TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Giảng viên hướng dẫn: TS. BÙI VĂN MƯA
Học viên thực hiện : NGUYỄN ANH TUẤN
Số thứ tự : 114
Nhóm 6 - Lớp cao học Đêm 1 – K23
TP.HCM, THÁNG 12 - 2014
MỤC LỤC
Lời mở đầu ………….…… ………………………………………………………………….… 1
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về Lútvích Phoiơbắc và những nội dung
cơ bản chủ nghĩa duy vật nhân bản …………………………………………………….… 2
1.1. Giới thiệu sơ lược về Phoiơbắc ………………………………………………………… 2
1.2. Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc …………………………….…………………….3
1.2.1. Quan niệm về giới tự nhiên và con người ………………………………… 3
1.2.2. Quan niệm về nhận thức ……………………………………………………… 5
1.2.3. Quan niệm về tôn giáo ………………………………………………………… 5
1.2.4. Quan niệm về đạo đức …………………………………… ……………………7
Chương 2: Những giá trị, hạn chế và vai trò của chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc
đối với sự ra đời của triết học Mác …………………………………………………………7
2.1.Những giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc …………………………….7
2.2. Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc ……………………… 10
2.3. Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với sự ra đời
của triết học Mác ……………………………………………………………………………… 15
Kết luận ………………………………………………………………………………………… 16
Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………………….17
nói chung và những ưu điểm, đóng góp lẫn những hạn chế của ông nói riêng và vai
trò của triết học duy vật nhân bản với triết học của Mác.
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 1
Tiểu luận Triết học
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về Lútvích Phoiơbắc và những nội dung
cơ bản chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.1. Giới thiệu sơ lược về Phoiơbắc
Lútvích Phoiơbắc (1804-1872) sinh ra trong một gia đình luật sư nổi tiếng, đã
từng tham gia phái Hêghen trẻ, về sau tách khỏi phái này rồi trở thành người phê
phán hệ thống của Hêghen và xây dựng hệ thống triết học duy vật của riêng mình,
ông là nhà triết học duy vật duy nhất và cũng là đại biểu cuối cùng trong nền triết học
cổ điển Đức, là bậc tiền bối của Mác, các tác phẩm của ông như “Phê phán triết học
Heghen”, “Bản chất của đạo cơ đốc”, “Luận cương sơ bộ về cải cách triết học”, “Cơ
sở triết học tương lai”, “Bản chất của tôn giáo”… đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật
thế kỷ XVII-XVIII và làm sinh động thế giới quan duy vật khoa học thời bấy giờ.
Ông là người đã đem đến sự kết thúc đầy ý nghĩa toàn bộ nền triết học phương Tây
cổ điển nói chung, triết học cổ điển Đức nói riêng.
Tư tưởng cải cách triết học ở Phoiơbắc được hình thành từ năm 1829, khi ông
vừa hoàn thành Luận án Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại
Erlangen. Năm 1831, Hêghen mất và tám năm sau, Phoiơbắc công bố tác phẩm góp
phần phê phán triết học Hêghen, qua đó đoạn tuyệt với thế giới quan duy tâm, trở
thành nhà duy vật. Vấn đề cải cách triết học được ông bàn đến ở hầu hết các tác
phẩm sau đó, nhưng nổi bật nhất là trong ba tác phẩm kế tiếp nhau: gồm Bản chất
của Cơ đốc giáo (1841), Luận cương sơ bộ về cải cách triết học (1842), Cơ sở triết
học tương lai (1843). Đây cũng là các tác phẩm có sức thu hút lớn đối với Mác thời
trẻ bởi tính kiên định, phân minh về thế giới quan và thiên hướng chính trị dân chủ,
nhân văn của chúng.
Luận điểm xuất phát của triết học Phoiơbắc là giới tự nhiên tồn tại không lệ
thuộc vào ý thức, nó là cơ sở của tồn tại người, ngoài tự nhiên và con người, không
có gì cả, bản chất của Thượng đế chẳng qua là sự phản ánh hư ảo bản chất con người.
thiếu sáng tạo, thì Phoiơbắc lại nhấn mạnh yếu tố sản sinh và phát triển của nó. Tự
nhiên không phải là bản thể được nhào nặn từ cái tuyệt đối, thượng đế nào đó, mà là
bản thể độc lập, không cần đến bất kỳ giá đỡ thần thánh nào. Sự hình thành thế giới
nói chung, Trái đất, Mặt trời là quá trình tự nhiên. "Cú hích ban đầu của Chúa" mà
Galilê và Niutơn hình dung, đối với Phoiơbắc, là sản phẩm của trí tưởng tượng khôi
hài. Nếu Hêgen xác lập ranh giới không thể vượt qua giữa thế giới vô cơ và thế giới
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 3
Tiểu luận Triết học
hữu cơ, tự nhiên và tinh thần, thì Phoiơbắc lại từ lập trường của chủ nghĩa duy vật
mà khẳng định rằng, không có cái gì, kể cả sự sống, lại không hình thành từ vật chất.
Bên cạnh đó những dữ liệu do hoá học, sinh vật học và sinh lý học đem đến đều được
Phoiơbắc sử dụng thành công trong việc phê phán cả chủ nghĩa duy tâm sinh lý học
lẫn chủ nghĩa duy vật tầm thường.
Phoiơbắc cũng cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên, vì
con người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ
sở không thể thiếu của đời sống con người. Do đó, theo ông thì con người vừa mang
bản tính cá nhân, và con người - cá nhân cũng mang bản tính cộng đồng, có bản chất
nằm trong tình yêu.
Do mang bản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt
có lý trí, có ý chí, có trái tim của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê,
để rung động cảm xúc Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một năng lực sáng
tạo kỳ vĩ, năng lực này bắt nguồn từ trong cá tính cá nhân của mỗi con người, chứ
không phải xuất phát từ Thượng đế.
Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với
những người khác. Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi
con người mà là hạnh phúc được kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi người, trong
cộng đồng.
Bản tính vừa cá nhân vừa cộng đồng của con người, theo Phoiơbắc, là cơ sở
của tính ích kỉ hợp lý - thống nhất tính ích kỉ cá nhân với tính ích kỉ cộng đồng xã
hội. Phoiơbắc quan niệm rằng: “Chúng ta sẽ không thể là con người nếu không biết
tự nhiên để tồn tại.
- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
Quan niệm về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo ở Phoiơbắc gắn liền một
cách trực tiếp với quan điểm nhận thức của ông, theo đó thì nhận thức của con người
là kết quả tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan nhận biết, làm phát sinh
ra cảm giác. Ông cho rằng việc phát sinh ra các quan niệm về tôn giáo nói chung về
Thượng đế nói riêng gắn liền với sự phát triển của tư duy trừu tượng. Nhờ sự phát
triển của tư duy trừu tượng, con người đã khái quát hóa, trừu tượng hóa các sự vật
hiện tượng riêng lẻ trong giới tự nhiên thành những khái niệm chung. Nhưng sai lầm
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 5
Tiểu luận Triết học
của con người ở chỗ là tuyệt đối hóa các khái niệm, biến chúng thành những tồn tại
tinh thần độc lập.
- Nguồn gốc xã hội của tôn giáo:
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo không đơn giản là những ảo tưởng phi lý hoang
đường mà còn là những mơ ước, khát vọng đời thường của con người. Còn Thượng
đế chỉ là tập hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có. Như vậy
theo Phoiơbắc, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thức của con người;
không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con người đã sinh ra Thượng đế.
* Quan niệm của Phoiơbắc về bản chất tôn giáo:
- Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị:
Là một người có tư tưởng tự do cấp tiến, Phoiơbắc cho rằng tự do chính trị
trong lịch sử quá khứ và lịch sử đương đại luôn có mối quan hệ ràng buộc với tôn
giáo, những người làm chính trị đặc biệt là các vị vua trong triều đại phong kiến luôn
có tư tưởng thần thánh hóa các chính sách chính trị để dễ bề cai trị.
- Mối quan hệ giữa tôn giáo với đạo đức:
Phoiơbắc cho rằng đạo đức là lĩnh vực quan hệ giữa người với người trong thế
giới hiện thực sinh động, nó không liên quan gì tới thế giới bên kia. Trong đạo đức,
con người thiết lập quan hệ của nó với bản thân mình, với những người thân cận.
Còn trong tôn giáo, con người thiết lập quan hệ với một tồn tại tách khỏi bản tính con
duy vật; ông phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và Cơ đốc giáo; ông biết đặt con
người vào đúng tâm điểm phân tích triết học. Triết học của ông chất chứa đầy tính
duy vật khả tri và nhân bản, nó là một cội nguồn tư tưởng của triết học Mac sau này.
Theo đánh giá của Mac và Ănghen thì triết học của L.Phoiơbắc có những giá
trị sau:
- Phê phán những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm cũng như của nhị
nguyên luận trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy, L.Phoiơbắc
khẳng định rằng: "Quan hệ thực sự của tồn tại đối với tư duy là: tồn tại – chủ thể
(sujective), tư duy – thuộc tính (prelicate). Tư duy xuất phát từ tồn tại, chứ không
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 7
Tiểu luận Triết học
phải tồn tại xuất phát từ tư duy, cơ sở của tồn tại nằm ngay trong tồn tại, tồn tại chính
là cảm tính, là nguyên lý, trí tuệ, là sự tất yếu và chân lý; bản chất của tồn tại với tư
cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên". Tại sao tồn tại là chủ thể, còn
tư duy là thuộc tính của chủ thể đó? Để trả lời câu hỏi này, theo L.Phoiơbắc, chúng
ta cần sự giúp sức của sinh lý học và câu trả lời là: "Con người chỉ có thể suy nghĩ
nhờ đầu óc tồn tại cảm tính của mình, lý tính có cơ sở cảm tính vững vàng trong đầu
óc, trong bộ não, trong sự tập trung của các giác quan" và "Tinh thần là sản phẩm có
sau và hơn nữa là sản phẩm của trí tưởng tượng và trừu tượng, tinh thần phát triển
cùng với thể xác, với con người nói chung; tinh thần liên quan với cảm giác, với đầu
óc, với các giác quan của cơ thể".
- Sau khi luận chứng và khẳng định tồn tại là chủ thể, tư duy là thuộc tính, ý
thức là sản phẩm của bộ óc con người, L.Phoiơbắc đã tìm hiểu sâu hơn bản chất tự
nhiên – sinh học của con người. "Bản chất chung của con người là gì? Những nhân
tính cơ bản trong con người là gì? Đó là lý tính, ý chí và trái tim. Trong ý chí, tư duy
và tình cảm luôn chứa đựng bản chất tối cao, tuyệt đối của con người và mục đích
tồn tại của nó, con người tồn tại để nhận thức, yêu thương và mong muốn. Nhưng mục
đích của lý tính, của ý chí, của tình yêu là để làm cho con người trở thành người tự do".
Với luận điểm này, ông muốn chứng minh rằng, bản chất chung của con người là tổng
hoà mọi khát vọng chính trị, mọi năng lực nhận thức và nhu cầu tự nhiên – sinh học trong
vừa như một sản phẩm của văn hoá và lịch sử là cơ sở lý luận để L.Phoiơbắc xem
xét mối quan hệ giữa người và thần. Yếu tố quan trọng hàng đầu tạo tiền đề cho sự
xuất hiện tôn giáo đó là trạng thái tâm lý của con người. Đối với ông, Thượng đế
không phải là thực thể sinh lý hay thực thể vũ trụ, mà chỉ là một thực thể tâm lý.
- Dựa trên việc phân tích nguồn gốc phát sinh của tôn giáo, L.Phoiơbắc kết
luận: "Không phải Thượng đế đã sáng tạo nên con người theo hình dáng của mình
như đã miêu tả trong Kinh Thánh, mà chính con người đã sáng tạo nên Thượng đế
theo hình dáng của mình". Như vậy, có thể nói, L.Phoiơbắc đã truy tìm bản chất của
tôn giáo trong bản chất của con người. Ông viết: "Bản chất thần thánh không là cái gì
khác như là bản chất con người, bản chất đó đã được gột rửa, được giải phóng khỏi
những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý hiện thực, được khách
quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ. Bởi vậy, mọi sự xác
định về bản chất thần thánh đều có liên quan đến việc xác định bản chất con người".
- L.Phoiơbắc lên tiếng phản đối quan điểm của các nhà thần học cho rằng,
dường như phủ định Thượng đế là một bước dẫn tới sự tiêu diệt quan hệ đạo đức.
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 9
Tiểu luận Triết học
Ông cho rằng, tôn giáo đã xoá nhoà ranh giới quan hệ giữa người với người, đưa con
người thoát khỏi hạnh phúc trần gian; rằng, đạo đức và tôn giáo, niềm tin và tình yêu
là những cái đối lập nhau. Theo L.Phoiơbắc, tình yêu đồng loại có thể loại trừ sự
kính Chúa và ngược lại. Bởi vậy, để có một xã hội tốt đẹp thì phải tiến hành cải cách
tôn giáo.
