GIÚP HỌC SINH CÓ KỸ NĂNG THỰC HÀNH – THÍ NGHIỆM
QUA MỘT SỐ BÀI DẠY Ở SINH HỌC 6
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để đáp ứng với sự bùng nổ thông tin, khoa học phát triển như vũ bão hiện
nay thì đòi hỏi ở mỗi người sự năng động sáng tạo, tích cực trong mọi tình
huống. Để có thể đào tạo được những con ngừơi như vậy thì nền giáo dục giữ
một vai trò vô cùing quan trọng, đặc biệt là ở nước ta, một nước đang trên đà
xây dựng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nền
giáo dục là làm thế nào để có thể cùng một lúc cung cấp được cho người học
lượng thông tin lớn phong phú và để thực hiện được nhiệm vụ này, thì nhà nước
cùng với ngành giáo dụckhông ngừng tăng ngân sách cho giáo dục mà đặc biệt
là thực hiện cải cách đổi mới chương trình SGK. Song song với việc đổi mới
chương trình SGK là sự đổi mới PP dạy học. Với phương hướng đã được chỉ rõ
“Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp dạy học chuyển từ việc truyền đạt kiến
thức thụ động thầy giảng trò ghi, sang hướng dẫn người học chủ động tư duy
trong quá trình tiếp cận tri thức. Dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu
nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp. Phát triển
được năng lực các nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh
trong quá trình học tập …”
Để đạt được những mục tiêu trên thì phương pháp dạy học trong nhóm,
phương pháp thực hành có ý nghóa to lớn trong quá trình giảng dạy chương trình
sinh học cấp II – Một bộ môn khoa học thực nghiệm. Đặc biệt, phương pháp thí
nghiệm thực hành của học sinh khi nghiên cứu tài liệu mới đóng vai trò rất
quan trọng.
Vậy “”Giúp học sinh có kỹ năng thực hành – thí nghiệm qua một số bài
dạy ở sinh học” là một vần đề mà hầu hết mà các giáo viên, đặc biệt là giáo
viên trẻ như tôi rất quan tâm.
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1. Thuận lợi:
o Đòa bàn phân bố giáo viên tương đối gần trường nên việc tìm gặp
trao đổi tương đối thuận tiện.
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở thực tiễn
2
Bộ môn sinh học ở trường THCS có từ lớp 6 đến lớp 9. Một trong những
kiến thức quan trọng của bộ môn này là GV phải phát huy kó năng thực hành
-thí nghiệm của học sinh khi nghiên cứu tài liệu mới đóng vai trò rất quan
trọng. Đây là nội dung chính mà đề tài đề cập tới.
Thực trạng việc hướng dẫn học sinh thí nghiệm thực hành khi nghiên cứu tài
liệu mới theo hướng tích cực hóa hoạt động người học trong chương trình sinh
học 6 gặp những khó khăn:
- Đồ dùng thí nghiệm chưa đầy đủ.
- Đồ dùng thí nghiệm lâu năm nên đã xuống cấp.
- Mất nhiều thời gian chuẩn bò.
- Chuẩn bò cho một tiết lên lớp tốn kém (phim trong, phiếu học tập, mẫu vật,
…)
- Theo đặc trưng bộ môn, sự chuẩn bò do học sinh tự làm ở nhà, giáo viên
không thể theo sát nên nhiều mẫu vật chuẩn bò chưa đạt yêu cầu.
- Số lượng học sinh trong lớp đông, học lực không đồng đều.
- Tiến hành thí nghiệm, quan sát, phân tích, tổng hợp để tìm ra kiến thức là
vấn đề rất mới mẻ đối với các học sinh lớp 6.
- Thao tác thí nghiệm chưa linh hoạt nên rất mất thời gian.
Qua phương pháp trò chuyện trao đổi với đồng nghiệp để có những kinh
nghiệm hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm đạt hiệu quả cao, tôi thu được
kết quả sau:
• Tổ chức hoạt động của học sinh, phân công hợp lí
• Kết hợp hợp lí các phương tiện dạy học.
• Chuẩn bò và hướng dẫn học sinh chuẩn bò trước khi lên lớp là
yếu tố quyết đònh thành công thí nghiệm học sinh và tiết học.
• Kết hợp khéo léo, linh hoạt các phương pháp dạy học trong quá
trình hướng dẫn học sinh thí nghiệm sẽ đạt hiệu quả cao, kích thích hoạt động
• Cắt ngắn cành mang hoa làm giảm khoảng cách vận chuyển.
• Cắt cuống hoa trong nước để bọt khí không làm tắt mạch dẫn.
• Chọn mực đỏ, nên lọc cặn.
• Nên làm trước giờ học ít nhất 60 phút, để thí nghiệm nơi có nắng.
- Bên cạnh đó giáo viên cần chuẩn bò các câu hỏi gợi mở để học sinh cần
phát hiện vấn đề cần giải quyết.
Ví dụ: trong bài “Quang Hợp” giáo viên đặt câu hỏi: Chất gì tác dụng với
dung dòch iot thì bò nhuộm màu xanh tím? Từ đó học sinh xác đònh phần là chế
tạo ra tinh bột rồi rút ra kết luận lá chỉ chế tạo ra tinh bột khi có ánh sáng.
- Ngoài ra, còn sử dụng phiếu học tập để học sinh ghi kết quả thí nghiệm
từ đó rút ra bản chất hiện tượng. Ví dụ: phiếu học tập.
4
Nhóm cây
Kích thước
Trước khi ngắt ngọn Sau khi ngắt ngọn
Ngắt ngọn
Không ngắt ngọn
- Hướng dẫn học sinh chuẩn biï là khâu không thể thiếu trước mỗi bài dạy có
thí nghiệm học sinh: thông báo mục tiêu của tiết học sắp tới, yêu cầu học sinh
nghiên cứu trước bài mới, nghiên cứu kó các thao tác thí nghiệm, chuẩn bò các
mẫu vật (cây trồng), thực hiện đúng các thao tác thí nghiệm làm trước ở nhà.
Như vậy tiết học sẽ bớt đi thời gian hướng dẫn thí nghiệm, học sinh chủ động
hơn trong hoạt động học tập, có trách nhiệm với việc tìm tòi kiến thức, kích
thích các em khám phá vấn đề cần giải quyết.
2.2. Xác đònh phương pháp dạy học:
- Để hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm thành công và đạt hiệu quả trong
tiết học thì xác đònh phương pháp dạy, sự phối hợp khéo léo, linh hoạt các
phương pháp dạy học đóng vai trò quan trọng quyết đònh một nửa thành công
tiết dạy.
- Phương pháp phải phù hợp, vận dụng linh hoạt, khéo léo các phương pháp
Ví dụ: Bài những điều kiện cho hạt nảy mầm.
Về chuẩn bò: Giáo viên làm thí nghiệm trước để đối chứng với thí nghiệm
học sinh.
Phiếu học tập
STT Điều kiện thí nghiệm Kết quả thí nghiệm
Cốc 1 10 hạt đỗ để khô
Cốc 2 10 hạt đỗ ngâm ngập
nước
Cốc 3 10 hạt đỗ để trên bông
ẩm
Cốc 4 10 hạt đỗ xấu để trên
bông ẩm
Cốc 5 10 hạt đỗ xấu để trên
bông ẩm tủ đá
Hệ thống câu hỏi:
Đèn chiếu, phim trong phiếu học tập trên
Học sinh: Mỗi nhóm chuẩn bò 5 cốc thủy tinh, số hạt đỗ tốt, một số hạt đỗ
xấu, bông, thùng đá.
IV. KẾT LUẬN
6
Từ kết quả nghiên cứu trên tôi rút ra một số kết luận sau:
- Phương pháp dạy học mới chính là quá trình giải quyết mâu thuẩn giữa
yêu cầu đào tạo con người Việt Nam mới với phương pháp dạy học theo kiểu
thuyết trình tràn lan, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo về mọi mặt. Trong đó
hương dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm đạt hiệu quà trong nghiên cứu tài liệu
mới là phương pháp quan trọng.
- Tuy nhiên với khó khăn hiện thời về phương tiện, thiết bò dạy học sẽ làm
cho tiến trình thí nghiệm chưa đạt hiệu quả tốt.
- Số lượng học sinh trong một lớp không quá đông để giáo viên có thể bao
quát lớp dễ dàng.