LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm qua, cùng với tiến trình hội nhập của nước ta vào các định
chế khu vực và trên thế giới với định hướng phát triển kinh tế quốc gia từ nay đến năm
2020. Các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng
phải đương đầu với nhiều thách thức lớn. Chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của nước ta có sự
thay đổi lớn. Với các doanh nghiệp thì ranh giới giữa thành công và thất bại trở nên rõ
ràng. Ngày nay tràn ngập các doanh ngiệp sản xuất ra cùng một loại hàng hóa, khách
có nhiều cơ hội lựa chọn nên việc sử dụng vốn lưư động sao cho có hiệu quả trở nên
quan trọng .Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn còn tồn đọng những mặt hạn chế.
Một số doanh nghiệp gặp không ít những khó khăn bởi trình độ quản lý chưa theo kịp
với đà của cơ cơ chế thị trường kèm theo là sự phản ứng kém linh hoạt với phương
thức và cách thức điều hành doanh nghiệp điển hình trong lĩnh vực tài chính. Các
doanh nghiệp còn lúng túng trong huy động, quản lý và sử dụng vốn. Bất kỳ doanh
nghiệp nào khi bắt tay vào sản xuất hay xem xét một phương án kinh doanh đều quan
tâm đầu tiên đến vốn kinh doanh của mình và sử dụng vốn một cách tiết kiệm. Muốn
vậy, công tác tài chính của doanh nghiệp phải được thực hiện một cách đầy đủ, chính
xác kịp thời và đảm bảo thực hiện đúng chế độ chính xác.
Xuất phát từ nhận thức trên, qua thời gian thực tập tại công ty,em đã chọn đề tài:
" Quản trị tài sản ngắn hạn của công ty cổ phần Mirea Fiber”
2.Mục đích nghiên cứu:
Từ thực tế học tập và thực tập tại Công ty cổ phần Mirea Fiber, tôi lựa chọn đề
tài:“ Quản trị tài sản ngắn hạn của công ty cổ phần Mirea Fiber”. Tôi mong rằng có
thể rút ra một số bài học kinh nghiệm hữu ích cho bản thân và cho Công ty cổ phần
Mirea Fiber trong việc phát triển các sản mới, có tính cạnh tranh cao, đáp ứng tốt nhu
cầu của khách hàng nói riêng và toàn xã hội nói chung. Trên thực tế đã có một số
nghiên cứu về quản trị tài sản nói chung nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về tài
sản ngắn hạn, và cũng chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về bộ sản phẩm của Công ty cổ
phần Mirea Fiber. Với các đặc điểm riêng của Công ty tôi thiết nghĩ cần một đề tài
nghiên cứu về vấn đề này.
1.1.Một số khái niệm cơ bản liên quan tới quản tri tài sản ngắn hạn của
doanh nghiệp.
1.1.1.Khái niệm tài sản ngắn hạn.
.Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tài sản cố định doanh nghiệp cần
phải có các tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được chia làm 2 bộ
phận: Tài sản ngắn hạn sản xuất và tài sản ngắn hạn lưu thông.
- Tài sản ngắn hạn sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ để đảm
bảo cho quá trình sản xuất được liện tục như: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu… và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như: Sản phẩm
dở dang, bán thành phẩm…
- Tài sản ngắn hạn lưu thông: Là những tài sản ngắn hạn nằm trong quá trình
lưu thông của doanh nghiệp như: Thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền,
vốn trong thanh toán…
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn sản xuất và tài sản ngắn
hạn lưu thông luôn thay thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên,
liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản ngắn hạn nhất định. Do đó, để
hình thành nên các tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất
định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi là số tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt
qua nhiều hình thái khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất, tài sản ngắn hạn từ hình
thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang,
sản phẩm hàng hóa khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền.
Đối với doanh nghiệp thương mại, sự vận động của tài sản ngắn hạn nhanh hơn
từ hình thái vốn bằng tiền chuyền qua hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển về hình
thái tiền. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không
ngừng, nên sự tuần hoàn của tài sản ngắn hạn cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có
tính chất chu kì tạo thành sự chu chuyển của tài sản ngắn hạn.
thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu tài sản ngắn hạn hợp lý tăng tốc độ luân chuyển tài
sản ngắn hạn.
