phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý khách du lịch nhật bản - Pdf 26

Lời cảm ơn
Được sự cho phép của khoa Khách sạn-Du lịch trường Đại học Thương Mại nhóm
nghiên cứu chúng em đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học : “Phát triển sản phẩm du
lịch dựa trên đặc điểm tâm lý của khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam”.
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu lời đầu tiên chúng em xin bày tỏ lời cảm ơn chân
thành nhất đến cô giáo Ths. Dương Thị Hồng Nhung đã tận tình chu đáo giúp đỡ chúng
em trong quá trình thực hiện đề tài. Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn đến khoa Khách
sạn- Du lịch và trường Đại học Thương Mại cũng đã giúp đỡ chúng em điều kiện tốt nhất
để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học.
Mặc dù đã hết sức nỗ lực và cố gắng, nhưng do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn hẹp
nên đề tài nghiên cứu không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự chỉ đạo và đóng
góp ý kiến từ các thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn nữa.
Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2015
Nhóm thực hiện
Lê Thị Thanh
Đào Thu Phương
Trần Linh Phương
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Tổng quan nghiên cứu
5. Kết cấu đề tài nghiên cứu
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN
PHẨM DU LỊCH DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA KHÁCH DU LỊCH
1.1. Khái luận về sản phẩm du lịch và đặc điểm tâm lý khách du lịch
1.1.1. Sản phẩm du lịch
1.1.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch
1.1.1.2. Phân loại sản phẩm du lịch

ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN ĐẾN VIỆT NAM
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
2.1.1.1. Thu thập dữ liệu sơ cấp
2.1.1.2. Thu thập dữ liệu thứ cấp
2.1.2. Các phương pháp xử lý số liệu
2.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến
việc phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý khách du lịch Nhật Bản
đến Việt Nam.
2.2.1. Tình hình phát triển du lịch của Việt Nam trong thời gian qua
2.2.1.1. Khái quát về tài nguyên du lịch Việt Nam
2.2.1.2. Tình hình kinh doanh của ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 2011- 2014
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch ở Việt Nam
2.2.2.1. Khí hậu và môi trường
2.2.2.2. Kinh tế
2.2.2.3. Cơ sở hạ tầng viễn thông
2.2.2.4. Tình hình an ninh, chính trị, an toàn xã hội
2.2.2.5. Chính sách phát triển du lịch
2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm
tâm lý của khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam
2.3.1. Đặc điểm tâm lý của thị trường khách du lịch Nhật Bản
2.3.1.1. Một số đặc điểm khái quát về đất nước Nhật Bản
2.3.1.2. Đặc điểm tiêu dùng của khách Nhật
2.3.1.3. Quan hệ ngoại giao Việt-Nhật, sự hợp tác về du lịch giữa hai nước
2.3.2. Kết quả khai thác thị trường khách du lịch Nhật Bản trong thời gian qua
2.3.2.1. Số lượng và cơ cấu khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam qua các năm
2.3.2.2. Một số nguyên nhân thúc đẩy người Nhật Bản sang Việt Nam du lịch
2.3.3. Thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý khách di
lịch Nhật Bản đến Việt Nam
2.3.3.1. Về điều kiện phát triển

2.1 Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam và khách nội địa
giai đoạn 2011- 2014
2.2 Tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 2011- 2014
2.3 Cơ cấu khách du lịch Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc
đếnViệt Nam chia theo thị trường khách giai đoạn 2011-
2014
2.4 Lượng khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam giai đoạn
2011-2014
2.5 Chi tiêu bình quân một ngày khách du lịch Nhật Bản tại
Việt Nam
2.6 Chi tiêu một ngày của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
Danh mục các biểu đồ
Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ Trang
2.1 Cơ cấu giới tính khách du lịch Nhật Bản tới Việt Nam
2.2 Thời gian lưu trú của khách du lịch Nhật Bản tại Việt Nam
2.3 Tỷ lệ khách du lịch Nhật Bản trở lại Việt Nam
2.4 Cơ cấu khách du lịch Nhật Bản theo nghề nghiệp tới Việt
Nam
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, du lịch đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời
sống văn hóa, xã hội ở nhiều nước trên thế giới. Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một
trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước phát triển và mạng lưới du lịch đã
được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việc phát triển du lịch đã mang lại lợi
ích kinh tế to lớn cho mỗi quốc gia, cụ thể là lợi nhuận thu được thông qua việc tiêu dùng
các sản phẩm du lịch của du khách. Bên cạnh đó, vì sản phẩm du lịch mang tính liên
ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế nên việc phát triển du lịch sẽ
kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
Đối với nước ta, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh
tế chung của cả nước, đem lại hiệu quả kinh tế rất cao. Cụ thể, năm 2012, doanh thu

