1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ TÂN
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ THỊT LỢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 62 62 01 15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Luận án sẽ được đánh giá trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp
tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ tháng năm 2015 Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trọng công cuộc xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
ở
các tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển như Nghệ An. Phát triển chăn nuôi là cách duy
nhất giúp người nghèo ở nông thôn thoát khỏi đói nghèo (Tuong, 2005). Chăn nuôi là
một trong những ngành mang lại thu nhập chủ yếu cho nông hộ (Eprecht, 2005).
Đóng góp của chăn nuôi vào giá trị sản xuất chiếm 24,4 % tổng giá trị sản xuất ngành
nông nghiệp năm 2007; 27% năm 2010 và 30,28% năm 2013. Đối với tỉnh Nghệ An tỷ
trọng ngành chăn nuôi chiếm 41,5 % giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (Sở Nông nghiệp
& PTNT tỉnh Nghệ An, 2013).
Nghệ An là một trong những tỉnh có số đầu lợn lớn nhất cả nước, năm 2011, đàn
lợn của Nghệ An với hơn 1,3 triệu con, chiếm 4,5% tổng đàn lợn của toàn quốc và 21%
vùng Bắc Trung bộ và DHMT (Tổng cục Thống kê, 2013). Tuy nhiên, sự tăng trưởng của
a) V không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Phần lớn lượng sản
phẩm lợn thịt sản xuất ra được tiêu thụ ở trong tỉnh (khoảng trên 70%), do vậy đề tài
tập trung nghiên cứu các hoạt động của chuỗi giá trị thịt lợn trong tỉnh Nghệ An.
b) V thời gian: Các dữ liệu, thông tin được sử dụng để đánh giá thực trạng sản xuất
thịt lợn ở địa phương, hộ chăn nuôi lợn được thu thập trong giai đoạn 2 năm 2011 –
2012, trong đó tập trung tìm hiểu tình hình sản xuất, tiêu thụ lợn thịt năm 2012. Các
giải pháp, đề xuất tháo gỡ khó khăn từ khâu sản xuất đến tiêu thụ để phát triển chuỗi
giá trị đến năm 2020.
c) V nội dung:
- Nghiên cứu chủ yếu các hoạt động dọc theo chuỗi bao gồm các tác nhân nhà
sản xuất, thương lái (thu gom), giết mổ, chế biến (giò, chả), buôn bán và tiêu thụ thịt
lợn trên địa bàn tỉnh.
- Trong kênh tiêu thụ nội tỉnh đề tài không tính toán các chỉ tiêu kinh tế (giá trị
gia tăng, giá trị gia tăng thuần, tỷ suất lợi nhuận/chi phí ) cho tác nhân là hộ chế biến
(giò, chả), thực tế tác nhân này tham gia một phần rất nhỏ trong chuỗi giá trị thịt lợn,
và thị trường tiêu thụ chủ yếu nội tỉnh có giá trị thành phẩm nhỏ, chủ yếu là hộ bán lẻ
không thường xuyên tại các chợ địa phương.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Về lý luận: Làm sáng tỏ và luận giải một số vấn đề lý luận về chuỗi giá trị thịt lợn
(CGTTL). Dựa trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các nhà
khoa học trên thế giới, một số tổ chức quốc tế và một số học giả của Việt Nam, Luận án đã
đúc rút các kinh nghiệm thực tiễn, đề xuất quan niệm về chuỗi giá trị thịt lợn. Xây dựng
được khung phân tích, hướng nghiên cứu cho chuỗi giá trị thịt lợn trên địa bàn tỉnh Nghệ
An và tổng hợp đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị thịt lợn.
- Về thực tiễn:
Xây dựng bản đồ chuỗi giá trị thịt lợn ở tỉnh Nghệ An, xác định được bốn kênh tiêu
thụ chính của chuỗi. Sản lượng thịt lợn được tiêu thụ ở thị trường ngoài tỉnh chiếm 30% và
5
mang lại tổng giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần cao hơn ở thị trường trong tỉnh.
được hình xuất phát từ các nhà chăn nuôi lợn. Tất cả các nhà sản xuất kinh doanh tham
gia chuỗi sản xuất thực phẩm an toàn phải đăng ký là hội viên của hiệp hội chăn nuôi
và họ phải tuân thủ đầy đủ các quy định của hiệp hội, chính sách của nhà nước.