Phân loại tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện
Dựa theo hình thái biểu hiện có thể chia tài sản ngắn hạn thành : tiền, hàng tồn
kho và các khoản phải thu
+ Tiền gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Tiền là
một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành
các tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh
nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định.
+ Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ phía khách hàng thể
hiện ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng,
cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau. Ngoài ra trong một số trường hợp
mua sắm vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho
người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng.
+Hàng tồn kho
- Nguyênvật liệu chính: Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự trữ cho sản
xuất, khi tham gia vào sản xuất chúng hợp thành thực thể của sản phẩm.
-Nguyên vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp
cho việc hình thành các sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản
phẩm, chỉ làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo
điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh thực hiện thuận lợi.
+ Nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh.
1.1.2.2.Kết cấu tài sản ngắn hạn.
Bên cạnh nghiên cứu các cách phân loại TSNH theo những tiêu thức khác nhau,
doanh nghiệp còn phải đánh giá, nắm bắt được kết cấu TSNH ở từng cách phân loại đó.
Kết cấu TSNH phản ánh các thành phẩm và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành phần trong
tổng số TSNH của doanh nghiệp. Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu TSNH
cũng không giống nhau. Việc phân tích kết cấu TSNH theo các cánh phân loại khác
nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về TSNH mà mình đang
hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp.
Nội dung chủ yếu của quản lý tài sản bằng tiền bao gồm các vấn đề chính sau
đây:
- Xác định mức dự trữ tài sản tiền mặt một cách hợp lý. Việc xác định mức tồn
trữ tiền mặt hợp lý có ý nghĩa quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh
toán bằng tiền mặt cần thiết trong kỳ, tránh được rủi ro không có khả năng thanh toán.
Giữ được uy tín với nhà cung cấp và tạo điều kiện cho doanh nghiệp chớp được cơ hội
kinh doanh tốt, tạo khả năng thu được lợi nhuận cao.
Để xác định mức tồn trữ tiền mặt hợp lý có nhiều cách như: Có thể dựa vào kinh
nghiệm thực tế, có thể sử dụng mô hình quản lý EOQ hoặc mô hình quản lý tiền mặt
Millerorr.
- Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu chi bằng tiền, doanh nghiệp cần phải xây
dựng các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu, chi đặc biệt là các khoản thu, chi
bằng tiền mặt để tránh sự mất mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp mưu lợi cho cá
nhân.
- Tất cả các khoản thu , chi bằng tiền mặt phải thông qua quỹ, không được chi
tiêu ngoài quỹ.
- Phải có sự phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế toán tiền
mặt và thủ quỹ. Việc xuất nhập khẩu quỹ tiền mặt hàng ngày do thủ quỹ tiến hành trên
cơ sở các phiếu thu, chi tiền mặt hợp thức và hợp pháp. Cuối ngày, thủ quỹ phải kiểm
quỹ, đối chiếu tồn quỹ với số liệu của sổ quỹ và kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch
thủ quỹ và kế toán phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử
lý kịp thời.
- Tăng tốc quá trình thu tiền và làm chậm đi quá trình chi tiền. Dự đoán được
thời gian chi trả, doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tiền mặt trôi nổi trên một số dư
tiền mặt nhỏ hơn.
- Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt. Xác định rõ đối tượng tạm
ứng, các trường hợp tạm ứng, mức độ tạm ứng và thời hạn được tạm ứng.
- Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho doanh
nghiệp.
ra liên tục, tránh sự gián đoạn do việc dự trữ gây ra.
- Giảm tới mức thấp nhất có thể được số vốn cần thiết cho việc dự trữ.
Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc dự trữ hàng tồn kho:
+ Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, công cụ, phụ thuộc vào: Quy mô
sản xuất, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, giá cả các loại vật tư được cung
ứng, khoảng cách giữa các doanh nghiệp và nhà cung ứng…
+ Đối với mức tồn kho sản phẩm dở dang, các yếu tố ảnh hưởng gồm: Đặc điểm
và các yêu cầu kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm, Thời gian hoàn
thành sản phẩm, trình độ tổ chức quá trình sản xuất…
+ Đối với mức tồn kho thành phẩm, hàng hóa thường chịu ảnh hưởng của các
yếu tố: Khối lượng sản phẩm tiêu thụ, sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, khả năng xâm nhập hay mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Để quản lí tốt vốn về hàng tồn kho phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ
phận quản lý trong doanh nghiệp như: Bộ phận cung ứng vật tư, bộ phận sản xuất, bộ
phận Marketing…
* Các chi phí liên quan đến dự trữ hàng tồn kho
- Chi phí đặt hàng: Bao gồm các chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển và chi
phí giao nhận hàng theo hợp đồng
- Chi phí lưu giữ: Là những chi phí liên quan đến việc thực hiện dự trữ hàng tồn
kho trong môt khoảng thời gian xác định trước. Chi phí lưu giữ bao gồm: Chi phí lưu
kho và chi phí baỏ quản, chi phí hư hỏng chi phí thiệt hại do hàng tồn kho bị lỗi
thời,giảm giá, biến chất, chi phí bảo hiểm, chi phí cơ hội về số vốn lưu giữ đầu tư vào
hàng tồn kho, chi phí trả lãi tiền vay để mua vật tư, hàng hóa dự trữ, chi phí thuế.
Chí phí lưu dự được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị hàng lưu kho hoặc
tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho trong một thời kỳ.
Chí phí lưu giữ cũng bao gồm: Chi phí biến đổi và chi phí cố định, gần như tất
cả các chi phí lưu giữ biến động tỷ lệ theo mức độ hàng tồn kho, chỉ có chi phí thuê
kho hoặc khấu hao các thiết bị hoạt động trong kho là tương đối cố định trong thời gian
ngắn. Vì vậy chi phí lưu giữ được xem như là một chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị
hàng tồn kho.
- Thứ hai: Sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu đối với các doanh nghiệp sản
xuất có tính chất thời vụ, trong những thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu
tiêu thụ lớn cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn.
- Thứ ba: Thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của doanh nghiệp: đối với
các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có đặc điểm sử
dụng lâu bền thì kỳ thu tiền bình quân thường dài hơn các doanh nghiệp ít vốn.
1.2.2.Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
1.2.2.1. Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn:
Việc sử dụng hợp lý tài sản ngắn hạn biểu hiện ở tăng tốc độ luân chuyển tài sản
ngắn hạn. Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử
dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp cao hay thấp
Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn được biểu hiện bằng hai chi tiêu: Số lần
luân chuyển và kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn.
- Số lần luân chuyển tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
L =
TSNHBQ
M
Trong đó:
L: Số lần luân chuyển tài sản ngắn hạn trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển tài sản ngắn hạn ở trong kỳ
TSNHBQ: Số tài sản ngắn hạn bình quân sử dụng ở trong kỳ được xác định
bằng phương pháp bình quân số học.
- Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
K=
L
N
Trong đó:
K: Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn
: Số tài sản ngắn hạn có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+) do ảnh
hưởng của tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn kỳ so sánh so với kỳ kế hoạch.
M
1
: Tổng mức luân chuyển tài sản ngắn hạn kỳ so sánh
K
1
, K
o
: Số lần luân chuyển tài sản ngắn hạn so sánh, kỳ gốc
L
1
, L
0
: Số lần luân chuyển tài sản ngắn hạn kỳ so sánh, kỳ gốc.
1.2.2.3. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu
tài sản ngắn hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu được tạo ra trên tài sản ngắn hạn bình quân
là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao và
ngược lại.
1.2.2.4. Hàm lượng tài sản ngắn hạn
Hàm lượng tài sản ngắn hạn =
tai sản ngắn hạn bình quân
Doanh thu
Là chỉ tiêu phản ánh mức đảm nhận về tài sản ngắn hạn trên doanh thu. Chỉ tiêu
này cao hay thấp cũng được đánh giá ở các ngành khác nhau. Đối với ngành công
nghiệp nhẹ thì hàm lượng tài sản ngắn hạn chiếm trong doanh thu rất cao, còn đối với
ngành công nghiệp nặng thì hàm lượng tài sản ngắn hạn chiếm trong doanh thu thấp.
