Khoa: Kinh doanh thương mại
“Giải pháp logistics nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh cho Công
Ty TNHH Phát Triển Công Nghệ
Và Thương Mại Thủ Đô”
SV: Đoàn Thị Nhung
1
Khoa: Kinh doanh thương mại
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách
hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa, dịch vụ trong nước
và quốc tế. Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu trong
thập kỷ vừa qua và đang được bán và phân phối hàng ngày đến các ngõ
nghách của thế giới. Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự
tăng nhanh của hàng hóa, dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô
cũng như là tính phức tạp cho các hoạt động kinh doanh của mình. Trong
những năm gần đây quản trị logistics được ghi nhận như một thành tố quan
trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức.
Logistics hỗ trợ hoạt động marketing và mang lại lợi thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Nó giúp phối hợp các biến số marketing-mix, gia tăng sự hài
lòng của khách hàng, trực tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận
trong dài hạn. Một hệ thống logistics hiệu quả và kinh tế cũng tương tự như
một tài sản hữu hình cho công ty. Nếu một công ty có thể cung cấp sản phẩm
cho khách hàng của mình một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất thì có
thể thu được lợi thế về thị phần so với đối thủ cạnh tranh, điều này có thể giúp
cho việc bán hàng ở mức chi phí thấp hơn nhờ vào hệ thống logistics hiệu quả
hoặc cung cấp dịch vụ khách hàng với trình độ cao hơn do đó tạo ra uy tín.
Mặc dù không tổ chức nào chỉ ra phần vốn quý này trong bảng cân đối tài sản
nhưng cần phải thừa nhận rằng đây là phần tài sản vô hình giống như bản
quyền, phát minh, sáng chế, thương hiệu…
tranh cho doanh nghiệp, công ty đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác
hậu cần và đã đạt được những thành tựu đàng kể. Tuy nhiên, các hoạt động
này còn tồn tại một số hạn chế. Chính vì vậy “Giải pháp logistics nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh cho Công Ty TNHH Phát Triển Công Nghệ Và
Thương Mại Thủ Đô” là đề tài mà em lựa chọn nhằm tìm ra một số giải pháp
thích hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác hậu cần trên cơ sở thực
trang hoạt động hậu cần của công ty.
SV: Đoàn Thị Nhung
3
Khoa: Kinh doanh thương mại
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Qua nghiên cứu quá trình thực hiện các nghiệp vụ hậu cần trong hoạt
động sản xuất kin doanh của nhà máy trên cơ sở lý luận đã học, xem xét thực
trạng của công ty và rút ra kết luận. Đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh logistics của công ty.
1.3. Phạm vi nghiên cứu:
Với kiến thức và khả năng của một sinh viên còn nhiều hạn chế về
mặt kinh nghiệm thực tế và thời gian nghiên cứu nên em chỉ thu thập dữ liệu
từ năm 2007 trở lại đây. Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn đề
tìm hiểu những hạn chế trong hoạt động logistics của công ty TNHH Phát
Triển Công Nghệ Và Thương Mại Thủ Đô để từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty trên thị trường Hà Nội.
1.4. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của đề tài gồm 4 phần:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trong chương 1 tôi nêu lên tổng
quát tính cấp thiết của hoạt động logistics đối với các doanh nghiệp hiện nay
nói chung và đối với công ty TNHH Phát Triển và thương Mại Thủ Đô nói
riêng, mục tiêu là nghiên cứu thực trạng công ty và đưa ra giải pháp phù hợp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty.
- Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh logistics của doanh nghiệp:
2.1. Khái quát năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
2.1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh logistics và tính tất yếu khách quan
của việc nâng cao năng lực cạnh tranh
a. Khái niệm cạnh tranh
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay thì cạnh tranh là một quy luật
tất yếu. Trên thương trường thì cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh
nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm đuợc sự chấp nhận và lòng
trung thành của khách hàng. Cạnh tranh là tiền đề của sự tiến bộ và phát triển
bởi càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ
cung cấp cho khách hàng sẽ càng có chất lượng tốt hơn. Hay nói cách khác,
cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu đối với những đồng tiền
mồ hôi công sức của họ, cạnh tranh hình thành và tồn tại trong nền kinh tế thị
trường với tư cách là một quy luật kinh tế khách quan.