du khách.
+ Phát triển các sản phẩm du lịch mới, dựa trên đặc điểm tâm lý khách để nhằm thu
hút và hấp dẫn khách du lịch hơn.
+ Nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch nhờ việc thu hút thêm khách du
lịch, từ đó thúc đẩy ngành du lịch nước nhà ngày càng phát triển hơn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên thì nhiệm vụ nghiên cứu của để tài
bao gồm:
+ Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận liên quan đến việc phát triển các sản phẩm
du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý khách du lịch.
+ Đánh giá thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý
khách du lịch Nhật Bản đến Viêt Nam.
+ Đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hơn nữa các sản phẩm du lịch dựa trên đặc
điểm tâm lý khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các sản phẩm du lịch được xây dựng dựa trên đặc
điểm tâm lý khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thị trường khách du lịch Nhật Bản đến Việt
Nam giai đoạn 2011-2014 và định hướng nghiên cứu cho các năm tiếp theo.
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tập trung trên toàn lãnh thổ Việt Nam
+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về phát triển các sản phẩm du lịch dựa trên đặc
điểm tâm lý khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp
nhằm phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý khách du lịch Nhật Bản đến
Việt Nam.
4. Tổng quan nghiên cứu
Liên quan đến vấn đề phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý của
khách du lịch, chúng em đã tìm hiểu được một số tài liệu liên quan.
Về phát triển các sản phẩm du lịch, các giảng viên, sinh viên của trường Đại học
Thương Mại cũng có những đóng góp khác nhau, các giải pháp marketing nhằm thu hút
khách du lịch tới Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh hay các giải pháp nhằm hoàn

trong tiến trình hội nhập và phát triển đã cho thấy thực trang kinh doanh các loại hình du
lịch mới tại Hà Nội như du lịch mua sắm, du lịch sự kiện thể thao, du lịch MICE…Sau đó
tác giả đưa ra các định hướng phát triển và các giải pháp phù hợp cho từng loại hình du
lịch mới.
Với đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, tác giả Đỗ Trang Đoan - chủ nhiệm
đề tài (2010), Giải pháp phát triển dịch vụ du lịch biển Hải Hoà - Tĩnh Gia - Thanh Hoá
gồm các khái luận về du lịch biển và thực trạng phát triển dịch vụ du lịch biển, các loại
hình du lịch biển tại Hải Hòa-Tĩnh Gia-Thanh Hóa từ đó đánh giá ưu nhược điểm và đề
xuất giải pháp khắc phục nhược điểm và phương hướng phát triển cho dịch vụ du lịch
biển Hải Hoà - Tĩnh Gia - Thanh Hoá.
Các công trình nghiên cứu, luận văn nói trên đã đề cập tới nhiều vấn đề trong phát triển
các sản phẩm du lịch như phát triển du lịch biển, du lịch MICE, du lịch sự kiện thể thao,
du lịch mua sắm…, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển một số
sản phẩm, dịch vụ du lịch, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch.
Tuy nhiên, trong các đề tài trên chưa có đề tài nào nghiên cứu về sản phẩm du lịch
chuyên biệt dành cho khách du lịch Nhật Bản, các sản phẩm mang tính phù hợp với văn
hóa truyền thống sở thích và các đặc điểm tâm lý riêng của khách du lịch Nhật Bản. Vậy
đề tài “Phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý của khách du lịch Nhật Bản
đến Việt Nam” không trùng với các công trình đã công bố trước đây.
5. Kết cấu đề tài nghiên cứu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc
điểm tâm lý của khách du lịch.
Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc điểm tâm lý của
khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để phát triển sản phẩm du lịch dựa
trên đặc điểm tâm lý khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN
PHẨM DU LỊCH DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA KHÁCH DU LỊCH
1.1. Khái luận về sản phẩm du lịch và đặc điểm tâm lý khách du lịch
1.1.1. Sản phẩm du lịch