1.2.2.5. Tỷ suất lợi nhuận tài sản ngắn hạn
TSNH của doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhân tố chủ quan:
Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan xuất phát
từ bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng
như toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Trong đó
phải kể đến một số nhân tố chủ yếu sau:
+ Vấn đề xác định nhu cầu TSNH: do xác định nhu cầu TSNH thiếu chính xác
dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh. Nếu thừa vốn sẽ gây
lãng phí còn nếu thiếu vốn thì lại không đảm bảo cho quá trình sản xuất. Điều này sẽ
ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng
tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
+ Việc lựa chọn phương án đầu tư: Là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra những
sản phẩm lao vụ ,dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng,
động thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng
vòng quay của tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và ngược
lại.
+ Do trình độ quản lý: Trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn
đến thất thoát vật tư hàng hóa trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, dẫ đến sử dụng lãng phí tài sản ngắn hạn,hiệu quả sử dụng vốn thấp.
+ Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở cuẩ các chính sách gây thất
thoát TSNH, điêu này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác tổ chức và sử
dụng TSNH của doanh nghiệp. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới
hiệu quả tổ chức và sử dụng TSNH, các doah nghiệp cần nghiên cứu xem xét một cách
kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của các nhân tố, tìm ra nguyên nhân của những mặt tồn tại
trong việc tổ chức sử dụng TSNH nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệu
quả của đồng TSNH mang lại là quả là cao nhất.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MIREA FIBER
số 051033000001 do UBND tỉnh Hưng Yên chuẩn y việc chuyển nhượng vốn và thành
lập công ty cổ phần với mức vốn điều lệ đăng ký là 103.830.540.000 đồng (tương
đương với 6.452.709 đôla Mỹ) và hình thức chuyển đổi là “Giữ nguyên giá trị doanh
nghiệp và bán một phần vốn của chủ đầu tư”. Công ty chính thức hoạt động theo mô
hình Công ty Cổ phần từ ngày 01 tháng 10 năm 2007.
Kể từ khi được thành lập dưới hình thức là chi nhánh của Công ty TNHH Mirae
Fiber VN cho đến khi trở thành công ty cổ phần, Công ty đã liên tục tăng trưởng,
không ngừng đầu tư mở rộng sản xuất và ngày càng lớn mạnh. Với những nỗ lực vượt
bậc, Công ty đã đạt được nhiều danh hiệu đáng tự hào trong những năm qua:
Bằng khen của UBND tỉnh Hưng Yên năm 2005;
Giải thưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam” do Thời báo kinh tế Việt Nam cấp
năm 2006
Chào bán cổ phần:Trong năm 2008 Công ty không có hoạt động chào bán cổ
phần.
Niêm yết cổ phiếu: Ngày 14/12/2007 cổ phiếu của Công ty Cổ phần Mirae
Fiber đã chính thức giao dịch tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
(TTGDCKHN). Cổ phiếu của Công ty niêm yết tại TTGDCKHN với mã KMF. Số
lượng cổ phần của Công ty niêm yết tại TTGDCKHN là 10.383.054 cổ phần, tương
đương trị giá là 103.830.540.000 đồng. Ngay ngày đầu chào sàn, cổ phiếu của Công ty
đã đạt mức giá cao nhất đạt 71.000 đồng/cổ phiếu. Trong năm 2008, khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến các nền kinh tế nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng,
tác động này đã ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam dẫn đến mức giá cổ
phiếu của Công ty đã rơi xuống dưới mệnh giá.
2.1.2.Chức năng nhiệm vụ của công ty cổ phần Mirea Fiber:
Hiện nay, Công ty đang sản xuất, gia công và kinh doanh các nhóm sản phẩm
chính là: tấm bông, tấm bông xâm kim, tấm bông chần, tấm bông dán, bông hạt, bông
sợi, các nguyên phụ liệu ngành dệt may… Nguyên liệu bông hóa học chủ yếu được
nhập khẩu, sau đó được xử lý chế biến qua các dây chuyền sản xuất các loại tấm bông
cao cấp (Padding) và dây chuyền sản xuất các loại tấm bông chần, tấm bông dán
(Quilting và Bonding). Công nghệ sản xuất khép kín, hiện đại, được nhập khẩu chủ yếu
quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm quyền của
Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị của Công ty có 05 thành viên, mỗi nhiệm
kỳ tối đa của từng thành viên là 05 năm. Chủ tịch Hội đồng quản trị do HĐQT bầu
ra.