Sáu bài học kinh nghiệm về phân tích chuỗi giá trị thịt lợn cho Việt Nam đã được
tổng kết đó là (1) Chính sách phát triển chuỗi giá trị thịt lợn của Mỹ và Nhật bản hướng
vào lợi thế so sánh của từng vùng, (2) Đổi mới hệ thống quản lý và chính sách, (3) Tăng
6
cường năng lực của các hiệp hội ngành hàng, (4) Coi trọng hỗ trợ phát triển công nghiệp
giết mổ, (5) Sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để can thiệp gián tiếp và điều tiết sản
xuất và tiêu thụ thịt lợn có hiệu quả, (6) Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Luận án giới thiệu khái quát tỉnh Nghệ An về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,
thành tựu kinh tế nổi bật của tỉnh. Đồng thời cũng nêu lên những lợi thế và hạn chế về
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Nghệ An trong phát triển chuỗi giá trị thịt lợn.
2.2. Phương pháp tiếp cận
Các phương pháp tiếp cận được áp dụng bao gồm: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận
thể chế, tiếp cận chuỗi giá trị và tiếp cận có sự tham gia.Với các cách tiếp cận này, tất
cả các thông tin được thu thập từ các tác nhân tham gia chuỗi giá trị lợn thịt và các yếu
tố khác có liên quan đều có sự tham gia chia sẻ, trao đổi của chính đối tượng thu thập,
nhờ đó tính xác thực, độ tin cậy của thông tin thu thập được nâng cao. Dựa trên kết quả
tổng quan, đặc điểm địa bàn nghiên cứu, phương pháp tiếp cận. Khung phân tích được
xác định như sơ đồ 2.1.
Thông tin
tiêu dùng và
sự phân phối
Mức độ liên kết
Tác động của
rủi ro
Điều kiện tự
nhiên và nhóm
các yếu tố đầu
vào
Nhu cầu thị trường
và sự biến động của
giá thịt lợn
Thu nhập
và thị hiếu
của người
tiêu dùng Nhân tố
ảnh hưởng
Yếu tố
đầu
vào
Sơ đồ 2.1. Khung phân tích chuỗi giá trị thịt lợn
7
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Lựa chọn điểm khảo sát
Đề tài lựa TP. Vinh, Hưng Nguyên, Đô Lương, Diễn Châu để nghiên cứu đại
đầu vào cộng với chi phí tài chính tăng thêm
- Giá trị gia tăng thuần hay lợi nhuận: NVA = VA –(W + T + FF +…)
- Tổng lợi nhuận và tổng thu nhập chuỗi: Tổng lợi nhuận bằng lợi nhuận đơn vị
nhân với lượng bán ra của mỗi tác nhân rồi tổng hợp lại. Tổng thu nhập chuỗi bằng giá
bán đơn vị nhân với lượng bán ra của mỗi tác nhân rồi tổng hợp lại.
8
CHƯƠNG 3. CHUỐI GIÁ TRỊ THỊT LỢN TỈNH NGHỆ AN
3.1. Thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ thịt lợn tỉnh Nghệ An
3.1.1. Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn của tỉnh
Số lượng lợn giai đoạn từ 2008 đến 2013 giảm dần, mức độ giảm bình quân
2,83%/năm, tốc độ giảm mạnh giai đoạn 2009-2011, số lượng lợn từ năm 2009 đến năm
2011 giảm còn 1.067.083 nghìn con, so với năm 2008 (giảm 104.219 nghìn con, tương
đương 8,89%), sự giảm này một phần do ảnh hưởng của dịch bệnh và do ảnh hưởng của
nền kinh tế nói chung, ảnh hưởng của lạm phát và giá cả vật tư hàng hóa leo thang nên đầu
tư vào chăn nuôi của người dân có phần giảm sút. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng dần
qua các năm, từ năm 2008 đến năm 2013 tăng trung bình là 3,99%/năm (Bảng 3.1).
Bảng 3.1. Số lượng lợn và sản lượng thịt hơi giai đoạn 2008-2013
Chỉ tiêu
2008
2009
2010
2011
2012
2013
TĐPT (%)
Số lượng
lợn (nghìn
con)
1.171.302
- Thu gom: Lợn của tỉnh Nghệ An được chu chuyển qua trung gian là thương
lái tại địa phương, phương tiện đi lại là xe môtô hoặc dắt bộ. Ngoài ra còn những
thương lái ngoài tỉnh đến mua, chủ yếu những thương lái này đến từ thành phố Hà
Nội, Hồ Chí Minh, Thanh Hóa…thường kết hợp với thương lái tại địa phương để mua
9
lợn hoặc mua trực tiếp từ người chăn nuôi.
- Tiêu thụ cuối cùng: Thịt lợn được phân phối đến người tiêu dùng thông
qua người bán buôn, bán lẻ tại các chợ trong tỉnh Nghệ An và ở các tỉnh
khác.
3.2. Thực trạng chuỗi giá trị thịt lợn tỉnh Nghệ An
3.2.1. Sơ đồ chuỗi giá trị thịt lợn
Lợn thịt từ chăn nuôi đi vào thị trường không chỉ qua một luồng mà đi qua nhiều
luồng với nhiều thành viên trung gian, các thành viên này cùng tham gia và chiếm lĩnh
thị phần trên thị trường (sơ đồ 3.1).
ngoài tỉnh
31,5
%
Thương lái
trong tỉnh
Bán lẻtrong tỉnh
Người
chế biến
Hộ giết
mổ
Tiêu
thụ
ngoại
tỉnh
Tiêu
thụ
nội
tỉnh
17%
21,5%
7%
2%
58,0%
58,0%
1,5%
móc hàm
BQ/kg móc
hàm
Tỷ trọng
(%)
Mua con giống
408.000
7.791
17,91
Chi phí thức ăn
1.726.774
34.814
80,05
Thuốc thú y
14.433
291
0,67
Chi phí sửa chữa chuồng trại
12.697
256
0,58
Chi phí lãi vay
5.059
102
0,23
Chi phí vận chuyển
5.257
106
0,24
Chi phí khác (điện, nước…)
7,55
14,08
Trọng lượng XC BQ/con
Kg/con
78,65
68,47
66,96
69,30
Thời gian nuôi BQ/lứa
Ngày
101,86
108,00
110,34
106,73
Số lứa nuôi/năm
Lứa
3,80
3,50
2,80
3,26
BQ số năm chăn nuôi lợn
Năm
10,00
15,27
15,36
13,50
Người nuôi lợn bán theo hình thức bán móc theo con, trọng lượng xuất chuồng
đối với lợn trung bình 69,30 kg/con, giá bán trung bình khoảng 2,5 triệu đồng/con
(khoảng 3,3 triệu đồng/con theo giá móc hàm). Các hộ đều bán cho người thu gom
(thương lái trong và ngoài tỉnh) chiếm 38,5% sản lượng của chuỗi giá trị, hộ giết mổ
3.2.2.2. Thương lái (người thu gom)
Người thu gom lợn (nội tỉnh) chủ yếu là người tại bản địa, bởi vì họ sẽ biết
được nhà nào nuôi lợn, lợn của nhà đấy có bình thường không? Địa bàn hoạt động của
họ thường là ở ngay trong xã, khi trong xã không còn lợn nữa thì họ mới phải buộc đi
mua ở các xã khác.
Thương lái ngoài tỉnh chủ yếu là nam giới, hầu hết xuất phát từ nông dân,
thường ở các tỉnh lân cận như Thanh Hóa, Hà Tĩnh…Họ có vốn, có phương tiện vận
chuyển, rất linh hoạt và mềm dẻo trong việc xác định giá và phương thức thanh toán.
Họ có nhiều kinh nghiệm trong mua, bán hiểu tâm lý người chăn nuôi. Tuy nhiên hành
vi mua bán của thương lái này theo tín hiệu của thị trường tiêu thụ ngoại tỉnh dễ đẫn
đến tình trạng “ được mùa mất giá và mất mùa được giá”.
Phần lớn các hộ thu gom đều là những hộ có thu nhập khá, có kinh nghiệm
buôn bán thịt lợn trung bình 11 năm (ít nhất 4 năm, cao nhất 20 năm). Hoạt động thu
mua của thương lái diễn ra gần như liên tục trong năm.
Thương lái dựa vào các chi phí hoạt động của họ và giá cả thị trường tại thời
điểm bán để xây dựng giá bán. Chi phí vận chuyển, thuê lao động, kiểm dịch thú y
trong quá trình mua bán chiếm 3,72% tổng chi phí. Chi phí giá đầu vào chiếm bình
quân 96,28 % tổng chi phí.
Sơ đồ 3.2. Tỷ lệ cung cấp sản phẩm đầu ra của thương lái
người
1,4
Lò mổ mua lợn từ nông dân (2%), từ thương lái (7%), Giá mua dao động từ
40-50 ngàn đồng/kg lợn hơi. Tình hình hoạt động của lò mổ qua các năm được trình
bày trong bảng 3.5.
Bảng 3.5. Khả năng hoạt động của lò mổ qua các năm (Bình quân/lò mổ)
Chỉ tiêu
Đơn vị
2010
2011
2012
Khả năng giết mổ
tấn/ngày
4,15
5,35
5,35
Thực tế giết mổ
tấn/ngày
0,97
0,99
0,98
Số ngày hoạt động bình quân
ngày/tháng
29,4
29,4
29,4
Hiệu suất giết mổ
%
37,64
38,26
Sản phẩm
Khối lượng (kg)
Giá bán (1000đ)/kg
Thịt móc hàm
71,58
1
Thịt thăn
4,17
90,5
2
Thịt mông
14,23
84,0
3
Thịt vai
13
74,0
4
Thịt ba chỉ
7,27
68,5
5
Xương sườn
6,13
70,0
6
Thịt chân giò
5,77
14
người bán lẻ trực tiếp mua lợn từ người chăn nuôi làm các công đoạn giết mổ và bán
lẻ chỉ khoảng 5,93%.
Theo kết quả điều tra thì trung bình hộ bán lẻ bán được nửa con lợn mỗi ngày
tương đương khoảng 35,8 kg thịt lợn móc hàm, Số ngày bán BQ/tháng của các hộ là
tương đối cao 27,9 ngày. Trong tổng chi phí của người bán lẻ thì chi phí mua lợn móc
hàm chiếm tỷ lệ lớn nhất, chiếm 92,28% trong tổng chi phí. Mỗi ngày BQ khối lượng
lợn móc được thu mua là 35,79 kg,với giá mua BQ là 62.840 đồng/kg.
Bảng 3.7. Mức tiêu thụ thịt lợn tính bình quân cho 1 hộ bán lẻ
Diễn giải
ĐVT
Số lượng
1. Khối lượng thịt bán BQ 1 ngày
kg
35,8
2. Số ngày bán BQ/tháng
ngày
27,9
3. Số tháng bán BQ/năm
tháng
12
Do những người bán lẻ do không trực tiếp giết mổ để bán lẻ mà họ mua móc
hàm từ những người giết mổ. Bảng 3.8 thể hiện doanh thu trung bình mỗi ngày những
người bán lẻ thu được từ khối lượng móc hàm thu mua trung bình là 35,8 kg/ngày.
Bảng 3.8. Doanh thu của người bán lẻ
Tính bình quân/một ngày bán Chỉ tiêu
78,3
313,51
Xương sườn
9,42
3,30
88,2
290,80
Thịt chân giò
10,7
3,75
78,8
295,11
Xương khác
6,82
2,39
60,0
14,32
Mỡ
13,97
4,89
22,0
107,57
Tổng doanh thu
2.545,57
Lãi
2.545,57 –(68.100 x 35,8 kg)
107,590
TDBQ
Kg/người /tháng
1,99
2,61
1,79
1,65
Tỷ lệ % số hộ mua Thịt mông
%
75,00
30,83
23,33
20,83
Thịt chân giò
%
22,50
7,50
10,00
5,00
Thịt ba chỉ
%
73,33
34,17
24,17
15,00
16
(ii) Thương lái: Phần lớn các thương lái nhận thấy nguồn cung cấp lợn từ người
nuôi ổn định (30%), dễ mua bán (15%), thương lái nắm bắt được thông tin thị trường
(20%), ngành chăn nuôi lợn của địa phương đang phát triển tạo điều kiện kinh doanh
của thương lái ổn định và tiếp tục được duy trì (20%).
(iii) Người giết mổ: Các lò giết mổ có được thuận lợi, nguồn cung cấp lợn ổn định
(100% trường hợp), dễ tiêu thụ (100%), lò giết mổ ở xa khu dân cư nên đảm bảo được vệ
sinh môi trường cho địa phương (50%), thuận lợi trong vận chuyển lợn (50%).
(iv) Người bán sỉ, bán lẻ: Người bán lẻ, bán sỉ thịt có được thuận lợi do đầu ra
ổn định, dễ tiêu thụ (70% số trường hợp), mặt bằng kinh doanh ổn định (50%), có
nguồn cung cấp thịt từ lò mổ đúng chất lượng (40%), giá thịt lợn ổn định (40%), sản
phẩm an toàn hơn các sản phẩm thịt khác (30%).
* Khó khăn
(i) Người nuôi lợn: Giá con giống cao (25% số trường hợp), dịch bệnh
(51,42%), giá cả đầu ra không ổn định, bị người mua ép giá, thiếu kỹ thuật nuôi đặc
biệt là kỹ thuật nuôi lợn vỗ béo cũng là những khó khăn hiện tại của những hộ nuôi
(ii) Thương lái:Tình trạng dịch bệnh (55% trường hợp), việc liên kết với các
thương lái chưa chặt chẽ (25%), thương lái thiếu vốn (15%).
(iii) Người giết mổ: Do điều kiện kinh tế trong thời gian qua gặp nhiều khó
khăn, chính sách đảm bảo an toàn thực phẩm của Nhà nước, địa phương cao (50%),
chất lượng lợn chưa được ổn định (50%).
(iv) Người bán sỉ, bán lẻ: hầu hết phục vụ cho những đối tượng có thu nhập cao
(40%), sản phẩm thịt lợn chưa có thương hiệu, uy tín nên khó cạnh tranh (20%).
3.2.3. Phân tích kinh tế chuỗi giá trị lợn Nghệ An
3.2.3.1. Phân tích giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần
Nghiên cứu chọn 4 kênh thị trường để phân tích kinh tế của chuỗi giá trị. Kênh 2
là kênh tiêu thụ có nhiều tác nhân tham gia có giá bán cuối cùng bình quân là 72.871
đồng/kg,đã đạt được giá trị gịa gia tăng là 6.873đồng/kg và lợi nhuận trong kênh 2 của
tác nhân cuối cùng trong chuỗi là 3.548 đ/kg thịt lợn.
Bảng 3.10 và bảng 3.11 cho thấy có sự khác nhau về giá bán của thịt lợn ở các kênh
53.500
60.755
72.871
CF đầu vào/CF trung gian (đ/kg)
42.358
48.747
56.714
65.998
Giá trị gia tăng(đ/kg)
5.962
4.753
4.041
6.873
21.629
Chi phí tài chính khác (đ/kg)
1.128
1.108
1.852
3.325
GTGT thuần (đ/kg)
4.834
3.845
2.189
3.548
14.216
Lợi nhuận/Chi phí (%)
11,11
5.634
4.313
5.853
15.800
Lợi nhuận/Chi phí (%)
12,95
8,3
8,7 3.2.3.2. Phân phối giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần giữa các tác nhân
Kênh thị trường 1,2,3 và 4 có đặc điểm chung là người bán lẻ góp phần tạo nên
giá trị gia tăng cho kênh thị trường là cao nhất lần lượt là 42,70%, 31.26%, 28,69% và
33,54%. Tiếp đến là người nuôi lợn (kênh 1) 27,11%; 29,97% kênh 2, thương lái ngoài
tỉnh (kênh 3) 23,87%; Nhưng phần lợi nhuận lại phân phối cho lò giết mổ lại thấp nhất
18,38% (kênh 2), 15,02% (kênh 1), và tỷ lệ phân phối lợi nhuận cho người bán lẻ vẫn
đạt tỷ lệ cao nhất so với các tác nhân trong toàn chuỗi.
Phần lợi nhuận cho người nuôi lợn kênh 3,4 giảm xuống còn 23,14% kênh 3 và
25,22% kênh 4. Thương lái trong tỉnh kênh 3 bị phân phối lợi nhuận giảm xuống còn
12,59%. Mặc dù giá trị gia tăng của người nuôi lợn tạo ra là khá cao nhưng tỷ lệ lợi
18
nhuận/chi phí lại thấp, sản lượng lợn hơi được quy ra móc hàm chỉ được 2,244 tấn, lợi
nhuận thu được trong năm chỉ giao động trong khoảng 10.847.496 đồng (kênh 2,3,4)
đến 12.642.696 đồng (kênh 1).
Sản lượng trung bình của người nuôi lợn rất thấp so với các tác nhân khác chỉ bằng
2% của lò giết mổ trong tỉnh và cao nhất bằng 26% sản lượng của người bán lẻ trong tỉnh
vì vậy lợi nhuân của người nuôi lợn chỉ chiếm một phần không đáng kế trong tổng số lợi
42.358
48.747
58.509
69.702
83.544
Giá trị gia tăng(đ/kg)
5.962
3.683
7.304
4.868
8.778
30.595
Chi phí tài chính khác (đ/kg)
1.128
1.052
3.642
1.958
1.923
GTGT thuần (đ/kg)
4.834
2.631
3.662
2.910
6.855
20.892
Lợi nhuận/Chi phí (%)
11,11
5,28
1.785
1.923
GTGT thuần (đ/kg)
4.834
3.608
3.869
6.855
19.166
Lợi nhuận/Chi phí (%)
11,11
5,9
5,7
8,0 * Đánh giá kết quả hoạt động của các tác nhân trong chuỗi
Tổng giá trị gia tăng của kênh thị trường nội tỉnh là 22.559 đồng/kg (kênh 1) gấp
1,02 lần tổng giá trị gia tăng kênh 2 (21.629đ/kg). Tại thị trường nội tỉnh người bán lẻ
tạo nên giá trị gia tăng cao nhất so với các tác nhân khác trong chuỗi giá trị, dao động
từ 6.873 đến 9.623 đồng/kg. Tại kênh 1 hộ chăn nuôi là tác nhân tạo nên giá trị gia tăng
đứng thứ 2 của chuỗi (đạt 6.762 đồng/kg), tăng 1,13 lần so với kênh 2. Hộ giết mổ
cũng tạo ra được giá trị gia tăng lên đến 6.165 đ/kg. Do đây là kênh phân phối ngắn và
các hộ giết mổ tại gia đình kiêm luôn cả thu gom và bán lẻ nên các khoản chi phí liên
quan đến thu mua, giết mổ thấp hơn các lò giết mổ. Lò giết mổ trong tỉnh là tác nhân
tạo nên giá trị gia tăng thấp nhất trong kênh nội tỉnh đạt 4.041 đồng/kg, tuy nhiên mức
19
với ngày thường.
3.3.6. Sự tác động của thông tin
Hiện nay vấn nạn chất tạo nạc ảnh hưởng lớn tới ngành chăn nuôi nước ta. Nó
gây ra tâm lý hoang mạng ở người tiêu dùng khiến cho họ dè dặt trong khi mua thịt
20
lợn, có khi là dẫn tới tẩy chay thịt lợn.
3.3.7. Phân phối lợi ích giữa các tác nhân: Trong chuỗi giá trị từ người sản xuất tới
người tiêu dùng cuối cùng, thực chất hộ bán lẻ và hộ giết mổ bán buôn đang thu được
nhiều lợi ích lại chịu ít rủi ro.
3.4. Rủi ro của các tác nhân trong chuỗi giá trị thịt lợn
Kết quả điều tra về mức độ rủi ro của các đơn vị này cho thấy loại rủi ro chủ yếu
mà họ gặp phải đều liên quan đến rủi ro trong kinh doanh như tài chính, gián đoạn kinh
doanh do lợn bị dịch bệnh hoặc thiên tai. Rủi ro gián đoạn kinh doanh là loại rủi ro tương
quan, có tính ảnh hưởng xâu chuỗi, liên quan mật thiết đến hoạt động sản xuất của người
chăn nuôi.
3.5. Liên kết của các tác nhân trong chuỗi giá trị
Các tác nhân cũng đã có sự chia sẻ thông tin sản xuất thị trường với các mức độ khác
nhau, từng bước tạo cho mình những bạn hàng tin cậy bằng sự tín nhiệm của mình.
Bảng 3.12. Liên kết thông tin giữa các tác nhân trong CGT sản phẩm thịt lợn
Tiêu chí
Người sản xuất
Thu gom
Người giết mổ
Bán lẻ
Thông tin và
trao đổi thông
tin
biết trong quá
trình mua bán.
Mức độ tín
nhiệm trong mua
bán.
Điện thoại, trực
tiếp và từ lần
giao dịch trước.
Điện thoại hoặc trực
tiếp trao đổi thông tin
trong quá trình giao
dịch.
Khối lượng thịt
lợn trong giao
dịch
Bán toàn bộ sản
phẩm làm ra khi
thoả thuận được
giá bán, bán tại
cửa chuồng, trại.
Mua bán theo
định mức của tác
nhân đầu ra.
Hình thức trao
đổi trực tiếp.
Phụ thuộc vào
giá, xu hướng thị
trường và
phương tiện vận
chuyển.
tác nhân đầu ra.
Quan hệ thường
xuyên với các tác
nhân đầu vào,
đầu ra.
Quan hệ thường
xuyên với một số
tác nhân đầu vào
và rất nhiều tác
nhân đầu ra
21
Qua khảo sát cho thấy, trong chuỗi giá trị thịt lợn, các tác nhân liền kề thường có
thông tin hiểu biết nhau nhiều hơn nhưng thường theo chiều thuận ví dụ trong liên kết
ngang hộ giết mổ nắm rất rõ thực trạng sản xuất của hộ chăn nuôi, nhưng ngược lại, hộ
chăn nuôi lại có rất ít thông tin để có thể kiểm soát được hộ giết mổ cũng như hộ chế
biến, bán lẻ Chính điều này trên thực tế hộ nuôi lợn càng dễ bị thua thiệt, họ không
có quyền định giá đầu ra, trong khi đó hộ giết mổ và bán buôn có thể tăng giá đầu ra
của mình để giành được nhiều lợi ích. Trên thực tế hiện tượng người nuôi lợn phải bán
lợn thịt hơi với giá thấp và mua thịt lợn về tiêu dùng với giá rất cao, thoát hoàn toàn ra
khỏi giá thành thực tế. Đặc biệt là khi giá thịt lợn tăng vọt, người giết mổ và bán buôn
thịt lợi thu được lãi lớn nhưng ít có sự điều tiết trở lại phân phối cho người chăn nuôi.
Từ luồng thông tin ngược không được kiểm soát hoặc không thông suốt, mức độ minh
bạch trong việc hình thành giá cả lợn hơi, lợn thịt sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và
người tiêu dùng và hộ chăn nuôi lợn sẽ chịu thiệt thòi.
CHƯƠNG 4. CHIẾN LƯỢC NÂNG CẤP CHUỐI GIÁ TRỊ THỊT LỢN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
4.1. Quan điểm và phương hướng phát triển của ngành chăn nuôi
4.1.1. Quan điểm
Xây dựng các vùng chăn nuôi truyền thống, tiến tới hình thành vùng, cụm sản
xuất nguyên liệu, sản phẩm chăn nuôi; phát triển, xây dựng các nhà máy, cơ sở chế
biến súc sản để thu hút, liên kết thị trường tiêu thụ, tiến tới xuất khẩu.
4.2. Mục tiêu chiến lược
Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị thịt lợn hướng đến việc tăng thu nhập cho các
tác nhân tham gia chuỗi, đặc biệt là người chăn nuôi (tác nhân đầu tiên trong chuỗi),
cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (tác nhân cuối cùng
trong chuỗi) bằng cách nâng cao chất lượng thịt lợn.
4.3. Căn cứ khoa học đề xuất chiến lược nâng cấp chuỗi
Những căn cứ đề làm cơ sở đề xuất chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị thịt lợn
thịt ở tỉnh Nghệ An bao gồm: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, qua phân tích đặc
điểm địa bàn và thực trạng tỉnh Nghệ An ta thấy cả hệ thống kênh tiêu thụ từ người
chăn nuôi đến người tiêu dùng diễn ra tự phát. Điều đó có nghĩa là trên địa bàn đòi hỏi
bức bách phải có hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm lợn thịt hợp lý. Qua phân tích
SWOT chuỗi giá trị thịt lợn tỉnh Nghệ An.
