SKKN Sử dụng phương pháp trò chơi trong môn giáo dục công dân góp phần nâng cao hứng thú học tập cho học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Văn Trỗi - Pdf 26

Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN VĂN TRỖI

XẾP LOẠI (A, B, C): Nha Trang, ngày 25 tháng 05 năm 2014
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Trần Duy Nhụ
Trang 3

MỤC LỤC Trang
Đặt vấn đề 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng nghiên cứu 4
5. Phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Thời gian nghiên cứu 5

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, công tác phổ biến giáo dục pháp luật luôn có vai trò
hết sức quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam – một Nhà
nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xuất phát từ vai
trò, ý nghĩa quan trọng của công tác phổ biến giáo dục pháp luật, Đảng và Nhà
nước ta luôn quan tâm đến công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật dưới rất
nhiều hình thức. Tại Điều 31 – Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước tạo điều
kiện để Công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật, ”
Để cụ thể hóa quy định trên, đồng thời khẳng định sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước đối với công tác phổ biến giáo dục trong nhà trường, ngày 07 tháng 01
năm 1998, Thủ Tướng chính phủ ra chỉ thị số 02/1998/CT – TTg nhấn mạnh tầm
quan trọng của môn học pháp luật trong việc góp phần hình thành nhân cách học
sinh, sinh viên – những chủ nhân tương lai của đất nước. Chỉ thị đã nêu:
“Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp đẩy mạnh công
tác giảng dạy pháp luật trong các trường học. Sớm nghiên cứu, hoàn thiện nội
dung chương trình giáo dục pháp luật với tỷ lệ đơn vị học trình hợp lý, biên soạn
sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu môn học pháp luật cho học sinh, sinh viên trong
hệ thống giáo dục quốc dân. Cần tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và phương
pháp giảng dạy pháp luật cho đội ngũ giáo viên dạy pháp luật trong các trường
học. Phải xác định rõ pháp luật là môn học chính khóa trong mọi cấp học, bậc
học; phải có kiểm tra, tiến tới thi hết môn. Kết quả học tập môn này được xem là
một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá về việc rèn luyện tư cách, đạo đức
của học sinh, sinh viên”
Để thực hiện được nhiệm vụ đó, với chủ đề: “Công dân với pháp luật” môn
Giáo dục công dân lớp 12 giữ vai trò rất quan trọng. Thông qua các bài học pháp
luật học sinh nhận thức được tầm quan trọng cũng như lợi ích thiết thực của việc
hiểu biết pháp luật, học sinh sẽ hình thành hành vi sống, làm việc theo pháp luật,
biết thế nào quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của bản thân mình chính là