- Ban Kiểm soát
Ban Kiểm soát là cơ quan có chức năng hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và
Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát do ĐHĐCĐ bầu ra và thay mặt ĐHĐCĐ giám sát mọi
mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, báo cáo trực tiếp ĐHĐCĐ.
Ban Kiểm soát của Công ty có 03 thành viên.
- Ban Tổng Giám đốc
Tổng Giám đốc là người điều hành và có quyền quyết định cao nhất về tất cả những
vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty. Tổng Giám đốc chịu trách
nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị về việc tổ chức sản xuất kinh
doanh, thực hiện các biện pháp để đạt được các mục tiêu phát triển Công ty do Đại hội
đồng cổ đông và Hội đồng quản trị đề ra.
Công ty có 01 Phó Tổng Giám đốc là người giúp việc cho Tổng Giám đốc và chịu
trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về các công việc được phân công, chủ động giải
quyết những vấn đề mà Tổng Giám đốc đã uỷ quyền và phân công theo đúng điều lệ
Công ty.
- Phòng Hành chính nhân sự
Có chức năng tham mưu giúp HĐQT và Tổng Giám đốc Công ty thực hiện các công
việc cụ thể sau:
+ Tổ chức nhân sự sản xuất;
+ Quy hoạch, đào tạo, đề bạt, miễn nhiệm và nhận xét công nhân viên hàng năm theo
đúng tiêu chuẩn và quy chế Công ty;
+ Thực hiện công tác tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động;
+ Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nội dung kỷ luật lao động của
công nhân viên các khối cơ quan Công ty.
- Phòng Tài chính - Kế toán
Là bộ phận chức năng giúp việc cho HĐQT và Tổng Giám đốc trong các lĩnh vực cụ
phun keo để kết dính các lớp màng bông với nhau. Tuỳ theo độ dầy của tấm bông mà
giàn phun sẽ kết dính các lớp màng bông dầy hay mỏng khác nhau đảm bảo các yêu
cầu kỹ thuật về độ kết dính của keo, độ đàn hồi và liên kết của tấm bông. Sau khi được
phun keo, các tấm bông sẽ được đưa sang máy sấy để sấy khô lớp keo rồi đưa lớp bông
vừa sấy sang máy ủi, máy ủi sẽ tạo cho tấm bông phẳng hơn, nhẵn hơn nâng cao tính
liên kết của các sợi bông với nhau và tạo ra loại bông tấm có chất lượng tốt đáp ứng
các yêu cầu kỹ thuật đặt ra.
Tấm bông xâm kim: Quy trình sản xuất bông xâm kim cũng gần giống như sản xuất
tấm bông. Nhưng do đây là loại sản phẩm có yêu cầu cao hơn nên trong giai đoạn tạo
màng bông, máy tạo màng được đặt ở chế độ tạo ra các lớp bông có độ dầy khác nhau,
sau đó các tấm bông được đưa sang máy xâm kim ép các tấm bông lại với nhau tạo ra
loại bông có độ dai hơn các loại tấm bông khác, có loại được qua các giai đoạn phun
keo, sấy khô và ủi, sản phẩm tạo ra sau đó được đóng gói và xuất cho khách hàng.
Bông hạt: Sợi xơ thô được kiểm tra trước khi đưa vào máy đánh bông, máy đánh
bông sẽ được cài đặt chế độ tạo bông hạt để tạo ra sản phẩm bông mới có những hạt
bông nhỏ xen lẫn các sợi bông, đảm bảo yêu cầu về độ trắng và các yếu tố kỹ thuật quy
định, sau đó bông hạt được đưa vào máy đóng gói thành phẩm.
Bông sợi: Quy trình sản xuất của bông sợi cũng được thực hiện như việc sản xuất
bông hạt tuy nhiên do cấu tạo sản phẩm khác nhau nên ở giai đoạn đánh bông, máy
được đặt ở chế độ tạo bông sợi.
QUY TRÌNH SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM TẤM BÔNG CAO CẤP
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Bảng2.1:Kết quả hoạt động kinh doanh: