tăng dẫn tới giá cả hàng
hoá tăng đe doạ lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với tổng thể nền KT Mỹ làm
ảnh hưởng tố đọ tăng trưởng kinh tế gia tăng lam phat thâm hụt cán cân thương
mại nếu mỹ thâm hụt 0,4- 1999 thì đến cuối 2000 thâm hụt tăng 1,3 % GDP.
Cuối năm 2000 cho đến đầu 2003 cũng là nhiệm kỳ đầu tiên của Bush KT Mỹ
đã rơi vào tình trạng trì trệ trong đó giá dầu cao la nguyên nhân đáng kể.
5. Giải pháp
5
Website: Ema il :
Tình hình đó đặt ra các khó khăn cho Mỹ và chính quyền Bush và một lời
giải cho vấn đề an ninh năng lượng, đảm bảo dầu mỏ.ngay khi nhậm chức bush
đã đề cập đến vấn đề khủng hoảng năng lượng và đã bổ nhiệm bộ trưởng năng
lượng mới spencer abraham và giao cho phó tổng thống d.cheney Năm 2001 phó
tổng thống Dichcheney đã đưa ra đạo luật về năng lượng trong đó dành những
mục quan trọng đề cập riêng đến chính sách về dầu mỏ. Ta có thể điểm qua
những chính sách của chính quyền Bush như sau:
+ Mỹ phải đa dạng hoá hơn nữa nguồn cung bên ngoài hướng đến thị
trường mới, củng cố thị trường truyền thống
+ Mở rộng quy mô sản xuất dầu trong nước đi kèm với xây dựng cơ sở hạ
tầng mới đồng bộ và hoàn thiện hơn
+ Tích cực đầu tư nghiên cứu triển khai sử dụng các nguồn năng lượng
mới giảm bớt gánh nặng từ dầu mỏ
+ Dự trữ dầu mỏ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng chủ động trước
những biến đổi thất thường của thị trường thé giới
+ Có những chính sách đảm bảo sử dụng một cách hiệu quả và tiết kiệm
năng lượng trong đó việ đảm bảo thị trường là quan trọng nhất.
II. CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH VỀ DẦU MỎ TRONG NƯỚC CỦA
CHÍNH QUYỀN BUSH

thể đủ cho nước Mỹ dùng trong khoảng 33 ngày. việc mữ mở rộng hay thu
hẹpkho dự trữ đều lam giá dầu thay đổi. Tuy nhiên đây chỉ là biên pháp phòng
ngừa tạm thời mà ko mang tính bền vững.
3. Phát triển công nghệ để sử dụng hiệu quả năng lượng
Năng lượng dùng cho giao thông tăng bình quân 1,5%/ năm. trong 2 thập
kỷ qua ở Mỹ chủ yếu vẫn là năng lượng truyền thống(99%). Năm 2003 chính
quyền Bush đã ban hành luật “ Đảm bảo hiệu quả năng lượng giao thông cho
tương lai” yêu càu sử dụng công nghệ tiết kiệm và phát triển công nghệ mới để
giảm bớt năng lượng tiêu dùng và giảm ô nhiễm.
7
Website: Ema il :
Nhà nước thiết lập các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tối thiểu yêu cầu
sử dụng năng lượng tiết kiệm nhất là đối với các cơ quan công cộng – khu vực
sử dụng năng lượng lớn nhất cả nước. Năm 1999, các cơ quan chính phủ tiêu
dùng gần 1,1% tổng năng lượng Mỹ và chi tiêu gần 8 tỷ USD cho phương tiện
đi lại, cho các hoạt động và cho 500000 ngôi nhà.
Nhà nước kêu gọi các gia đình thực hành tiết kiệm , thực hiện việc thông
báo chi tiết chi phí từng loại năng lượng mà các gia đình sử dụng trong hoá đơn,
qua đó giúp các gia đình điều chỉnh được mức tiêu thụ năng lượng hợp lý của
mình
4. Xây dựng cơ sở hạ tầng
Cải thiện hệ thống truyền dẫn giữa các bang đồng thời mở rộng chương
trình nghiên cứu và phát triển của Bộ năng lượng đối với hệ thống truyền dẫn
Các chuyên gia ước tính cần phải xây dựng tức 10 nghìn dặm các ống dẫn
dầu và khí tự nhiên mới và cả những nhà máy xử lý và lọc để cơ thể đáp ứng đủ
nhu cầu tăng lên của khí tự nhiên và dầu.
Đổi mớ và phát triển hệ thống ống dẫn dầu, khí xuyên Alatka để đảm bảo
rằng dầu và khí tự nhiên sẽ là dòng năng lượng không bị ngắt quãng cho bờ Tây
của Mỹ.
Để đảm bảo tính an toàn thì luật cải thiện mức an toàn của đường ống dẫn

đề then chốt vẫn là đảm bảo thị trường bên ngoài.
9
Website: Ema il :
PHẦN III
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI DẦU MỎ
Là nước sản xuất dầu mỏ đứng thứ 3 trên thế giới nhưng cũng tiêu dùng
nhiều nhất thế giới với hơn 25% lượng dầu được sản xuất của toàn thế giới,mỹ
phải nhập khẩu dầu tới hơn một nửa để phục vụ nhu cầu dầu mỏ của mình. Do
không tự đáp ứng được nhu cầu cho một nền kinh tế phát triển nhanh chóng, Mỹ
chịu sự phụ thuộc lớn vào bên ngoái, có thể gây nguy cơ đến an ninh năng
lượng. Vì thế mà trong chính sách năng lượng quốc gia được ngài phó tổng
thống Dick cheney đưa ra năm 2001, có một phần lớn tập trung vào việc thúc
đẩy các quan hệ quốc tế để đạt mục đích đa dạng hơn nữa nguồn cung. Mỹ tăng
cường hiện diện ở những khu vực dầu mỏ
I. KHU VỰC TRUNG ĐÔNG
1. Vai trò của Trung Đông
10
Website: Ema il :
Mỹ rất cần kiểm soát được khu vực này.Khu vực mà chiếm tới 2/3 trữ
lượng dầu mỏ của thế giới, sản lượng klhoảng 34% và theo dự báo đến năm
2020, các nước trong khu vực này sẽ cung cấp từ 54-67% lượng dầu sản xuất
được của thế giới. Khu vực này cũng rất thuận tiện để khai thác với giá rất thấp
khoảng 1.5 usd/ baren, thấp nhất thế giới sẽ tạo lợi nhuận cao. Đây là khu vực
ngự trị của những thành viên lớn nhất thuộc OPEC. Năm 2005, Mỹ vốn phải
nhập khẩu trung bình mỗi ngày 5587000 thùng dầu từ OPEC( chiếm 41% nhập
khẩu dầu của mỹ). Tổng thống dick cheney đã tuyên bố:”dù dự tính thế nào, sản
xuất dầu của trung đông vẫn tiếp tục đóng vai trò trung tâm với an ninh dầu thế
giới.”
2. Chính sách
Chính sách cụ thể của bush ở trung đông trong những năm đầu thế kỉ này

và cũng là trọng tâm của chính sách năng lượng mỹ ở trung đông. trữ lượng lớn
nhưng những dự án khai thác ở đây lại rất ít, iraq có khoảng 526 đIểm có khả
năng khai thác nhưng mới chỉ có 125 đIêm được khai thác, do vậy nước này có
1 nguồn dầu mỏ còn rất phong phú,Mỹ từ lâu xem việc kiểm sáot vùng vùng
vịnh như là lợi ích sống còn của mình. Cựu tổng thống CARTER đã tuyên bố “
bất kì nỗ lực nào của các thế lực bên ngoàI nhằm kiểm soát vùng vịnh sẽ bị coi
như một cuộc tấn công vào lợi ích của hoa kỳ” Thế nhưng Iraq, nước có trữ
lượng dầu lớn thứ hai thế giới đã có thái độ chống lại sự thao túng của Mỹ ở
vùng này, trở thành một vật cản trong chiến lược kiểm soát nguồn năng lượng
thế giới của Mỹ. Mưu đồ lật đổ Saddam Hussein của Mỹ lại càng mạnh mẽ hơn
sau vụ 11-9 và vào thời điểm khi mà Iraq ký với Pháp, Nga, Trung Quốc một số
hợp đồng khai thác dầu mỏ, chỉ đợi đến khi lệnh cấm vận của Liên Hợp Quốc bị
dỡ bỏ là đi ngay vào thực hiện
+Ngày 20-3-2003, Bush tuyên bố bắt đầu cuộc chiến tranh chống Iraq gây
sự bất bình to lớn trong cộng đồng quốc tế. Động cơ chủ yếu cho hành động này
của Mỹ là dầu mỏ, chứ không phải là chống khủng bố. Một mạt kiểm soát được
Iraq sẽ có thêm một lượng dầu đáng kể, có được món lời khổng lồ cho các công
ty dầu mỏ của Mỹ ( Mỹ rút khỏi nghị định thư Kyoto cũng chính là để đảm bảo
12
Website: Ema il :
lợi ích cho các công ty dầu của mình, Exxan Mobilcorp tập đoàn cầu khí có lợi
nhuận 36 tỷ USD năm 2005 đã ra sức vận động cho vấn đề này) Mặt khác sau
khi kiểm soát được Iraq, Mỹ sẽ có điều kiện kiểm soát được nguồn cung cấp dầu
mỏ cho Trung Quốc và các đối thủ khác.có thể nhìn thấy trong chiến dịch này
mỹ đã ko ném bom dảI thảm mà sớm cho bộ binh đổ bộ và chiếm đóng canh giữ
các giếng dầu.