khách. Sản phẩm du lịch vật chất cũng có thể là các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du
khách như: vận chuyển, ăn uống, nghỉ ngơi, đồ lưu niệm, các dịch vụ vui chơi, giải trí.
Sản phẩm du lịch tinh thần là những sản phẩm vô hình có vai trò hết sức quan trọng trong
việc thỏa mãn các nhu cầu cao cấp của du khách như: các giá trị văn hóa, lịch sử mà du
khách tìm hiểu, khám phá được khi thực hiện chuyến đi, cùng những trạng thái tâm lý
(thỏa mãn hay không thỏa mãn) của du khách sau mỗi tour.
Hiện nay việc phân loại sản phẩm du lịch dựa trên một số tiêu chí sau:
- Theo các yếu tố của sản phẩm du lịch:
+ Điểm thu hút khách (các di sản văn hóa, vườn quốc gia, bãi biển, công trình kiến
trúc, lễ hội, phong tục tập quán )
+ Khả năng tiếp cận của điểm đến (cơ sở hạ tầng, các loại phương tiện dịch chuyển,
lịch trình hoạt động của các phương tiện đó)
+ Các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến (các dịch vụ lưu trú, nhà hàng, các cửa
hàng bán lẻ, các khu vui chơi giải trí, khu thể thao )
+ Hình ảnh của điểm đến (Hình ảnh của một điểm đến là sự đánh giá của khách du
lịch về điểm đến dựa trên niềm tin, thái độ và quan điểm của họ. Trong suy nghĩ của du
khách có thể bao gồm cả những ấn tượng tích cực và tiêu cực về điểm đến.)
+ Giá cả hàng hoá, dịch vụ của điểm đến (ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua
và tiêu dùng các sản phẩm du lịch tại điểm đến của khách du lịch, luôn đòi hỏi giá cả phải
phù hợp với chất lượng dịch vụ được đáp ứng.)
1.1.1.3. Đặc trưng của sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch thực chất là một sản phẩm dịch vụ, vì vậy nó mang đầy đủ các
đặc điểm của sản phẩm dịch vụ như:
- Tính vô hình:
Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình: Dịch vụ chỉ có thể nhận thức
được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể cầm nắm sản phẩm dịch vụ được, dịch
vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể
tích, trọng lượng. Khách du lịch không biết trước tác động của những dịch vụ được cung
cấp trước khi được cung ứng và tiêu dùng sản phẩm.
Vì sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất nên khách du lịch chỉ cảm