được kích thích, thúc đẩy. Trò chơi không những giúp học sinh gần gũi, cởi mở
với nhau hơn, tăng tính đoàn kết của tập thể mà còn tạo ra sự chú ý của học sinh
đối với nội dung bài giảng, khuyến khích học sinh tiếp thu bài một cách tự nhiên,
không gượng ép và khô cứng. Từ đó, nó thúc đẩy học sinh hành động, áp dụng bài
học vào thực tiễn, giúp học sinh hiểu điều nào nên làm và điều nào không nên làm
trong cuộc sống để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Từ những kết quả ban đầu, bản thân tôi đã nghiên cứu, chiêm nghiệm về
cách thiết kế và tổ chức trò chơi trong quá trình giảng dạy bộ môn Giáo dục công
dân. Qua các lần ứng dụng phương pháp trò chơi, tôi thấy học sinh rất hứng khởi,
tham gia nhiệt tình, giờ học trở nên nhẹ nhàng, sinh động, học sinh được làm việc
nhiều, được các đồng nghiệp, ban giám hiệu nhà trường đánh giá cao, chất lượng
học tập bộ môn cũng không ngừng được nâng lên.
Chính vì điều đó, tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng phương pháp trò chơi trong
môn Giáo dục công dân góp phần nâng cao hứng thú học tập cho học sinh lớp 12
Trường THPT Nguyễn Văn Trỗi” để nghiên cứu và báo cáo với Hội đồng khoa
học của Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Khánh Hòa trong năm học 2013 – 2014 này.
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng việc học tập môn Giáo dục công dân của học sinh
lớp 12 tại trường Trung học phổ thông. Thông qua đó, nâng cao hiệu quả phổ biến
giáo dục pháp luật trong việc dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 bằng việc sử
dụng phương pháp trò chơi phù hợp với nội dung của từng bài nhằm làm cho tiết
Trang 7
học bớt khô khan, nặng nề mà trở nên nhẹ nhàng, sinh động, hấp dẫn và hiệu quả.
Ngoài ra, còn góp phần rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cơ bản của bộ môn
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thiết kế và tổ chức các trò chơi lồng ghép vào nội dung chương trình Giáo
dục công dân lớp 12. Từ đó, sử dụng các trò chơi cho phù hợp trong từng tiết học.
Trang 8
dụng các trò chơi dạy học trong môn Giáo dục công dân lớp 12.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Căn cứ vào các sản phẩm nghiên cứu của các tác giả khác, các trò chơi đã
được sử dụng ở các môn học khác và các tài liệu khác để xây dựng các trò chơi dạy
học phù hợp.
Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để xử lý kết quả thu thập được. Phục vụ cho việc
phân tích, đánh giá trong quá trình nghiên cứu.
7. Thời gian nghiên cứu Từ 8/2013 đến tháng 5/2014.
Trang 9
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
a. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở nước ngoài
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga như:
P.A.Bexonova, OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki đã đánh giá rất cao vai trò
giáo dục, đặc biệt là tính hấp dẫn của trò chơi dân gian trong việc dạy học.
Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập trong dân gian còn có một số hệ thống
trò chơi dạy học khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây dựng. Đại diện cho
khuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học làm phương tiện phát triển toàn diện cho
trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc I.A.Komenxki (1592 –
1670). Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và
khuynh hướng của trẻ. Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc,
là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu

học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học nói chung và
đặc biệt là dạy học trong bộ môn Giáo dục công dân lớp 12 nói riêng.
Mặt khác, qua các lần dự giờ đồng nghiệp tôi thấy nhiều giáo viên có trình
độ chuyên môn giỏi nhưng kĩ năng sư phạm thì chưa được tốt. Môn giáo dục công
dân thường liên quan rất nhiều đến cuộc sống thường ngày, đặc biệt nói đến pháp
luật là nói đến rất nhiều chính sách, chỉ thị, điều luật, .v.v… Nếu giáo viên không
có phương pháp sư phạm tốt thì giờ học sẽ trở nên quá tải, nặng nề, lan man, học
sinh ít được tham gia vào hoạt động học tập. Xuất phát từ thực thế trên, tôi đã
không ngừng đổi mới phương pháp dạy học. Và tôi thấy việc thiết kế và tổ chức trò
chơi trong giảng dạy môn Giáo dục công dân khối 12 có những hiệu quả bước đầu
rất đáng mừng, giúp cho học sinh rất hứng thú trong quá trình học tập, làm cho tiết
học vô cùng sôi động. Đây chính là những cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài: “Sử
dụng phương pháp trò chơi trong môn giáo dục công dân góp phần nâng cao hứng
thú học tập cho học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Văn Trỗi”.
b. Các khái niệm cơ bản
Trò chơi
 Chơi và hoạt động chơi
Chơi là một trong những hoạt động của con người, có mặt trong đời sống
con người ở mọi lứa tuổi, mặc dù hình thức chơi thay đổi khi một người lớn lên,
già đi. Khi chơi, cả người lớn lẫn trẻ em đều say mê, vui vẻ, thoải mái. Đối với
người lớn, hoạt động chơi chiếm một vị trí nhất định trong cuộc sống của họ. Còn
đối với trẻ mẫu giáo, hoạt động chơi là nội dung chính của cuộc sống là hoạt động
chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chơi”, có thể điểm qua một vài
định nghĩa về “chơi” như sau:
+ “Chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích gì khác”.
+ “Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi”
+ “Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm vào một lợi ích thiết
thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên với xã hội
được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ,

Một số nhà tâm lý – giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross,
S.Hall, V.Stern cho rằng: Trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải
tỏa năng lượng dư thừa. Còn G.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần
túy là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ. Trên quan điểm Macxit,
các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động
và mang bản chất xã hội. Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác
chủ yếu bằng con đường giáo dục. Còn tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là
một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa:
+ Một là, kiểu loại phổ biến của chơi. Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc
định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động); có tính cạnh tranh hoặc tính
thách thức đối với người tham gia.
+ Hai là, những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như:
học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi,
Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và
thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn
giản. Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế
luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó.
Tóm lại, trò chơi chính là sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện, bất Trang 12
giác không được gọi là trò chơi.
Trò chơi trong dạy học (gọi tắt là trò chơi dạy học)
Có những quan niệm khác nhau về trò chơi dạy học. Trong lý luận dạy học,
tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức tổ chức
và luyện tập, .v.v không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được
gọi là trò chơi dạy học.
Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng, trò chơi dạy
học còn được hiểu là loại trò chơi có luật, có định hướng đối với sự phát triển trí
tuệ của người học, thường do giáo viên nghĩ ra và dùng nó vào mục đích giáo dục

Trang 13
thức, quá trình và kết quả nhận thức của mình. Trò chơi phát triển nhận thức lại
được phân thành một số nhóm nhỏ:
+ Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: Ví dụ các trò chơi thi xếp hình, ghép
hình theo hình dạng, theo màu sắc; trò chơi nhận dạng các đồ vật, con vật và đối
chiếu các sự vật với mẫu, với vật thật, với mô hình, trò chơi phân biệt các sắc thái
của màu, phân biệt các bộ phận đồng nhất và khác nhau giữa các sự vật; trò chơi
nghe và nhận dạng âm thanh, .v.v
+ Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: Ví dụ trò chơi kể và tiếp nối các từ
đồng nghĩa, các đồ vật, các con vật, các chữ cái: Trò chơi nhắc lại các âm, các nốt
nhạc, trò chơi nhận dạng lại các hình sau khi quan sát, nhớ lại dãy số, nhớ lại số
lượng hay kích thước của vật, .v.v
+ Các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy: Ví dụ các môn cờ khác nhau, các
trò chơi xây dựng, lắp ghép mô hình, các trò chơi có vai (phóng tác), phân vai
(theo chủ đề) và đóng kịch ; các trò chơi thi giải đố, thi tính toán, thi với các thực
nghiệm khoa học; các trò chơi thực hiện những thuật toán như xếp đội hình, giải
các bài tập theo chương trình; các trò chơi khoa học vui, .v.v
 Nhóm 2: Trò chơi phát triển các giá trị
Đó là những trò chơi có nội dung văn hóa, xã hội, trong đó các quan hệ chơi
phóng tác hoặc lý tưởng hóa các quan hệ đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, gia đình, xã
hội, chính trị, pháp luật, quân sự hiện thực và các quy luật hay quy tắc chơi được
định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái độ, tình cảm tích cực, động viên
ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất cá nhân của
người tham gia. Ví dụ: Các trò chơi phân vai theo các chủ đề, các trò chơi đóng
kịch, các trò chơi dân gian có tính chất lễ hội, các trò chơi tập thể có tính chất liên
hoan: Thi nấu cơm, thi kéo co, thi nhảy múa, thi đọc thơ, thi làm thơ; các trò chơi
phóng tác những nghề nghiệp hay quan hệ xã hội Chúng là môi trường giao tiếp