- Quan niệm về con người trong triết học L.Phoiơbắc như đã trình bày ở trên,
theo đánh giá của A.G.Spirkin: "Chính là điểm xuất phát cho những lập luận của
C.Mác về con người và bản chất con người". Bởi vì, bằng những quan niệm đó,
người mở đường cho chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá tan mâu
thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm khách quan, "Đưa một cách
không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua" và khẳng định một cách dứt khoát
rằng: "Tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học. Nó là cơ sở trên đó con người
chúng ta – bản thân chúng ta cũng là sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng". Có thể
trị - xã hội của con người; tuyệt đối hóa và coi tình yêu là bản chất con người .Theo
C.Mác và Ph.Ăngghen, so với các nhà duy vật "thuần túy", L.Phoiơbắc đã có ưu
điểm lớn là ông thấy rằng, con người cũng là một "đối tượng của cảm giác" chứ
không phải là "hoạt động cảm giác được". Tuy nhiên, hạn chế lớn của ông là không
xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện
sinh hoạt hiện có của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người
đúng như họ đang tồn tại trong thực tế. Nghĩa là, L.Phoiơbắc không bao giờ tới được
những con người hành động đang tồn tại thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại ở một sự
trừu tượng. Ở ông, con người "hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt" chỉ đóng
khung trong tình cảm thôi và hoàn toàn không biết đến những "quan hệ con người"
nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá. C.Mác và Ph.Ăngghen đã
đưa ra kết luận rằng: "Khi Phoiơbắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ đề cập tới
lịch sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật. Ở
L.Phoiơbắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau". Trung tâm thế
giới quan mới do C.Mác và Ph.Ăngghen đặt nền móng là chủ nghĩa duy vật về lịch
sử. Theo các ông, con người không phải bước ra từ sâu thẳm của giới tự nhiên thành
một sinh thể tự nhiên phổ quát như L.Phoiơbắc nhận định, mà nó trở thành như vậy
trong tiến trình lịch sử. Con người khác với động vật trước hết không phải bởi nó có
ý thức, tư duy như L.Phoiơbắc nói, mà bởi sự bắt buộc phải lao động sản xuất nhằm
tạo ra cho mình các phương tiện sống. Trong quá trình sản xuất đó, con người khám
phá ra sức mạnh của tự nhiên, chuyển nó thành lực lượng lao động xã hội, tạo nên
nội dung của lịch sử thế giới. Sự khám phá đó được tiến hành bởi các cá nhân có
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 11
Tiểu luận Triết học
những nhu cầu tự nhiên – xã hội xác định và những năng lực hoạt động của họ trong
phạm vi những hình thái kinh tế – xã hội được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ
khác. Với nghĩa như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: "Những tiền đề xuất phát của
chúng tôi, không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều; đó là những
tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là
những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất
trong đời sống vật chất của con người.
- L.Phoiơbắc không nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa đời sống vật chất
và đời sống tinh thần, chính vì vậy, ông không thể lý giải được một cách duy vật quá
trình bộ óc của con người sản sinh ra ý thức và tư duy như thế nào.
Phê phán quan điểm này của L.Phoiơbắc, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định
một cách dứt khoát rằng: "Sự sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm và ý thức
thì lúc đầu là trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật
chất của con người – ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực. Ở đây, những quan niệm, tư
duy, sự giao tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của
các quan hệ vật chất của họ… Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý
niệm, v.v. của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng
như họ bị quy định bởi một sự phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất của
họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi
nhất của những sự giao tiếp đó". Như vậy, chúng ta thấy rằng, giữa L.Phoiơbắc và
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác có sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về con
người. L.Phoiơbắc cho rằng, tư duy, ý thức là sản phẩm trực tiếp, tất yếu của bộ óc
con người. C.Mác và Ph.Ăngghen không phủ nhận ý kiến này, song các ông đi một
bước xa hơn khi nhấn mạnh rằng: "Những cá nhân nhất định, hoạt động sản xuất theo
một phương thức nhất định, đều nằm trong những quan hệ xã hội và chính trị nhất
định". Do vậy, tư duy, ý thức còn là sản phẩm của những mối quan hệ đó, là sự phản
ánh sinh động đời sống xã hội. Từ đó, có thể kết luận rằng: "Những cá nhân là như
thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ".
- "Hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người", L.Phoiơbắc đã đi đến
kết luận duy tâm rằng, động lực vận động của lịch sử xã hội là sự thực hiện những
khát vọng cá nhân, mà cụ thể là tính ích kỷ của con người; còn lịch sử nhân loại
chính là sự thay thế lẫn nhau của các hình thức tôn giáo.
Với kết luận như trên, L.Phoiơbắc đã dành cho chủ nghĩa duy tâm và thần học
nơi ẩn nấp khá an toàn. Nghiên cứu quá trình vận động của lịch sử xã hội loài người
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 13
Tiểu luận Triết học
hạ thuận hòa". Với trái tim nhân hậu và lòng nhiệt thành cứu vớt con người của
mình, Phoiơbắc không hiểu được rằng, trong một xã hội đầy bất công, đầy khổ đau
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 14
Tiểu luận Triết học
và bất hạnh thì việc loại bỏ tôn giáo là điều không tưởng. Và giấc mơ thiên hạ thuận
hòa cũng không thể nào thực hiện được.
Triết học cổ điển Đức không chỉ là thành tựu to lớn của tư tưởng nhân loại mà
nó còn là tiền đề lý luận của triết học Mac nói riêng, chủ nghĩa Mac nói chung.
Phương pháp biện chứng duy vật - linh hồn của chủ nghĩa Mac - là kết quả cải biến
chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc .
2.3. Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với sự ra đời của triết
học Mác
Từ những ưu điểm và hạn chế trong chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc như
trên ta có thể thấy được vai trò của nó đối với triết học Mác: Triết học Phoiơbắc như
là một cội nguồn tư tưởng của triết học Mác, triết học tôn giáo của Phoiơbắc đã có
ảnh hưởng khá sâu sắc đến sự hình thành chủ nghĩa vô thần của Mác, đã giúp Mác
thoát khỏi triết học duy tâm huyền bí của Hêghen để đến với chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa vô thần. Những người phê phán chủ nghĩa Mác hiện nay lại đem đối lập nó
với chủ nghĩa nhân đạo của Phoiơbắc, kiến giải tư tưởng này theo tinh thần phủ định
tầm quan trọng của những đối lập giai cấp, song tư tưởng nhân đạo của của Phoiơbắc
không phải là sự phủ định tầm quan trọng của việc phân chia xã hội thành các giai
cấp đối kháng mà ông chống lại “sự phân đôi theo kiểu đối kháng” đó của xã hội,
theo Phoiơbắc cái này mâu thuẫn với bản tính của con người, với bản chất đích thực
của con người và như vậy nó là sự tha hóa của con người. Lần đầu tiên trong lịch sử
triết học, triết học Mác đã tạo ra được sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn
chính nhờ vào quan điểm coi con người là trung tâm của Phoiơbắc. Nhưng ở
Phoiơbắc con người chỉ mới thuần túy về mặt sinh vật, chưa phải con người với tính
cách là chủ thể hoạt động cải tạo thế giới. Mác đã tiếp nối quan điểm đó và từ đó tìm
ra các phương tiện, các biện pháp để cải tạo thế giới bằng cách mạng, lấy hoạt động
thực tiễn cải tạo xã hội, cải tạo thế giới của con người là điểm xuất phát và thông qua
luận quan trọng cho sự hình thành triết học Mác. Tuy nhiên, Mác và Ăngghen chỉ
tiếp nhận những hạt nhân hợp lý, phê phán những hạn chế, lọc bỏ tất cả những yếu tố
bất hợp lý của họ như tính duy tâm khách quan, tính bảo thủ (Hêghen) phương pháp
nhìn nhận siêu hình về xã hội (Phoiơbắc ).
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 16
Tiểu luận Triết học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học phần 1: Đại cương về lịch sử triết học – Khoa lý luận chính trị
tiểu ban triết học trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Ts Bùi Văn Mưa
(chủ biên )
2. Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1, NXB Khoa học xã hội, HN, 2002.
3. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo
trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB
CTQG, H, 1999.
4. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Bộ Giáo dục và Đào tạo), NXB CTQG, H, 2002.
Nguyễn Anh Tuấn – Lớp đêm 1 K22 17