Bảng 4.1. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức chuỗi giá trị thịt lợn
Điểm mạnh (S)
Điểm yếu (W)
- Là nơi cung cấp lượng thịt lớn
cho các thành phố lớn
- Tận dụng được sản phẩm phụ
nông
- Đa phần chăn nuôi còn nhỏ lẻ, tận dụng.
- Thiếu thông tin thị trường
- Người sản xuất không hạch toán trong quá trình nuôi
- Chất lượng đàn lợn chưa cao
23
- Tận dụng được lao động nhàn rỗi
- Giá thuê lao động thấp
bệnh)
-Hỗ trợ của các dự án cạnh tranh
nông nghiệp
-Mở rộng thị trường tiêu thụ
-Ngành chăn nuôi địa phương phát
triển ổn định, duy trì hoạt động lâu
dài giữa các tác nhân
- Sự quan tâm của Đảng, chính
quyền các cấp tỉnh Nghệ An
-Có cơ hội tiếp cận các quy trình
chế biến tiên tiến trong và ngoài
nước
-Sự cạnh tranh lành mạnh cũng là
cơ hội cho sản phẩm thịt lợn ở
Nghệ An tự khẳng định và hoàn
thiện hơn ở thị trường trong và
ngoài tỉnh, đặc biệt trong quản lý
VSATTP.
-Chăn nuôi theo xu hướng tự phát không ổn định lâu dài,
nên chi phí tăng cao.
-Dịch bệnh
- Yêu cầu về chất lượng sản phẩm và vệ sinh thực phẩm
T4-Thị trường đầu vào và đầu ra không ổn định
-Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở nhiều địa phương
trong tỉnh tác động chi phối đến chuỗi trên nhiều góc độ:
nguồn nhân lực, vốn đầu tư, đất đai
-Diện tích đất nông nghiệp giảm: tác động đến đất dành
cho phát triển đàn lợn theo hướng trang trại, tập trung
cũng rất hạn chế.
-Chịu nhiều rủi ro: tất cả các tác nhân từ hộ chăn nuôi đến
công tác chọn lọc và cung cấp giống, Khuyến khích, xây dựng các mô hình chăn nuôi
lợn nái ngoại trong hộ nông dân bằng các chính sách hỗ trợ về kỹ thuật, vốn, và
ngoài ra cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin mới về thị trường con giống cho các hộ
chăn nuôi qua các phương tiện thông tin phù hợp.
(3) Tăng cường liên kết ngang giữa các hộ chăn nuôi để mở rộng quy mô chăn
nuôi theo quy trình V-GAP và quy hoạch chung của tỉnh
(4) Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực cho người chăn nuôi và các
tác nhân tham gia.
(5) Đẩy mạnh công tác tổ chức quản lý, kiểm tra giám sát sản xuất theo quy trình
chât lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
(6) Tăng cường hỗ trợ đầu tư hệ thống hạ tầng các lò giết mổ, ưu tiên các chương
trình phát triển chuỗi giá trị thịt lợn. 25
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1) Về cơ sở lý luận và thực tiễn: Chuỗi giá trị thịt lợn có tính chất đặc thù, có
nhiều tác nhân trung gian, đặc biệt trong vấn đề tiêu thụ các sản phẩm thịt lợn. Chuỗi
giá trị thịt lợn tại Nghệ An đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở
địa phương, góp phần ổn định thị trường thực phẩm và trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ, ổn định về xã hội tại địa phương, giảm
sức ép lao động đổ về các khu đô thị lớn. Để ngành chăn nuôi lợn thịt phát triển ổn
định, cần phải quan tâm đến phát triển cả theo chiều rộng và theo chiều sâu, phải quan
tâm đầy đủ đến cả các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp lên chuỗi.
2) Về thực trạng chuỗi giá trị thịt lợn tỉnh Nghệ An: i) Trong chuỗi giá trị thịt
lợn có nhiều tác nhân tham gia, số lượng thành viên của tác nhân hộ chăn nuôi và hộ
bán lẻ thịt lợn chiếm số lượng lớn nhất. ii) Những năm gần đây, sản phẩm chính của
ngành hàng lợn thịt ở Nghệ An hoàn toàn được tiêu thụ ở trong nước, trong đó tiêu thụ