chớp thời cơ bằng việc thể hiện cá tính của mỗi cá nhân trong nhóm bất cứ khi nào
có thể. Điều này sẽ phát triển các kỹ năng thuyết trình, quan trọng là người thuyết
trình phải đảm bảo những cá nhân đó được để ý và được báo cáo lại bởi các thành
viên khác còn lại trong nhóm. Bằng cách quan sát đơn giản các thành viên trong
đội sẽ nhận ra những điều mà họ cần. Học sinh càng nhìn thấy nhiều phong cách
thuyết trình càng tốt.
Rèn luyện trí nhớ: Các hoạt động đòi hỏi phải tái hiện trong thời gian ngắn
hoặc dài những kinh nghiệm tri giác, thị giác hoặc thính giác. Trí nhớ được trắc
định bằng các trò đố, trong đó phải huy động tri thức từ quá khứ để giải đáp những
câu hỏi đánh đố. Bởi vì trò chơi đố có thể được xây dựng cho tất cả những lĩnh vực
học tập trong nhà trường, nên có thể sử dụng chúng như những biện pháp để giúp
học sinh tập dượt tri thức đã học trước đây và bằng cách đó nâng cao hiệu suất trí
nhớ của các em.
Rèn luyện tính sáng tạo: Hiểu theo nghĩa phát kiến ra một biến thể mới của
hoạt động. Rõ ràng là các kiểu trò chơi khác biệt nhau ở mức độ độc đáo mà nó
khuyến khích hoặc hạn chế. Những phương án khác của trò chơi thích hợp nhất
cho việc kích thích tính sáng tạo là giải trí bằng đồ họa, vẽ tranh, viết truyện, làm
thơ, nghĩ ra các trò đùa, câu đố, mô tả những phát kiến tưởng tượng
Học những kỹ năng phán đoán: Chỉ một loại năng lực lường trước những
dữ liệu của các hành động có thể xảy ra trong tương lai ở trong một tình huống, và
đánh giá những nhân tố nào quyết định xác suất lớn nhất xảy ra điều gì đó.
Học kỹ năng đánh lừa: Chỉ một loại năng lực đánh lạc hướng người khác
bằng cách tỏ ra dự định một hành động này nhưng thực tế lai thực hiện một hành
động khác. Năng lực này là sự mở rộng của năng lực dự đoán các sự kiện, nó đòi
hỏi phải ước định được mình có thể dùng những cử chỉ biểu đạt nào để đánh loại
Trang 15
được các đối thủ, khiến cho họ phán đoán những sai lầm về những hoạt động sau

Trong trò chơi, các vai chơi và các vai trò của người chơi cần được xác định
rõ ràng. Đặc biệt phải tránh làm cho người chơi lẫn lộn vai chơi trong các trò chơi
phân vai đóng kịch và một số trò chơi phóng tác với vai trò hoạt động của họ trong
việc thực hiện nhiệm vụ học tập, vai trò trách nhiệm đối với công việc trong quá
trình chơi.
Khi đề ra các giải pháp hay kết luận về những vấn đề, tình huống phóng tác, Trang 16
cần tránh tuyệt đối hóa hoàn cảnh chơi mà phải tìm cách đưa ra những liên hệ, biến
cố dữ liệu của đời sống thực tế vào nhằm tạo ra sự gần gũi giữa tình huống chơi và
tình huống thật.
Trong quá trình chơi, chỉ cho phép một số học sinh tham gia hành động,
nhập vai chơi, còn số học sinh kia quan sát học tập, sau đó đảo lại vai trò. Không
thể đưa tất cả học sinh vào tình huống chơi và biến trò chơi thành trò giải trí đơn
thuần.
Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo để có khả năng giải đáp những thắc mắc của
học sinh, hướng dẫn và điều chỉnh quá trình chơi, tổ chức tổng thể trò chơi theo
đúng thể loại đặc thù của nó.
Các quy luật và quy tắc chơi cần tự nhiên đến mức cao nhất, tránh gò bó và
được người học hiểu rõ, chấp nhận trước khi tiến hành trò chơi. Cần có sự thảo
luận và tổng kết sau trò chơi về 2 điều: nội dung và mục tiêu học tập đạt đến đâu,
người học học được cái gì bổ ích theo yêu cầu dạy học và ngoài yêu cầu dạy học;
xử lí tương tác nhóm và rút kinh nghiệm về tổ chức, trách nhiệm cá nhân của
người học trong hoạt động.
Thảo luận sau trò chơi cần được kết hợp với giao bài tập, nhiện vụ về nhà và
bước chuẩn bị cho việc học tập tiếp sau. Trong lúc giao bài tập về nhà, giáo viên
nên đặt ra những câu hỏi về hoạt động của học sinh, kết quả và nguyên nhân dẫn
các em đến kết quả đó, những ý tưởng và sáng kiến của học sinh trong quá trình
chơi.

