Hoàn thiện quy trình nhập khẩu linh kiện bóng đèn chiếu sáng từ thị trường Trung Quốc tại công ty Cổ phần thiết bị chiếu sáng Đức Hà - Pdf 26

GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
MỤC LỤC
Phần trình bày chung : 7
1.Điều khoản về tên hàng 7
2.Điều khoản về chất lượng 7
3.Điều khoản về số lượng 8
4.Điều khoản về bao bì, mã kí hiệu 8
5.Điều khoản về giá cả 8
6.Điều khoản giao hàng 9
7.Điều khoản thanh toán 9
8.Điều khoản về khiếu nại 10
9.Điều khoản về bảo hành 10
10.Điều khoản về trường hợp miễn trách 10
11.Điều khoản về trọng tài 11
3.3.3 Thực trạng công tác đàm phán và kí kết hợp đồng nhập khẩu của công ty 41
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Thương
Mại, khoa Thương mại Quốc tế đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt quãng
thời gian em học tập tại trường. Hơn thế nữa em chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Nguyễn Quốc
Thịnh. Trong suốt thời gian nghiên cứu làm khóa luận em luôn nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn
tận tình của thầy, đặc biệt là sự động viên về mặt tinh thần của thầy đã giúp em vững tâm và vượt
qua được những giai đoạn khó khăn để hoàn thành được đề tài nghiên cứu của mình
Em cũng xin được cảm ơn ban lãnh đạo Công ty Cổ Phần thiết bị chiếu sáng Đức Hà,
các anh các chị trong công ty, đặc biệt là các anh chị cán bộ Phòng kinh doanh đã hướng
dẫn em trong suốt thời gian thực tập tại Công ty và nhiệt tình giúp em hoàn thành đề tài
nghiên cứu.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Thân Mai Phương

Danh mục bảng biểu, hình vẽ
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty thiết bị chiếu sáng Đức Hà
Bảng 3.1 Các mặt hàng công ty đang sản xuất
Bảng 3.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Bảng 3.3 Kim ngạch nhập khẩu của công ty năm 2008 - 2012
Bảng 3.4 Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu theo từng thị trường
Bảng 3.5 Cơ cấu nhập khẩu theo nhóm mặt hàng qua các năm.
Hình 3.2 Quy trình nhập khẩu ở CTCP thiết bị chiếu sáng Đức Hà
Bảng 4.1 Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2013 – 2015
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1) TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
thương mại thế giới WTO, sự kiện này đã đưa nước ta vào một thời kỳ mới, giúp nền kinh
tế đất nước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt. Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước nói
chung và các doanh nghiệp thuộc ngành điện tử nói riêng đã có được những cơ hội rất lớn
để hội nhập và mở rộng thị trường mục tiêu. Công ty Cổ phần thiết bị chiếu sáng Đức Hà
là một trong những công ty sản xuất bóng đèn chiếu sáng tại Việt Nam, trong những năm
qua, Đức Hà đã có những bước phát triển vượt bậc không những về chủng loại, chất
lượng sản phẩm mà cả về năng lực kinh doanh xuất nhập khẩu đáp ứng nhu cầu của nền
kinh tế thị trường và xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, với trình độ phát
triển công nghệ hiện tại, công ty mới chỉ tự cung cấp được nguồn nguyên liệu đơn giản.
Với các sản phẩm sản xuất, yêu cầu công nghệ cao, độ chính xác lớn và các quy định về
chất lượng chặt chẽ, công ty vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu chất lượng cao và mua máy
móc thiết bị từ các nước phát triển khác. Do vậy, việc hoàn thiện quy trình nhập và nâng
cao khả năng quản lý hàng nhập khẩu là rất quan trọng đối với công ty trong thời điểm
hiện tại.Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, em đã thực tập tại bộ phận xuất nhập khẩu

trình nhập khẩu linh kiện bóng đèn chiếu sáng từ thị trường Trung Quốc của công ty Cổ
phần thiết bị chiếu sáng Đức Hà" đề tài của em đi sâu nghiên cứu về thị trường Trung
Quốc
1.3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là góp phần đưa ra những giải pháp nhằm giảm thiểu những hạn chế
thiếu sót trong quy trình nhập khẩu, cũng như khắc phục được những mặt còn tồn tại
trong thực tế hoạt động nhập khẩu tại công ty cổ phần thiết bị chiếu sáng Đức Hà.
 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu về các nhân tố tác động tới hoàn thiện quy trình nhập khẩu tại công ty Đức