Có nhiều khái niệm về cạnh tranh: “ Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất
lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp khác”
hay “ cạnh tranh tạo ra chỗ đứng cho các doanh nghiệp trên thị trường, tạo ra
mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp với khách hàng, tạo sự trung thành
của khách hàng đối với doanh nghiệp” . Cạnh tranh hiểu theo nghĩa đơn thuần
đó là sự ganh đua bằng những cách thức khác nhau để đạt được thắng lợi
thông qua sự thừa nhận của những người khác.
Cac- Mac cho rằng: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, là sự
đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm gianh giật những điều kiện thuận
lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch”.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là điều kiện và là yếu tố
kích thích sản xuất kinh doanh, là động lực sản xuất phát triển, tăng năng suất
lao động và tạo đà phát triển của xã hội. đồng thời cạnh tranh là quy luật
khách quan của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, là nội dung của cơ chế vận
động thị trường: Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng
nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng gay
SV: Đoàn Thị Nhung
vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hoá hay giá cả ngày càng
thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lí hàng tồn kho,
SV: Đoàn Thị Nhung
7
Khoa: Kinh doanh thương mại
tốc độ giao hàng, hợp lý hoá quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và
bán thành phẩm. Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng
mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh. Trong thời gian đầu, logistics chỉ
đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới mang lại hiệu quả
cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình phát triển logistics đã được
chuyên môn hoá và phát triển hơn. Như vậy, tư tưởng của logistics là một
khoa học nghiên cứu các tính chất quy luật của các hoạt động cung ứng và
đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá trình chính yếu
được tiến hành đúng mục tiêu.
Theo hội đồng quản trị logistics của Mỹ thì : “Logistics là quá trình
hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động và dự trữ một cách hiệu quả
của vật liệu thô, dự trữ trong quá trình sản xuất, thành phẩm và thông tin từ
điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những nhu cầu của khách
hàng”. Các chuyên gia về marketing và logistics cũng có định nghĩa tương
tự. Như vậy, logistics là một hệ thống bắt đầu từ nguồn cung cấp vật liệu và
kết thúc khi đã phân phối hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng. Tham gia
hệ thống logistics bao gồm nhiều tổ chức. Các trung gian thương mại thực
hiện các hoạt động logistics trong kênh phân phối. Vậy logistics kinh doanh
thương mại là quá trình hoạch định, thực thi, và kiểm tra dòng vận động hàng
hoá, dich vụ và thông tin từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng thông
qua các hành vi thương mại nhằm thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách
hàng và thu được lợi nhuận.
Thông qua định nghĩa chúng ta nhận thấy: Logistics là quá trình
quản trị, là chức năng quản trị cơ bản của doanh nghiệp thương mại, kinh
doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics; Logistics thương mại là
năng lực cạnh tranh còn yếu, rất nhiều doanh nghiệp đã không thể đứng vững
trước sự thay đổi của nền kinh tế. Nguyên nhân trước hết phải nói đến sự yếu
kém về nguồn lực tài chính, kinh nghiệm kinh doanh, hệ thống cơ sở hạ tầng
vật chất kỹ thuật lạc hậu, vận chuyển không thông suốt, chi phí vân chuyển
cao, thủ tục giao nhận, thủ tục hải quan còn rườm rà, ít doanh nghiệp có chiến
lược kinh doanh riêng của mình Điều này làm cho chi phí sản xuất tăng lên
dẫn đến hàng hoá sản xuất trong nước không cạnh tranh được với hàng hoá
của nước ngoài. Nguyên nhân thứ hai là cơ chế quản lý: Quy định lỗi thời
SV: Đoàn Thị Nhung
9
Khoa: Kinh doanh thương mại
chậm thay đổi làm giảm hiệu năng hoạt động. Hệ thống quản lý hành chính
giải quyết các công việc còn chậm chạp làm tăng thêm chi phí doanh nghiệp.
Sự yếu kém trong công tác đào tạo nguồn nhân lực đã làm cho chất lượng đội
ngũ cán bộ kém hiệu quả, ảnh hưởng đến năng suất lao động và hiệu quả hoat
động sản xuất kinh doanh. Trước thực trạng này thì việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất yếu. Thực chất của năng lực cạnh
tranh đó là tạo ra một hay nhiều những lợi thế hơn so với các đối thủ như: Giá
cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, thương hiệu…
2.2 Các hoạt động tạo nên năng lực cạnh tranh logistics của doanh nghiệp
Bên cạnh những chiến lược cạnh tranh đang được sử dụng rất phổ biến
như giá cả, sản phẩm có thể nói dịch vụ logistics đã và đang trở thành một
trong những vũ khí cạnh tranh lợi hại cho các doanh nghiệp. Việc đảm bảo
cung cấp cho khách hàng nhưng hàng hóa tôt nhất, chất lượng sản phẩm cao
nhất, giá cả hợp lí cùng những hàng hóa tốt nhất, chất lượng sản phẩm cao
nhất, giá cả hợp lí cùng những dịch vụ trước, trong và sau bán hoàn hảo với
chi phí thấp nhất tạo cho doanh nghiệp có thêm những cơ hội thu hút thêm
khách hàng, mở rộng thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và
cao hơn nữa là nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thực tế hiện
nay cho thấy, khi dịch vụ logistics chưa phát triển hầu hết các doanh nghiệp
tranh rất cao ở cả thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế thì quá
trình t ìm nguồn cung ứng là hết sức quan trọng. Xuất phát từ nhu cầu của các
đối tác phải đảm bảo sản phẩm có chất lượng cao, đúng thông số kỹ thuật, giá
cả hợp lý buộc các doanh nghiệp phải tự tìm kiếm các nguồn cung ứng có độ
tin tưởng cao. Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các chỉ
tiêu doanh nghiệp đã đề ra. Do vậy tìm được nguồn cung ứng có chất lượng
tốt, giá cả phù hợp, thời gian cung cấp kịp thời, giảm tới mức thấp nhất các
chi phí phát sinh sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể giảm chi phí sản xuất, giảm
giá thành sản xuất sản phẩm để có thể cạnh tranh, đồng thời cung cấp cho
khách hàng chất lượng dịch vụ hậu cần tốt nhất. Thực hiện được các yếu tố
trên sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu về doanh số, thị phần và lợi
nhuận, là cơ sở giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường.
2.2.3. Nghiệp vụ vận chuyển
SV: Đoàn Thị Nhung
11
Khoa: Kinh doanh thương mại
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu sự tác động rất lớn
của hoạt động vận chuyển. Vận chuyển ra đời nhằm khắc phục hạn chế, sự
cách biệt từ nơi sản xuất và đến nơi tiêu dùng, do vậy hoạt động vận chuyển
phải đảm bảo tính linh hoạt, sự ổn định và cân đối về lợi ích. Một trong những
tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng cơ bản đó là tốc độ, độ ổn định và tính linh
hoạt trong cung ứng hàng hóa cho khách hang. Thời gian và độ ổn định trong
cung ứng hàng hóa cho khách hang, thời gian và độ ổn định trong cung ứng
hàng hóa chủ yếu do vận chuyển quyết định chính. Vì vậy, tốc độ và độ ổn
định là những mục tiêu chủ yếu của vận chuyển hàng hóa. Quản trị vận
chuyển đáp ứng tốt các mục tiêu về dịch vụ sẽ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu cần
mua hàng của khách, phát triển doanh thu, nâng cao năng lực cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Ngoài ra, chi phí vận chuyển có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí
của cả hệ thống hậu cần. Do vậy trong suốt quá trình vận chuyển nên sử dụng
đảm bảo chất lượng của hàng hóa, giảm mức thấp nhất của hao hụt hàng hóa,
tận dụng diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất các loại thiết bị và lao
động kho, tạo điều kiện thực hiện tốt công tác nhập hàng và phát hang.