+ Năm 2005 trung bình mỗi ngày Iraq cung cấp cho Mỹ một lượng dầu là
531000 thùng một con số đáng kể tuy chưa đúng với kì vọng của mỹ và có thể
sẽ còn tăng vọt trong thời gian tới. Hiện nay một đạo luật về khai thác dầu ở Iraq
đang trong quá trình bàn thảo, tất nhiên việc phác thảo ra đạo luật này có sự

- Canada những năm gần đây đã trở thành nhà cung cấp dầu lớn nhất cho
Mỹ. Năm 2000 nước này trung bình mỗi ngày xuất sang Mỹ 1,8tr thùng dầu,
đến năm 2005 đã tăng lên tới 2,18tr thùng(chiếm 16% tổng nhập khẩu dầu của
Mỹ). Trữ lượng dầu của Canada không thuộc OPEC vậy nên việc nưúơc này
nhanh chóng trở thành nhà cung cấp dầu lớn nhất cho Mỹ đã khiến nhiều người
bất ngờ. Theo một cuộc thăm dò tháng 6/2006 đăng trên CBC News thì chỉ có
4% người Mỹ biết đến điều này. ở khu vực Bắc Mỹ Canada là đồng minh thân
cận của Hoa kỳ, quan hệ thương mại của Mỹ với Canada lớn hơn của Mỹ với
bất cứ quốc gia nào trong tương lai, mối quan hệ này vẫn diễn tiến theo chiều tốt
đẹp và khả năng Canada vẫn sẽ là nhà cung cấp dầu lớn nhất cho Mỹ hơn nữa ,
là nhà cung cấp dầu ổn định tin cậy nhất, cũng trong cuộc thăm dò trên, 88%
người Mỹ thể hiện sự yêu thích của họ đói với Canada
14
Website: Ema il :
Mexeco là nước cung cấp dầu nhiều thứ 2 sau Canada, năm 2005 trung
bình mỗi ngày, Mỹ nhập của Mexeco 1662000 thùng dầu.(chiếm 12,1% tổng
nhập khẩu dầu của Mỹ) đã tăng đáng kể so với mức 1373000 thùng/ngày hồi
năm 2000.
Mexico, Canada. Những thành viên của NAFTA đã cùng Mỹ họp tác hội
đàm tạo ra một chương trình gọi là “Sáng kiến năng lượng Bắc Mỹ” phát triển
các chính sách để thúc đẩy liên kết và thương mại năng lượng Bắc Mỹ.
Nhình chung nguồn cung đến từ 2 nước này là khá ổn định và bền vững
do mỹ không chịu sự cạch tranh lớn về nguồn cung ở đây, khu vực này là thị
trường truền thống có mối quan hệ lâu bền và là đồng minh của mỹ, tư tưởng
chống mỹ cũng ko cao. Bởi thế mà vấn đề dàu mỏ chỉ là 1 nội dung hợp tác thúc
đẩy quan hệ tốt đẹp giữa mỹ và 2 nước này.
2. Khu vực Mỹ Latinh
Venezuela là nước cung cấp nhiều dầu nhất cho mỹ ở khu vực này tiếp
đó phải kể tới colombia, ecuado. năm 2005,venezuela cung cấp trung bình mỗi
ngày 1529000 thùng dầu cho Mỹ (chiếm 11,1% tổng dầu nhập khẩu của Mỹ).

chính quyền thân mỹ nhằm đảm bảo lợi ích của mỹ ở đây. diển hình là việc mỹ
nhiều lần can thiệp vào venezuela nhằm lật đổ ông chavez,
16
Website: Ema il :
Như vậy có thể thấy rằng mặc dù quan hệ giữa mỹ và khu vực này ko
căng thẳng như ở trung đông nhưng nó đang tiềm ẩn những mâu thuẫn đối địch.
Mỹ vân luôn coi đây là sân sau của mỹ và muôn nắm khu vực này trong đó có
cả dầu mỏ. Trong đó nhiều nước trong khu vực này như các nước phe cánh tả lại
muốn giảm sự phụ thuộc vào mỹ, chống lại mỹ. Venezuela đã dùng dầu mỏ là
vũ khí chống lại mỹ, tổng thống nước này tiếp tục kêu gọi lâp 1 liên minh dầu
mỏ chống mỹ. điều này đã làm cho quan hệ giữa mỹ và 1 số nước trong khu vực
mỹ latinh có phần gay gắt Tuy nhiên về hiện tại khu vực này còn lệ thuộc rất
nhiều vào mỹ
III. NGA, CHÂU PHI VÀ CASPI
Nga: Nga chiếm khoảng 5% trữ lượng dầu của thế giới. Năm 2000, Nga
sản xuất trung bình 6,7tr thùng/ngày. Năm 2004, sản xuất dầu đã xấp xỉ 9tr
thung/ngày. Nga về sản xuất cũng như xuất khẩu dầu đều thuộc vào hàng 3 nứơc
dẫn đầu. Tuy nhiên lượng dầu mà Nga xuất sang Mỹ chỉ rất hạn chế. Năm 2000
17
Website: Ema il :
là 72000 thung/ngày. Năm 2005 tăng nhảy vọt lên 410000 thùng/ngày nhưng
cũng chỉ mới bằng 1/5 so với Canada. Mặc dù trong quá khứ Nga và Mỹ từng có
những giai đoạn đối đầu căng thẳng. Nhưng cả hai bên đều thấy rằng cần phải
hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong vấn đề năng lượng. Mỹ thì rất cần đến nguồn tài
nguyên dầu mỏ và khí đốt phong phú của Nga, còn Nga cần phát triển kinh tế
mà sự trợ giúp từ phía Mỹ là vô cùng hữu ích. Hiện nay, Nga vẫn đang gặp khó
khăn về xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng. Đây là cơ hội cho các công ty Mỹ
tìm kiếm đầu tư. Chính phủ Mỹ đã hỗ trợ các công ty đối thoại về đầu tư vào
môi truờng thương mại với các quan chức Nga cũng như cải thiện môi trường
đầu tư chung.

để đảm bảo an ninh cho đường ống dẫn dầu baku-tblíi-ceyhan. Mỹ đã xây dựng
đường ống dẫn dầu vượt baikan nhằm tạo thêm đường cung cấp dầu xuất khẩu ở
caspi với sự tham gia của cả 2 công ty dầu của mĩ là exxon mobil và balkan mĩ
đã đầu tư khoảng 3,5 tỉ đo vào ngành dầu lửa trung á trở thành nhà đầu tư lớn
nhất trong khu vực và đã giành được thế mạnh về quyền khai thác ở khu vực
caspi.
Châu Phi
Trong nỗ lực thoát ra khỏi hay ít nhất giảm thiểu đi sự phụ thuộc quá
nhiều vào nguồn dầu mỏ từ Trung Đông, nơi chứa chất những bất ổn khó lường
và cả không ít những rào cản chống đối Mỹ, thì châu Phi là điểm đến hợp lý của
chính quyền Bush. Hơn hết khi nào, bây giờ người ta thực sự nhận thức được
tầm quan tròng của lục địa đen
Các nước chau Phi hiện đã xản xuất được xấp xỉ 9tr thùng dầu mỗi
ngày( trong đó có hơn một nửa đến từ Tây Phi) con số này chiếm khoảng 11%
19
Website: Ema il :
tổng cung dầu toàn thế giới. Lượng dầu xuất khẩu của chau phi sang Mỹ chiếm
gần 20% nhập khẩu dầu của nước này. Cả hai nưúơc Nigeira và Angola đều
thuộc vào hàng 10 nước cung dầu nhiều nhất cho Mỹ. Châu Phi dần trở thành 1
đối tác quan trọng của Mỹ trong vấn đề dầu lửa. Người Mỹ hy vọng trong tương
lai chau Phi còn có thể làm được nhiều hơn thế bởi đây là 1 mảnh đất đầy tiềm
năng.
Vể trữ lượng dầu mỏ cũng có nhiều tài liệu đăng tải và đa phần chỉ ra rằng
nó nằm trong khoảng từ 80-100 tỷ thùng dầu, chiếm xấp xỉ từ 7-5% tổng trữ
lượng dầu thăm dò được của thế giới. Đó là cơ sở để chau Phi có khả năng gia
tăng hơn nữa sản xuất dầu, lên tới 13-15tr thùng mỗi ngày trong vòng 10-18
năm tới. Những nhà phân tích dự báo rằng 5 nhà sản xuất dầu lớn ở Tây
Phi( Nigeria, Angola, Gabon, cộng hoà Côngo và Guninea xích đạo) có thể sản
xuất được thêm 2-3tr thùng/ngày. Và những quốc gia như Senegal Sierra Leone,
Sao Teme cũng sẽ trở thành những vùng khai thác “nóng” trong thập kỉ tới

ký với nhau những thoả thuận quan trọng về việc khai thác ở vùng JDZ được
chia sẻ giưũa 2 quốc gia này
Các nước châu Phi nhất là Tây Phi đang hợp tác tốt với nhau để tạo nên
một “cộng đồng” xây dựng dầu vững mạnh và Mỹ rất coi trọng mối quan hệ với
cộng đồng này. Vì thế mà Fohn Brodman, phó trợ lý thư ký chính sách
Thuộc Bộ năng lượng Mỹ đã khẳng định rằng “Châu Phi sẽ trờ thành nhà
cung cấp năng lượng quan trọng hơn của Mỹ”
Mỹ đã dùng diễn đàn hợp tác kinh tế và thương mại Mỹ – Phi cùng tiến
trình Bộ năng lượng Mỹ-Phi để tăng cường gắn kết song phương, đa phương,
thúc đẩy môi trường thuận lợi hơn cho thương mại, đầu tư, hoạt động dầu khí
của Mỹ. Tháng 6-2002 bộ năng lượng Mỹ đã tài trợ cho HN bộ trưởng năng
lượng Mỹ- Phi lần 3 ở Casablanca thảo luận các bước đi khuyến khích đầu tư
của khu vực tư nhân vào licnhx vực năng lượng.
Cơ quan phát triển năng lượng Mỹ đã hỗ trợ công nghệ cho giếng dầu Tây
Phi, đầu tư phần nào cho các dưj án đường ống liên quan đến các công ty dầu
của Mỹ.
21
Website: Ema il :
Tất cả là nhằm biến châu Phi thành một thế giới mới yên bình đem dến
những nguồn cung dầu vô cùng quý giá cho nước Mỹ. điều này cũng thúc đẩy
các nước châu phi phát triển và cảI thiện mối quan hệ với châu phi, khu vực mà
mỹ đã bỏ rơI nhiều năm. trong sự hợp tác ở khu vực này còn có xu hướng cạnh
tranh khi cả 3 nền kinh tế lớn của thế giới đều muốn chiếm thị trường này, ngoài
mỹ ra còn có EU và Trung Quốc Năm 2005 EU cũng có hội nghị cấp cao với
châu Phi. Trong năm 2006 trung quốc đã tổ chức hội nghi cấp cao Trung- Phi,
đầu năm nay trung quốc lại có 1 chuyến thăm cấp cao tới châu phi. Tuy nhiên sự
cạnh tranh thị trường này khó có thể tạo ra những cuộc xung đột gây căng thẳng
mà chỉ càng làm cho châu phi phat triển hơn.
PHẦN IV
KẾT LUẬN

mạnh nhưng kẻ mạnh không phải là kẻ đứng lên vai người khác mà phải là ngời
nâng người khác trên đôI vai mình
MỤC LỤC
23
Website: Ema il :
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status