Sản phẩm du lịch không thể lưu kho cất trữ: để thực hiện được các sản phẩm du
lịch công ty lữ hành phải đặt trước các dịch vụ vận chuyển, ăn uống, ngủ nghỉ (máy bay,
tàu, khách sạn, nhà hàng) mà những dịch vụ đặt trước như chỗ ngồi ở máy bay, phòng
ngủ khách sạn, ghế ngồi nhà hàng không thể để tồn kho vì không tiêu thụ được là một
khoản thu nhập bị mất không thu lại được.
Ngoài các đặc điểm như đã phân tích như trên, sản phẩm du lịch còn có những đặc
trưng riêng biệt khác:
- Sản phẩm du lịch mang tính tổng hợp và đa dạng: Nó bao gồm cả yếu tố vật chất và phi
vật chất. Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể (yếu tố vật chất– hữu hình) như
thức ăn, đồ uống, hàng lưu niệm hoặc một món hàng không cụ thể (yếu tố phi vật chất –
vô hình) như chất lượng phục vụ, sự trải nghiệm, bầu không khí tại nơi nghỉ mát, kinh
nghiệm du lịch, Tính tổng hợp đồng bộ của sản phẩm du lịch xuất phát từ nhu cầu của
khách du lịch. Ngoài việc ăn uống, ngủ nghỉ, khách du lịch còn muốn thỏa mãn những
nhu cầu khác như tham quan, giải trí, mua sắm,… Do đó, để có một sản phẩm du lịch
hoàn thiện cần có sự tham gia của nhiều ngành kinh doanh khác nhau. Như Krapf cho
rằng: “một khách sạn không làm nên du lịch”.
- Khách hàng bắt buộc phải mua sản phầm trước khi thấy sản phẩm. Thấy được sản phẩm
tức là phải tiêu dùng sản phẩm. Trong du lịch hầu như không có trường hợp cho khách
hàng dùng sản phẩm rồi mới quyết định có mua nó hay không.
- Mặt khác, sản phẩm du lịch thường là kinh nghiệm nên dễ bắt chước, dễ bị sao chép.
Sản phẩm du lịch phụ thuộc vào tài nguyên du lịch mà tài nguyên không thuộc về cá
nhân hay có thể đăng kí quyền sở hữu điểm tham quan và chương trình du lịch. Điều này
dẫn tới tình trạng khi doanh nghiệp du lịch đầu tư công sức và tiền bạc để phát triển
những sản phẩm du lịch mới, khi đưa vào bán, các sản phẩm này sau một thời gian sẽ bị
đối thủ cạnh tranh hoặc công ty du lịch khác bắt trước và bán với mức giá thấp hơn do
không phải tốn nhiều công sức cho việc đầu tư. Khi mà luật sở hữu trí tuệ vào bảo vệ
thương hiệu sản phẩm đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch tại Việt Nam vẫn chưa được chặt
chẽ, thì chính điều này đã tạo ra rào cản cho việc xây dựng và phát triển các sản phẩm du
lịch mới trên thị trường.
- Kênh phân phối sản phẩm chủ yếu là kênh gián tiếp. Sản phẩm du lịch thường ở cách xa

Năm 1963, Hội nghị do liên hiệp quốc tổ chức tại Rôma (Ý) để thảo luận về du lịch
đã đi đến kết luận phạm trù khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch là công dân
của một nước sang thăm và lưu trú tại nước khác trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ
mà ở đó họ không có nơi ở thường xuyên, nhưng cũng không công nhận những người
nước ngoài ở quá một năm hoặc những người đi ra nước ngoài thực hiện hợp đồng, hoặc
tìm nơi lưu trú của mình cũng như những người ở vùng biên giới, sống nước này sang
làm việc nước khác”.
Theo luật Du lịch Việt Nam: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
Từ những khái niệm trên, có thể khái quát: Khách du lịch là những người đi ra khỏi môi
trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng
liên tục với mục đích chính của chuyến đi là thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay
các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động để đem lại thu nhập và kiếm sống
ở nơi đến.
Khách du lịch là đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình hướng dẫn du lịch của
hướng dẫn viên, là đối tượng của các đơn vị phục vụ và kinh doanh du lịch. Nói đến du
lịch người ta hiểu rằng đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người đến nơi
khác nhằm mục đích thoả mãn mọi nhu cầu về nghỉ dưỡng, chữa bệnh, văn hoá, nghệ
thuật, thể thao.v.v Đối với hoạt động du lịch, con người với vai trò là một du khách có
nhu cầu du lịch, rời khỏi nơi cư trú để thực hiện tour du lịch. Điều này có nghĩa để trở
thành một khách du lịch, con người phải hội tụ các điều kiện sau:
-Có thời gian rảnh rỗi: đối với tất cả các hoạt động trong đời sống nói chung và với hoạt
động du lịch nói riêng, con người muốn thực hiện đều cần có thời gian. Hoạt động du lịch
thông thường chỉ được thực hiện khi con người có thời gian rảnh rỗi. Khi đó họ không
phải làm việc, học tập và có thời gian để thỏa mãn các nhu cầu khác.
-Có khả năng thanh toán: khi tham gia hoạt động du lịch, con người phải tiêu dùng các
sản phẩm du lịch tại điểm đến. Do đó, họ cần phải có khả năng thanh toán cho việc sử
dụng nó.Khả năng thanh toán quyết định khá lớn đến toàn bộ quá trình đi du lịch của
khách hàng.
-Có nhu cầu cần được thỏa mãn: khi con người nảy sinh một nhu cầu nào đó như tham