Có thể nói, hiện nay nghiệp vụ hậu cần đã trở thành một yếu tố hết
sức quan trọng trong hoat động sản xuất kinh doanh của bất kì một doanh
nghiệp nào. Thực hiện tốt các nghiệp vụ hậu cần với chi phí thấp nhất sẽ giúp
cho các dịch vụ trước, trong và sau bán của doanh nghiệp đươc hoàn thiện
hơn. Cùng với việc kết hợp các chính sách về giá, về sản phẩm, phân phối và
xúc tiến từ đó tạo nên vũ khí cạnh tranh cho danh nghiệp, giúp doanh nghiệp
thực hiện các chỉ tiêu về thị phần, doanh số, lợi nhuận và cao hơn nữa đó là
nâng cao năng kực cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh logistics của doanh
nghiệp
Như đã phân tích ở trên, logistics đóng vai trò quan trọng trong
việc xác lập vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, qua đó nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Làm thế nào để có thể đánh giá năng lực cạnh
tranh hậu cần của doanh nghiệp? Chúng ta phải đo lường các kết quả hậu cần
để có thể đánh giá và kiểm soát hậu cần, qua đó đánh giá năng lực cạnh tranh
logistics của doanh nghiệp. Hệ thống các chỉ tiêu đo lường hậu cần bao gồm:
SV: Đoàn Thị Nhung
13
Khoa: Kinh doanh thương mại
đo lường kết quả bên trong, đo lường kết quả bên ngoài, đo lường toàn bộ
chuỗi cung ứng.
2.3.1. Chỉ tiêu đo lường kết quả bên trong:
Đo lường kết quả bên trong tập trung vào các hoạt động và mục đích
đặt ra trước đó. Các chỉ tiêu đo lường kết quả bên trong: Dịch vụ khách hàng,
chi phí, năng suất lao động và thiết bị, quản lý tài sản.
Đo lường chất lượng dịch vụ khách hàng: là một trong những yếu tố
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hiện
Chìa khoá để quản trị chi phí logistics là phân tích tổng chi phí mà nhà
quản trị tìm cách giảm tổng chi phí xuống mức chi phí hiệu quả nhất.
Đo lường năng suất và thiết bị: (Các chỉ tiêu đo lường)
- Khối lượng hàng nhập, hàng xuất trên một nhân viên logistics.
- Khối lượng hàng nhập, hàng xuất trên tổng tiền lương của bộ phận
logistics.
- Năng suất của thiết bị trong ngày/tháng/năm/quý…
Chỉ tiêu đo lường quản trị tài sản: Logistics là lĩnh vực cần nhiều vốn
đầu tư cho cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật như kho bãi, trung tâm
phân phối, thiết bị kho, phương tiện vận tải, máy tính và hệ thống thông tin,
hàng hoá dự trữ… các tiêu chuẩn đo lường công tác quản lý tài sản tập trung
vào nội dung về vòng quay sử dụng vốn của các tài sản cố định và lưu động
đó:
- Hệ số hoàn trả vốn đầu tư.
- Hệ số khấu hao thiết bị kho, phương tiện vận tải.
- Dữ trữ bình quân.
- Tốc độ chu chuyển dự trữ.
- Lượng dự trữ dư thừa, không bán được.
2.3.2. Chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động bên ngoài
Trong khi các chỉ tiêu bên trong là quan trọng để kiểm tra, theo dõi tổ
chức chi tiết, thì các chỉ tiêu đo lường kết quả bên ngoài là cần thiết để theo
dõi, hiểu và phát triển khách hàng, hiểu sâu sắc những đổi mới từ những
ngành khác. Đo lường kết quả bên ngoài bao gốm: Chỉ tiêu đo lường mong
SV: Đoàn Thị Nhung
15
Khoa: Kinh doanh thương mại
đợi khách hàng, xác định chuẩn mực thực tiễn tốt nhất, đo lường toàn diện
chuỗi cung ứng, thoả mãn khách hàng/chất lượng.
Chỉ tiêu đo lường mong đợi khách hàng: Cấu thành quan trọng kết
quả hậu cần là đo lường chính xác những mong đợi của khách hàng. Chỉ tiêu
toàn bộ quá trình như: Quá trình thoả mãn khách hàng và quá trình quản trị
thời gian. Các chỉ tiêu đo lường nguyên nhân tập trung váo các hoạt động xác
định bên trong quá trình.
Kết quả Biểu tượng
Thoả mãn khách hàng/chất lượng
Hoàn thiện đơn đặt hàng hoàn
hảo
Thoả mãn khách hàng
Chất lượng sản phẩm
Thời gian cung ứng
Chi phí bảo hành, trả lại hàng và
tiền thưởng
Thời gian đáp ứng yêu cầu khách
hàng
Thời gian thực hiện đơn đặt
hàng
Thời gian chu kỳ xác định
nguốn/thực hiện
Thời gian đáp ứng chuỗi cung
ứng
Chi phí
Tổng chi phí chuỗi cung ứng Năng suất giá trị gia tăng
Tài sản
Thời gian chu kỳ tiền - tiền Độ chính xác của dự báo
Số ngày dự trữ Hao mòn vô hình
Kết quả tài sản Sử dụng công suất
Bảng 2.1: Khung đo lường chuỗi cung ứng thống nhất.
Thoả mãn khách hàng/chất lượng: Các chỉ tiêu thoả mãn khách
hàng/chất lượng đo lường khả năng của doanh nghiệp cung cấp toàn bộ sự
thỏa mãn cho khách hàng. Các chỉ tiêu thỏa mãn khách hàng/chất lượng dựa
3.1. Phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Để thu thập những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài em đã
sủ dụng 3 phương pháp:
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động kinh doanh hiện
trạng của công ty trong quá trình thực tập và trong điều kiện cho phép.
SV: Đoàn Thị Nhung
18
Khoa: Kinh doanh thương mại
- Phương pháp phỏng vấn các chuyên gia: Dưới sự giúp đỡ tận tình
của các cán bộ, nhân viên trong công ty và đặc biệt là anh Trịnh Tuấn Hưng-
Trưởng phòng kỹ thuật, anh Phạm Tuấn Anh- phụ trách phòng hậu cần, chị
Nguyễn Thị Mai Hương- nhân viên phòng kế toán. Và các anh chị khác trong
công ty đã nhiệt tình trả lời các câu hỏi mà em đưa ra giúp em thu thập được
các thông tin cần thiết về tình hình thực trạng các hoạt động logistics của
công ty trong 3 năm 2007, 2008, 2009. Tren cơ sở các câu hỏi đã chuẩn bị
trước có lien quan đến hoạt động logistics của công ty TNHH Phát Triển
Công Nghệ Và Thương Mại Thủ Đô, tiến hành phỏng vấn trực tiếp các cán
bộ, nhân viên trong công ty để biết được thông tin cần thiết phục vụ cho mục
đích nghiên cứu. Cụ thể, tiến hành phỏng vấn tìm hiểu các nội dung như các
thông tin giới thiệu chung về công ty, cơ cấu tổ chức, tình hình nhân lực, đánh
giá của các chuyên gia về các nội dung trong các hoạt động logistics của công
ty.
- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra: Để làm rõ vvaans đề mà thông
tin từ phỏng vấn chuyên gia chưa rõ thì ta có thể sử dụng phiếu điều tra, cụ
thể:
+ Xác định mục đích điều tra: Làm rõ công tác hoạt động logistics của công
ty TNHH Phát Triển Công Nghệ Và Thương Mại Thủ Đô.
+ Xác định đối tượng điều tra: Cán bộ lãnh đạo và nhân viên trong công ty.
Từ đó xács định số lượng phiếu điều tra sẽ phát (25 phiếu).
chỉnh hợp lý.
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các vấn đề và kết quả sau thống kê
so sánh để có những đánh giá về các vấn đề giúp tìm ra những phương hướng
đúng đắn và phù hợp nhất trong cách giải quyết vấn đề.
3.2. Giới thiệu về công ty TNHH Phát Triển Công Nghệ Và Thương Mại
Thủ Đô
3.2.1. Thông tin về doanh nghiệp
Công ty TNHH Phát Triển Công Nghệ Và Thương Mại Thủ Đô được
thành lập theo luật doanh nghiệp Việt Nam với giấy phép đăng ký kinh doanh
số: 0102005393, do phòng đăng ký kinh doanh sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội
SV: Đoàn Thị Nhung
20
Khoa: Kinh doanh thương mại
cấp ngày: 20 tháng 05 năm 2002. Công ty được thành lập dưới loại hình công
ty TNHH.
Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Phát Triển Công Nghệ Và
Thương Mại Thủ Đô.
Trụ sở chính: Số 10, ngách 20, ngõ Tân Lạc, Đại La, Hai bà Trưng,
TP Hà Nội.
Điện thoại: +84 436280708. Fax : 04-
36281254.
Email:[email protected]
Website:http://capital.com.vn
Chất lượng sản phẩm hàng hóa của công ty luôn được chú trọng và đặt
lên hàng đầu. Đặc biệt là sản phẩm chủ lực của công ty là máy tính đã được
khẳng định trên thị trường Hà Nội nói riêng và thị trường trong nước nói
chung. Ví dụ như năm 2007, Công ty đã trúng thầu dự án máy tính cá nhân rất
lớn, cung cấp hơn 3000 máy tính cho hơn 300 trường THCS của Việt Nam.
Hay vào năm 2008, công ty TNHH Phát Trển Công Nghệ Và Thương Mại
Thủ Đô trúng thầu trong việc cung cấp 1400 máy tính cho các điểm bưu điện,
Máy tính để bàn:
+ Bố mẹ học sinh cấp 2,3 có thu nhập TB khá vì lứa tuổi này có sự đòi
hỏi về máy tính.
- Đối với thị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Doanh nghiệp xác
định rằng đây là một thị trường lớn và có nhiều tiềm năng. Theo những số
SV: Đoàn Thị Nhung
22
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN GIÁM
ĐỐC
PHÒNG
KINH
DOANH
PHÒNG
TÀI
CHÍNH
KẾ
TOÁN
PHÒNG
KỸ
THUẬT
PHÒNG
HẬU
CẦN
PHÒNG
CHĂM
SÓC
KHÁCH
HÀNG
PHÒNG
tính:1000VNĐ
Tên khách hàng lớn
Số lần đặt hàng
trong năm 2009
Tổng giá trị đơn đặt
hàng
1. Ban cơ yếu
chính phủ M2
3 3.256.000
SV: Đoàn Thị Nhung
23
Khoa: Kinh doanh thương mại
2. Bộ giao thông
vận tải 2 852.000
3. Công ty điện
toán và truyền số liệu
VDC
4 2.142.000
4. Công ty bảo
hiểm Petrolimex 6 3.012.000
5. Cục bảo vệ thực
vật 3 1.105.000
6. Tổng công ty
dầu khí Việt Nam 4 2.023.000
7. Tổng cục du
lịch 2 1.346.000
8. Trường Cao
Đẳng Nghề Phú Thọ 3 907.000
9. Trường Đại
Học Lao Động 5 2.003.000
95.737.875 VNĐ, và lợi nhuận sau thuế đạt được là trên 70.941.765VNĐ,
công ty đã thể hiện sự phát triển nỗ lực vượt bậc của công ty. Dự kiến năm
2010, doanh nghiệp còn đạt được thành quả cao hơn nữa, và doanh nghiệp
đang cố gắng trở thành công ty lớn trên thị trường máy tính ở VN, nâng cao
khả năng cạnh tranh của công ty lên mức cao nhất.
3.2. Thực trạng hoạt đông logistics của công ty TNHH Phát Triển
Thương Mại Và Phát triển Thủ Đô
3.3.1. Xử lý đơn đặt hàng
Xử lí đơn đặt hàng của nhà máy là một quá trình từ khi tiếp nhận đơn
đặt hàng của khách hàng để tìm hiểu các yêu cầu và xem xét khả năng thực
hiện yêu cầu (tiếp nhận hay không tiếp nhận). Nếu tiếp nhận sẽ thực hiên các
công việc nhập hàng, nhập kho thực hiện quá trình bán hàng theo hợp đồng và
đơn hàng.
Quá trình xử lí đơn hàng của công ty:
SV: Đoàn Thị Nhung
25