- Phân tích và đánh giá về việc hoàn thiện quy trình nhập khẩu của công ty Đức Hà giai
đoạn 2009 – 2012
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
2
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
- Kiến nghị các biện pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu của công ty Đức Hà giai đoạn
2013 – 2015
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
• Đối tượng nghiên cứu: quy trình nhập khẩu của công ty Đức Hà giai đoạn 2009 –
2012
• Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Công ty Cổ phần thiết bị chiếu sáng Đức Hà
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: số liệu được sử dụng để phân tích trong chuyên đề là
từ năm 2007 đến năm 2012, định hướng giải pháp đến năm 2015.
- Giới hạn về nội dung : Quy trình nhập khẩu linh kiện thiết bị chiếu sáng từ thị trường
Trung Quốc của công ty
- Mặt hàng nghiên cứu: Các loại thiết bị chiếu sáng
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Phương pháp thu thập dữ liệu

CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN QUY
TRÌNH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu
Khái niệm: Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá là loại hợp đồng mua bán đặc biệt hay hợp
đồng mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở
các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là một bên xuất khẩu (bên bán) có nghĩa vụ
chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (bên mua) một tài sản
nhất định gọi là hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
Đặc điểm: Từ khái niệm về hợp đồng nhập khẩu hay hợp đồng ngoại thương thì chúng ta
có thể hiểu nó là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có
nhân tố nước ngoài mà thông qua đó thiết lập thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. Do vậy hợp đồng nhập khẩu có những đặc điểm
sau:
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
4
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
- Các bên tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các thương nhân có
quốc tịch khác nhau và trụ sở thương mại ở các nước khác nhau.
- Hàng hoá đối tượng cuả hợp đồng được dịch chuyển từ nước này sang nước khác hoặc
giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước khác nhau.
- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển giao
quyền sở hữu về hàng hoá từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau.
- Đồng tiền thanh toán hợp đồng NK phải là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên trong
quan hệ hợp đồng.
2.1.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu
Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng khác với nguồn luật áp dụng.Luật điều chỉnh hợp đồng
có thể là luật của bên bán hoặc bên mua, có thể là luật của bên thứ ba trung gian hoặc áp
dụng một công ước quốc tế như Công ước của liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế. Ngoài ra hợp đồng nhập khẩu còn chịu sự điều chỉnh của tập quán thương

một thời gian dài được nhiều nước công nhận và áp dụng rộng rãi trong những hoạt động
thương mại nhất định. Thông thường thói quen thương mại được công nhận là tập quán
thương mại quốc tế khi thỏa mãn Điều kiện :
. Thói quen được phổ biến, áp dụng thường xuyên và có tính chất ổn định
. Thói quen duy nhất về từng vấn đề ở từng địa phương, từng quốc gia hay từng khu vực
. Thói quen có nội dung cụ thể rõ ràng dựa vào đó có thể xác định được quyền và nghĩa
vụ của các bên
Tập quán thương mại quốc tế chung và phổ biến là: Điều kiện thương mại quốc tế
(incoterm 2000 ), quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 500 ), quy
tắc về nhờ thu (URC)
- Tiền lệ pháp về thương mại quốc tế : về bản chất là sử dụng các phán quyết đã tuyên bố
trước đây của toàn án hoặc trọng tài trên cơ sở phân tích và vận dụng nó như một cơ sở
pháp lý để các cơ quan tư pháp giải quyết tranh chấp về sau. Đối với một số quốc gia thì
tiền lệ pháp không được coi là nguồn của pháp luật, nhưng đối với một số nước như Anh,
Mỹ thì tiền lệ pháp được coi là nguồn của pháp luật.
2.1.3 Kết cấu và nội dung của hợp đồng nhập khẩu
Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của hàng hóa hoặc tùy thuộc vào tập quán buôn bán
giữa các bên mà nội dung của hợp đồng có thể khác nhau. Có những hợp đồng đưa ra rất
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
6
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
nhiều điều khoản, điều kiện hết sức chặt chẽ và chi tiết, nhưng có những hợp đồng chỉ
đưa ra những điều khoản cơ bản nhất và đơn giản. Nhưng thông thường một hợp đồng
mua bán quốc tế gồm 2 phần: phần trình bày chung (representation) và điều khoản điều
kiện (terms and conditions)
Phần trình bày chung :
1. Số hợp đồng ( Contract No.)
2. Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng.
3. Tên và địa chỉ của các bên tham gia kí kết hợp đồng
4. Những định nghĩa dùng trong hợp đồng.

trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đôí tượng mua bán và liên quan đến trách nhiệm, nghĩa vụ
của bên mua bên bán. Điều khoản này nhằm nói lên mặt “ lượng” của hàng hoá được giao
dịch, điều khoản này bao gồm các vấn đề đơn vị tính số lượng ( hoặc trọng lượng) của
hàng hoá, phương pháp quy định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng.
4.Điều khoản về bao bì, mã kí hiệu
Trong điều khoản này các bên giao dịch thường phải thoả thuận với nhau với những vấn
đề yêu cầu về loại bao bì, hình dáng, kích thước, số lớp bao bì, phương thức cung cấp bao
bì và giá cả của bao bì.
- Phương pháp quy định chất lượng của bao bì: Quy định chất lượng bao bì phải phù hợp
với một phương thức vận tải nào đó hay quy định cụ thể các yêu cầu về bao bì như: yêu
cầu về vật liệu làm bao bì, hình thức, kích cỡ, số lớp và cách thức cấu tạo của bao bì, yêu
cầu về đai nẹp của bao bì.
- Phương thức xác định giá cả của bao bì: Việc tính giá cả của bao bì có thể có những
trường hợp sau:
• Giá của bao bì được tính vào giá cả của hàng hoá, không tính riêng.
• Giá cả của bao bì do bên mua trả riêng.
5.Điều khoản về giá cả
Trong hợp đồng nhập khẩu, giá cả cần được căn cứ vào tính chất của hàng hoá và tập
quán buôn bán mặt hàng đó trên thị trường quốc tế để xác định rõ đơn vị giá cả
-Mức giá: Giá cả trong hợp đồng nhập khẩu thường là giá quốc tế.
-Phương pháp tính giá: Như giá cố định, giá quy định sau, giá linh hoạt, giá di động.
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
8
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
-Điều kiện giảm giá: Với mục đích là khuyến khích mua hàng thì có các nguyên nhân
giảm giá sau: do trả tiền sớm, giảm giá dịch vụ, giảm giá để đổi hàng cũ để mua hàng
mới, giảm giá đối với thiết bị đã dùng rồi, do mua hàng với số lượng lớn
-Điều kiện cơ sở giao hàng tương ứng: Trong hợp đồng NK, mức giá bao giờ cũng ghi
bên cạnh một điều kiện cơ sở giao hàng nhất định, bởi vì giá cả sẽ khác nhau ở những
điều kiện giao hàng khác nhau.

• Phương thức chuyển tiền (Transfer)
• Phương thức nhờ thu .
• Phương thức tín dụng chứng từ (L/C)
+ Điều kiện đảm bảo hối đoái: Trong giai đoạn hiện nay, các đồng tiền trên thế giới
thường sụt giá hoặc tăng giá. Để tránh những tổn thất có thể xảy ra, các bên giao dịch có
thể thoả thuận những điều kiện đảm bảo hối đoái. Đó có thể là điều kiện đảm bảo vững
vàng hoặc điều kiện đảm bảo ngoại hối.
8.Điều khoản về khiếu nại
Khiếu nại là một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất hoặc thiệt hại mà bên
kia đã gây ra, hoặc về những sự vi phạm đều đã được cam kết giữa hai bên.
Nội dung có bản của điều kiện khiếu nại bao gồm các vấn đề sau:
• Thể thức khiếu nại: Khiếu nại phải làm bằng văn bản ghi rõ tên hàng, số lượng, trọng
lượng hàng hoá bị khiếu nại, địa điểm mau hàng, lý do khiếu nại, yêu cầu cụ thể của
người mua về việc giải quyết khiếu nại.
• Thời hạn khiếu nại: được quy định phụ thuộc trong hợp đồng.
• Quyền hạn và nghĩa vụ các bên liên quan.
9.Điều khoản về bảo hành.
Người bán phải cam kết trong thời gian bảo hành hàng hoá sẽ đảm bảo các tiêu chuẩn
chất lượng đặc điểm kỹ thuật phù hợp với điều kiện. Người mua phải tuân thủ nghiêm
chỉnh theo sự hướng dẫn của người bán về sử dụng và bảo dưỡng. Nếu trong giai đoạn đó,
người mua phát hiện thấy khuyết tật của hàng hoá thì người bán phải sửa chữa miễn phí
hoặc giảm giá hoặc giao hàng thay thế.
10.Điều khoản về trường hợp miễn trách
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
10
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
Theo văn bản số 421 của Phòng Thương mại Quốc tế, một bên được miễn trách nhiệm về
việc không thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ của mình, nếu bên đó chứng minh
được rằng:
• Việc không thực hiện được nghĩa vụ là do một trở ngại ngoài sự kiểm soát của bên đó.

nói chung, các chính sách thương mại, thái độ và quan điểm của nước xuất khẩu, điều
kiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải và tình hình giá cước, uy tín của nước xuất
khẩu ….
- Nghiên cứu dung lượng thị trường: cần xác định nhu cầu thật của khách hàng, kể cả
lượng dự trữ, xu hướng biến động của nhu cầu trong từng thời kỳ, từng vùng, từng khu
vực. Cùng với việc nắm bắt khả năng cung cấp của thị trường, bao gồm việc xem xét đặc
điểm, tính chất, khả năng của sản phẩm thay thế….
Các nhân tố ảnh hưởng đến dung lượng thị trường có thể chia làm 3 nhân tố:
+ Các nhân tố làm dung lượng thị trường biến đổi có tính chu kỳ
+ Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến dung lượng thị trường: tiến bộ khoa học kỹ thuật và
chính sách nhà nước
+ Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đến dung lượng thị trường: Bao gồm các hiện tượng
đột biến về cung, cầu, các yếu tố tự nhiên như thiên tai, động đất bão lụt và các yếu tố xã
hội chính trị…
- Nghiên cứu giá cả hàng nhập khẩu trên thị trường Quốc tế: giá cả là biểu hiện bằng tiền
của hàng hoá, biểu hiện các mối quan hệ tổng hợp trong nền kinh tế. Giá cả bao gồm
cả giá trị về hàng hoá, bao bì, chi phí vận chuyển, bảo hiểm các chi phí khác đã
thoả thuận. Nghiên cứu giá cả hàng hoá bao gồm giá thời điểm, và dự đoán xu hướng biến
động của giá, trong sự tác động nhân tố ảnh hưởng
2.1.1.2 Lựa chọn đối tác
Trong kinh doanh nhập khẩu, việc nghiên cứu mặt hàng và thị trường giúp cho doanh
nghiệp chọn được bạn hàng kinh doanh phù hợp với hoạt động của mình. Để lựa chọn
đối tác giao dịch, các doanh nghiêp cần nghiên cứu thị trường nhằm thu nhập các thông
tin về thị trường. Khi lựa chọn đối tác giao dịch, doanh nghiệp phải lựa chọn xem mình sẽ
giao dịch với quốc gia nào và doanh nghiệp nào.
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
12
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
- Khi lựa chọn một quốc gia sẽ cung cấp hàng nhập khẩu, doanh nghiệp cần nghiên cứu
tình hình sản xuất của nước đó, chất lượng mặt hàng, tập quán và chính sách thương mại

hiệu bao bì của hàng hoá đó. Điều này nghĩa là doanh nghiệp phải tìm ra thị trường phù
hợp và các mặt hàng mà kinh doanh có lợi nhất. Qua đó, doanh nghiệp cân nhắc số lượng
mua bao nhiêu để đáp ứng được nhu cầu trong nước.
- Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ: đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu, hàng hoá nhập về không phải chỉ để tiêu dùng cho bản thân doanh nghiệp, mà
là để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất tiêu dùng trong nước. Chính vì thế, việc xác định
đúng khách hàng và thị trường tiêu thụ là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng tới kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Giai đoạn này phải trả lời được các câu hỏi:
+ Bán hàng ở thị trường nào?
+ Khách hàng là ai?
+ Bán ở thời điểm nào?
+ Khối lượng bao nhiêu?
Lúc này hoạt động Maketing có tác dụng hỗ trợ, đặc biệt là việc xác định đâu là thị
trường chính với những hàng hoá mà doanh nghiệp nhập khẩu. Từ đó có những biện pháp
để xúc tiến với những đối tượng này.
- Xác định giá cả mua trong nước: giá cả hàng hoá bán trong nước phải được phân tích
dựa trên cơ sở phân tích giá Quốc tế, giá cả chào hàng, điều kiện thanh toán hoặc giá cả
loại hàng trước đây đã thu được. Mức giá bán này phải đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của
doanh nghiệp, đặc biệt với những hàng hoá đã từng xuất hiện ở thị trường trong nước,
hiếm, thì giá cao hơn một chút để tăng lợi nhuận là có thể chấp nhận.
- Đề ra các biện pháp thực hiện: như ta đã biết, khi tiến hành lập phương án kinh doanh
các Công ty luôn vạch ra kế hoạch cụ thể cho công ty mình. Đó là cơ sở tốt để có thể thực
hiện có hiệu quả.Việc đề ra các biện pháp cụ thể phải dựa trên các phân tích của các bước
trước đó, đồng thời phải dựa vào hàng hoá, đặc điểm và khả năng của doanh nghiệp trong
từng giai đoạn cụ thể để đề ra những biện pháp thực hiện cho phù hợp. Bước này cần
tránh xa dời thực tế, đề ra các biện pháp không sát với tình hình thực cụ thể của thị
trường, của hàng hoá và doanh nghiệp mà phải đề ra các biện pháp thực hiện như:
+ Tổ chức nhập khẩu hàng hoá.
+ Kiểm định chặt chẽ hàng hoá về chất lượng, số lượng và thời gian bàn giao hàng.
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2

Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
15
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
* Đàm phán điện thoại: Đây là phương thức đàm phán thực hiện rất rễ dàng và nhanh
chóng đảm bảo được tính thời điểm. Nhưng chi phí đàm phán lại cao, và thương lượng
qua điện thoại phải hạn chế về mặt thời gian cho nên các bên không thể trình bày hết một
cách chi tiết. Người đàm phán qua điện thoại yêu cầu phải có tính sáng tạo, phân tích,
phán đoán, và phản ứng linh hoạt, đặc biệt đàm phán qua điện thoại sẽ gặp khó khăn khi
phải sử dụng người phiên dịch. Hình thức này chỉ được sử dụng trong những trường hợp
cần thiết, hoặc trong những trường hợp mà mọi điều kiện đã thoả thuận xong, chỉ cần xác
nhận một trong vài thông tin … Sau khi trao đổi bằng điện thoại cần có thư xác nhận
nội dung đã đàm phán thoả thuận.
* Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Đây là hình thức đàm phán tối ưu, giúp giải
quyết nhanh mọi quan hệ trong giao dịch và nhiều khi là lối thoát cho các hình thức đàm
phán khác đã kéo dài quá lâu mà không có hiệu quả. Hình thức này thể hiện được thiện
chí của các bên, tạo ra sự hiểu biết thông cảm lẫn nhau, nên dễ đi đến thành công và duy
trì được mối quan hệ lâu dài với nhau. Tuy nhiên đây cũng là hình thức đàm phán gay go
nhất, yêu cầu người tiến hành đàm phán phải am hiểu về nghiệp vụ, hàng hoá và đối
phương, nhanh chóng có biện pháp đối phó trong mọi trường hợp hoặc quyết định ngay
tại chỗ khi thấy cần thiết. Với hình thức này thì tốn kém về chi phí đi lại, đón tiếp ăn ở….
Đây là hình thức đàm phán thường sử dụng trong những hợp đồng lớn, hợp đồng có tính
chất phức tạp hay những hợp đồng buôn bán đầu tiên.
Tiến hành đàm phán, giao dịch.
- Bước 1: Hỏi giá, chào hàng và đặt hàng.
+ Hỏi giá: là việc người mua đề nghị người bán cho biết giá cả và các điều thương
mại cần thiết khác để mua hàng. Mục đích cơ bản của hỏi giá là để được các báo giá với
thông tin đầy đủ nhất. Do đó có nội dung cơ bản của một giá cả là yêu cầu người cung
cấp cho biết các thông tin chi tiết về hàng hoá, quy định, phẩm chất, chất lượng bao bì,
điều kiện giao hàng, giá cả, điều kiện thanh toán và điều kiện thương mại khác.
+ Chào hàng: là một đề nghị kết hợp đồng mua bán hàng hoá được chuyển cho

Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh
ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán (bên XK) có nghĩa vụ chuyển
quyền sở hữu cho một bên khác gọi là bên mua (bên NK) một tài sản nhất định gọi là
hàng hóa. Bên mua có nghĩa vô nhận hàng và trả tiền hàng theo như hợp đồng. Luật
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
17
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
thương mại Việt Nam quy định hợp đồng nhập khẩu bắt buộc phải là văn bản. Hợp đồng
này phải được ký theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật. Nội dung của hợp đồng phải
ghi rõ các điều khoản như trên và phải rõ ràng, đầy đủ hoàn chỉnh, ngắn gọn xúc tích,
chính xác về chính tả và thông tin. Kết thúc hợp đồng cần ghi rõ số bản hợp đồng, giá trị
pháp lý, thời hạn hiệu lực của hợp đồng, cùng chữ ký và con dấu của mỗi bên, và là cơ sở
pháp lý quan trọng để khiếu nại khi bên đối tác không thực hiện toàn bộ hay từng phần
nghĩa vụ của mình đã không thoả thuận trong hợp đồng. Hợp đồng ngày càng quy định
chi tiết, rõ ràng, dễ hiểu càng dễ thực hiện và ít xảy ra tranh chấp.
2.2.3 Thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Tổ chức thực hiện hợp đồng. Sau khi ký kết hợp đồng, đơn vị kinh doanh với tư cách là
một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Việc thực hiện hợp đồng phải tuân
thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo được quyền lợi quốc gia và uy tín của
doanh nghiệp mình. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp phải cố gắng
tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch. Việc thực hiện hợp
đồng được tiến hành theo trình tự sau:
2.2.3.1. Xin giấy phép nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để nhà nước quản lý nhập khẩu, mà thủ
tục xin giấy phép nhập khẩu ở mỗi nước là khác nhau. Ở Việt Nam, mọi doanh nghiệp
được thành lập hợp pháp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đều có quyền nhập
khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký. Nếu hàng hóa không thuộc danh mục các
hàng hoá bị cấm nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện thì doanh nghiệp được quyền
nhập khẩu mà không cần phải xin giấy phép nhập khẩu. Ngược lại, doanh nghiệp phải

hàng hóa thông dụng hay hàng hoá đặc biệt, vận chuyển trên tuyến đường bình thường,
vận chuyển một chiều hay hai chiều, chuyên chở theo chuyến hay liên tục.
- Ngoài ra còn căn cứ vào các điều kiện khác trong hợp đồng ngoại thương như: quy định
tải trọng tối đa của phương tiện, mức bốc dỡ, thưởng phạt bốc dỡ
2.2.3.4. Mua bảo hiểm cho hàng nhập khẩu.
Bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm về
những thiệt hại, mất mát, hư hỏng của đối tượng bảo hiểm với những rủi ro đã được thoả
thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo
Sinh viên: Thân Mai Phương Lớp: K45E2
19
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh Khoa: Thương Mại Quốc Tế
hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Trong buôn bán quốc tế hàng hoá
chủ yếu được chuyên chở bằng đường biển mà chuyên chở bằng hình thức này thường
gặp rủi ro và tổn thất lớn. Vì vậy bảo hiểm đường biển là loại hình bảo hiểm phổ biến
nhất hiện nay. Các đơn vị sau khi mua bảo hiểm của hàng hóa phải làm hợp đồng bảo
hiểm với công ty bảo hiểm.Tùy thuộc vào tính chất và đặc điểm của hàng hóa, điều kiện
vận chuyển mà mua bảo hiểm chuyến hay bảo hiểm bao.
- Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng từ một địa
điểm này đến một địa điểm khác ghi trong hợp đồng. Hợp đồng này thường áp dụng cho
lô hàng nhỏ, lẻ, vận chuyển không theo kế hoạch từ trước.
- Hợp đồng bảo hiểm bao: là hợp đồng bảo hiểm cho nhiều chuyến hàng trong một thời
gian nhất định (thường là một năm). Đây là hợp đồng bảo hiểm được ký kết một lần
nhưng có giá trị bảo hiểm cho nhiều chuyến hàng. Mỗi khi có chuyến hàng vận chuyển,
người bảo hiểm sẽ cấp cho người được bảo hiểm đơn bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo
hiểm. Nghiệp vụ mua bảo hiểm cho hàng hoá được tiến hành theo các khoản sau:
- Xác định nhu cầu mua bảo hiểm bao gồm:
+ Xác định giá trị mua bảo hiểm.
+ Xác định điều kiện bảo hiểm
- Xác định loại hình bảo hiểm.
- Lựa chọn công ty bảo hiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status