cao hay thây để cung cấp dịch vụ một cách tương ứng.
Có rất nhiều cách để phân loại khách du lịch.Việc phân loại khách du lịch sẽ giúp các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch xác định được những nhóm khách hàng mà doanh
nghiệp mình muốn hướng tới để xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp với tường đối
tượng khách hàng. Mỗi doanh nghiệp căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân loại du
khách để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất.
1.1.3. Tâm lý khách du lịch
1.1.3.1. Khái niệm tâm lý khách du lịch
Theo dòng tâm lý học Mác-Lênin tâm lý con người được định nghĩa như sau: “Tâm lý
con người là sự phản ánh hiện thực khách quan của não, là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan, là sự tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử của loài người biến thành cái
riêng của từng người, bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội.”
Tâm lý là tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong khối óc con người, nó tham
gia điều khiển và điều chỉnh mọi hành vi, hành động và hoạt động của con người. Như
vậy, tâm lý khách du lịch được hiểu là những diễn biến tâm lý của khách du lịch trong
quá trình tìm kiếm, lựa chọn, tiêu dùng, cảm nhận và đánh giá các sảm phẩm, dịch vụ du
lịch.
Tâm lý khách du lịch vô cùng phong phú và đa dạng mỗi nhóm tính khí khác nhau
lại thể hiện những hành động và diễn biến tâm lý khác nhau, tâm lý ảnh hưởng đến cách
cảm nhận và đánh giá mang tính cá nhân của mỗi cá thể về sản phẩm du lịch.
1.1.3.2. Đặc điểm hành vi tiêu dùng du lịch của du khách
Hành vi tiêu dùng du lịch là những hành vi có ý thức mà người tiêu dùng (khách du
lịch và doanh nghiệp) thể hiện trong việc tìm kiếm, mua sắm, đánh giá và sử dụng các
sản phẩm, dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn và mục đích của họ.
Hành vi tiêu dùng du lịch có những đặc điểm sau đây:
- Hành vi tiêu dùng du lịch rất phong phú và đa dạng. Cùng một du khách có thể thể hiện
nhiều hành vi tiêu dùng khác nhau như: đặt tour, mua vé tàu xe, đặt phòng nghỉ, sử dụng
các dịch vụ vui choi giải trí Hành vi tiêu dùng du lịch ở mỗi khách hàng khác nhau
cũng khác nhau, phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, đặc điểm tâm lý và môi trường sống
của họ.

tục, tập quán của địa phương, tránh được các mâu thuẫn không đáng có.
- Truyền thống:
Truyền thống là một hiện tượng tâm lý xã hội, chứa đựng những văn hóa, xã hội mang
tính chất tiến bộ, thể hiện qua cách thức ứng xử, hành vi và quan hệ tương đối ổn định
giữa các thành viên trong và ngoài nhóm. Nói đến truyền thống là nói đến các giá trị tiến
bộ, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Truyền thống được đúc kết trong lịch sử hình
thành và phát triển của nhóm thông qua hoạt động, giao lưu của các thành viên. Truyền
thống luôn được thể hiện thông qua các hành vi, cách ứng xử ổn định.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, nhà quản lý doanh nghiệp du lịch cần phải xây
dựng truyền thống tốt đẹp trong doanh nghiệp, góp phần tạo ra bầu không khí tâm lý lành
mạnh thúc đẩy hoạt động kinh doanh. Ngoài ra cũng cần nắm được truyền thống của du
khách để có thể đưa ra các chương trình, kế hoạch, sản phẩm và dịch vụ du lịch phù hợp
với nhu cầu của họ, đồng thời cũng phải cho du khách hiểu biết những truyền thống của
địa phương qua hoạt động du lịch, giúp du khách có ý thức tôn trọng truyền thống địa
phương để có hành vi, cách ứng xử phù hợp.
- Tín ngưỡng, tôn giáo:
Một trong các hiện tượng tâm lý xã hội chi phối mạnh mẽ tới đời sống tâm lý của con
người chính là tín ngưỡng. Tín ngưỡng là niềm tin sâu sắc của con người vào một sự vật,
hiện tượng nào đó (có thực hoặc không có thực) chi phối nhận thức, hành vi và cách ứng
xử của họ. Tín ngưỡng là một định hướng giá trị khá bền vững, ổn định, được thể hiện
trong các lễ nghi, các hành vi, quan hệ, ứng xử gắn với đời sống tâm linh, lối sống cộng
đồng. Tín ngương phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, lứa tuổi, nhận thức và hoàn cảnh,
điều kiện của từng du khách, vì vậy, ảnh hưởng của tín ngưỡng tới các cá nhân là khác
nhau. Tôn giáo là hình thức tổ chức có cương lĩnh, mục đích và có nghi thức và hệ thống
lí luận để mang lại cho con người một tín ngưỡng nào đó một cách bền vững.
Trong du lịch, tín ngưỡng, tôn giáo là yêu tố cơ bản tạo nên các sản phẩm du lịch tín
ngưỡng đồng thời cũng là yếu tố có tác động lớn tới tâm lý của khách du lịch. Khách du
lịch thường có xu hướng tìm tới những nơi mà có tín ngưỡng tôn giáo mình tin tưởng
hay muốn tìm hiểu về nó. Mặt khác tín ngưỡng tôn giáo địa phương cũng có thể gây cản
trở đối với quyết định đi của khách du lịch nếu nó xung khắc với niềm tin mà họ đang có.

