14
A. MỞ ĐẦU
Hiện nay với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu hướng toàn
cầu hóa đã trở thành một tất yếu thì việc hoàn chỉnh các quy định về quyền tác
giả và bảo hộ quyền tác giả ngày càng trở nên quan trọng, nhất là hoàn thiện
những quy định về bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài. Và để đáp ứng
yêu cầu đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định ở Điều 774 về bảo hộ quyền
tác giả như sau: “Quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài
đối với tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được
sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam được bảo hộ theo
quy định của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát về bảo hộ quyền tác giả.
1. Quyền tác giả có yếu tố nước ngoài.
Quyền tác giả là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của mình.
Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn
hóa. Thí dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm,
14
tranh vẽ Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác
giả trong mối liên quan với tác phẩm này.
Quyền tác giả có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài, thuộc phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. “Yếu
tố nước ngoài” được thể hiện qua các dấu hiệu sau: (1) chủ thể là người nước
ngoài, pháp nhân nước ngoài; (2) khách thể tồn tại ở nước ngoài; (3) sự kiện
pháp lý xảy ra ở nước ngoài.
Điều 774, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định QTG có yếu tố nước ngoài là
“quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với tác
phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo
và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam được bảo hộ theo quy định
của pháp luật cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà
- Tác giả là cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện
dưới hình thức nhất định tại Việt Nam hoặc.
- Tác giả là cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố, phổ biến lần
đầu tiên tại Việt Nam.
- Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều
ước quốc tế về quyền tác giả (QTG) mà Việt Nam là thành viên.
Tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ QTG
theo quy định của pháp luật Việt Nam có các QTG theo quy định của pháp
luật Việt Nam được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.Như vậy, tác
giả là người nước ngoài sẽ được hưởng quyền tài sản và quyền nhân thân
trong lĩnh vực QTG như tác gải là công dân Việt Nam.
14
Các chủ thể trên sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ QTG tại Việt Nam
đối với các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật (sau đây gọi là tác
phẩm) sau: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác
phẩm khác được thể hiện dưới dạng chũ viết hoặc kí tự khác; bài giảng, bài
phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân
khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự
(sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng
dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản
vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
2. Nội dung của bảo quyền tác giả có yếu tố nước ngoài theo Điều 774
BLDS 2005.
2.1. QTG của người nước ngoài sẽ được bảo hộ tại Việt Nam nếu có tác
phẩm lần đầu tiên được công bố phổ biến lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc
được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam.
14
Nếu đáp ứng được điều kiện trên thì tác giả là người nước ngoài, pháp nhân
nước ngoài được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam,
sản đối với tác phẩm mà mình là tác giả gồm: được hưởng nhuận bút; được
hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng; được nhận giải thưởng đối với tác
phẩm mà mình là tác giả.
14
- Chủ sở hữu không đồng thời là tác giả được hưởng lợi ích vật chất từ
việc sử dụng tác phẩm dưới các hình thức xuất bản, tái bản, trưng bày, triển
lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; dịch,
phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê.
2.2. Bảo hộ quyền tác giả của người nước ngoài và pháp nhân nước
ngoài có tác phẩm được công bố, phố biến, xuất hiện lần đầu ở nước ngoài,
thì chỉ thể được bảo hộ tại Việt Nam nếu Điều ước quốc tế Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập có quy định.
a. Trong trường hợp người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài có tác phẩm
được công bố phổ biến, xuất hiện lần đầu ở nước ngoài theo điều ước song
phương mà Việt Nam ký kết có quy định.
- Việt Nam ta đã ký kết các hiệp định song phương về QTG như: hiệp định
thiết lập quan hệ quyền tác giả Việt Nam – Hoa Kỳ năm 1997; Hiệp định giữa
Việt Nam và Thụy Sĩ về bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ năm 1999.
14
- Tuy nhiên, nhóm xin được đi nghiên cứu về Hiệp định thiết lập quan hệ
quyền tác giả Việt Nam- Hoa Kỳ năm 1997. Theo hiệp định này, các tác phẩm
được bảo hộ tại Việt Nam quyền tác giả bao gồm:
+ Tác phẩm của tác giả là công dân Hoa Kỳ và hoặc người thường trú tại Hoa
Kỳ;
+ Tác phẩm được công bố lần đầu tại Hoa Kỳ của người không phải là công
dân Hoa Kỳ hoặc người không thường trú trú tại Hoa Kỳ;
+ Tác phẩm mà một công dân Hoa Kỳ hoặc người thường trú tại Hoa Kỳ được
hưởng những quyền kinh tế theo luật quyền tác giả tại Việt Nam hoặc tác
phẩm mà những quyền kinh tế thuộc về một pháp nhân do một công dân Hoa
ước nếu một trong các đồng tác giả là công dân của nước thành viên. Ví dụ:
Một công dân của Việt Nam và một công dân của quốc gia khác( quốc gia này
chưa là thành viên Công ước) cùng là đồng tác giả của một tác phẩm văn học.
Trong trường hợp này thì tác phẩm này đươc Công ước bảo hộ vì có công dân
của quốc gia thành viên công ước- Việt Nam là thành viên của Công ước từ
năm 2004.
- Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ, đối với các tác phẩm không
thỏa mãn điều kiện nêu trên nhưng vẫn nhận được sự bảo hộ của Công ước
Berne. Đó là các trường hợp đươc quy định tại Điều 4, Công ước Berne. Cụ
thể:(1) . Các tác phẩm của tác giả điện ảnh mà nhà sản xuất có trụ sở hay
thường trú ở một trong những nước thành viên của Liên hiệp;(2) Các tác giả
của tác phẩm kiến trúc được xây dựng trong một nước thuộc Liên hiệp hoặc
14
những tác phẩm tạo hình gắn liền với một tòa nhà được xây dựng trong một
nước thuộc Liên hiệp
III. Đánh giá
Nhìn chung hành lang pháp lý về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam thời
gian qua đã tương đối được hoàn thiện với việc tham gia vào các Điều ước
quốc tế song phương như hiệp định thiết lập quan hệ quyền tác giả Việt Nam
– Hoa Kỳ năm 1997 và đa phương như Công ước Berne về bảo hộ quyền tác
giả 1886. Tuy nhiên, có thể thấy điều kiện và hành lang pháp lý mới chỉ đáp
ứng về mặt điều kiện cần, và việc thực thi quyền này còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác như: nhận thức về quyền tác giả, ý thức về thực hiện các quy định
pháp luật về quyền tác giả…
- Những thành quả đạt được: Việc thực hiện quyền tác giả ở nước ta
đa được tôn trọng. Các tổ chức cá nhân, khai thác sử dụng quyền tác giả về
cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật như: xin phép, trả nhuận bút,
thù lao và một số quyền lợi vật chất khác cho các chủ sở hữu hoặc tác giả.
Nhiều chủ thể đã nộp đơn đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả, điều này cho
14