vì thế các nhà kinh doanh, các nhà tâm lý học du lịch cần nghiên cứu để tìm ra quy luật
của mốt nhằm áp dụng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Dựa vào quy luật
phát triển mốt trong du lịch, có thể đưa ra các kiểu hình du lịch phù hợp hơn với thị hiếu,
nhu cầu của du khách và giúp các địa phương sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ theo xu
hướng phát triển của mốt. Căn cứ vào các giai đoạn phát triển của mốt du lịch, doanh
nghiệp có thể đưa ra các chương trình quảng cáo, tiếp thị và xây dựng chiến lược kinh
doanh có hiệu quả hơn. Hợp tác liên kết giữa các hãng, các doanh nghiệp du lịch của
quốc gia và quốc tế trong việc thiết kế, dự báo xu hướng phát triển sản phẩm du lịch mốt
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch.
- Thị hiếu:
Trong cuộc sống xã hội, con người luôn luôn tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ do
thiên nhiên ban tặng hoặc do con người tạo ra. Trong quá trình tiêu dùng đó con người
luôn thể hiện thái độ lựa chọn ổn định đối với sản phẩm, dịch vụ thể hiện thị hiếu của họ.
Sự lựa chọn này dựa trên các giá trị, chuẩn mực, phong tục, tập quán của cộng đồng hoặc
các đặc điểm tâm lý của họ. Biểu hiện trước hết của thị hiếu nhóm trong hoạt động du
lịch là du khách của cùng một quốc gia thường lựa chọn những sản phẩm, dịch vụ tương
đối giống nhau. Thị hiếu là một hiện tượng tâm lý xã hội được hình thành và phát triển
trong quá trình hoạt động và giao lưu của nhóm, cộng đồng. Thị hiếu không chỉ phản ánh
những đặc điểm tâm lý văn hóa, xã hội, lịch sử, lối sống và trình độ phát triển của cộng
đồng mà còn phản ánh nhu cầu, trình độ thẩm mỹ của họ. Như vậy, thị hiếu là một hiện
tượng tâm lý xã hội phản ánh lối sống, trình độ thẩm mỹ và sự phát triển của cộng đồng,
bị quy định bởi các chuẩn mực văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán, thể hiện ở thái
độ hành vi lựa chọn ổn định đối với sản phẩm, dịch vụ.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch nhà quản trị cần nắm được thị hiếu của các
nhóm nhằm tạo ra chương trình, sản phẩm, dịch vụ du lịch phù hợp với thị hiếu của họ,
góp phần thúc đẩy kinh doanh mang lại lợi nhuận cao hơn cho công ty, doanh nghiệp.
Nhà quản trị cũng cần phải nắm bắt được xu hướng của thị hiếu, của thị trường du lịch từ
đó dự báo để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp cho doanh nghiệp. Thông qua thị
hiếu thể hiện trong các lễ hội của cộng đồng dân cư địa phương danh nghiệp có thể quảng
bá các xản phẩm, dịch vụ độc đáo của địa phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status