trình dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 nói riêng.
2. Thực trạng
a. Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học Giáo dục công dân lớp
12 có cần thiết hay không?
Như chúng ta đã biết, hiện nay, xu hướng những kẻ phạm tội ở tuổi vị thành
niên ngày càng nhiều. Điều này làm dấy lên những lo lắng trong dư luận xã hội.
Chính những nhận thức, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, mơ hồ đã dẫn đến ý
thức chấp hành pháp luật chưa tốt, thậm chí có những hành vi coi thường pháp
luật. Chỉ đến khi bị các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý thì mọi sự đã muộn,
những hậu quả đáng tiếc đã xảy ra, những kẻ phạm tội ở tuổi vị thành niên phải
lao vào vòng lao lý để trả giá cho những hành vi sai trái của mình
Ở bậc học trung học phổ thông, tâm – sinh lý của học sinh đã có nhiều thay
đổi, quan niệm của người xưa về lứa tuổi này cho rằng “tuổi mười bảy là tuổi bẻ
gãy sừng trâu”, tức là ở lứa tuổi này, với tâm lý muốn thể hiện, khẳng định mình
đã là “người lớn” nên các em rất dễ có những hành động bộc phát, nông nổi. Việc
trang bị những kiến thức, hiểu biết pháp luật cho học sinh ở bậc học này vì thế rất
là cần thiết.
Tuy nhiên, trên thực tế, công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở bậc
THPT vẫn chưa mang lại những kết quả như mong muốn. Mặc dù nhiều kiến thức
pháp luật quan trọng, gần gũi với cuộc sống đã được đưa vào chương trình môn
Giáo dục công dân lớp 12 để học sinh học tập, nhưng trong suy nghĩ của không ít
học sinh hiện nay thì môn Giáo dục công dân “chẳng là gì cả”, “học chỉ thêm
mệt”, Bên cạnh đó, môn Giáo dục công dân lại là môn không thi tốt nghiệp và thi
đại học nên học sinh thường xem đây là một môn “phụ”, thường không mấy quan
tâm, không bao giờ đọc sách giáo khoa, thường xuyên không học bài cũ, Đây là
những tình trạng này hết sức phổ biến ở các trường phổ thông hiện nay.
Những kiến thức về pháp luật vốn trừu tượng, có tính khái quát cao nên cần
những hình thức tuyên truyền sinh động, linh hoạt để người học dễ tiếp thu. Tuy
nhiên, một số giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân chưa thật sự đầu tư cho
môn học này, tình trạng thầy đọc, trò chép – một cách học truyền thống vẫn còn

12 ở trường THPT Nguyễn Văn Trỗi.
Nội dung khảo sát:
+ Nhận thức của học sinh về việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn
Giáo dục công dân lớp 12.
+ Nhận thức của giáo viên về vai trò, tác dụng của việc sử dụng trò chơi trong dạy
học môn Giáo dục công dân lớp 12.
+ Thực trạng xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Giáo dục công dân
lớp 12 của giáo viên.
+ Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng trò chơi trong dạy học môn Giáo dục
công dân lớp 12.
Phương pháp khảo sát: Bằng phương pháp quan sát (thông qua dự giờ, thăm
lớp), điều tra bằng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp giáo viên, học sinh; tổng kết
kinh nghiệm của giáo viên để thu thập thông tin về thực trạng nghiên cứu, thống kê
toán học (dùng để xử lý số liệu thu thập được)…
Trang 19
Chọn mẫu khảo sát: 4 giáo viên đang giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp
12 và 200 học sinh khối 12.
Thời gian khảo sát: tháng 9 và tháng 10 năm 2013.
Kết quả khảo sát:
 Thứ nhất, về nhận thức của học sinh về việc xây dựng và sử dụng trò
chơi trong dạy học môn Giáo dục công dân.
Qua 11 câu hỏi đóng và 3 câu hỏi mở (phụ lục 2), kết quả hỏi ý kiến 200 học
sinh cho thấy: 50% số học sinh cho rằng giáo viên không bao giờ sử dụng trò chơi
trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12, 35% ý kiến học sinh cho là ít khi
giáo viên sử dụng trò chơi, còn lại 15% học sinh cho là bình thường (câu hỏi 2).
85% số học sinh khẳng định việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn
giáo dục công dân là cần thiết, 13% cho là rất cần thiết, chỉ có 2% là không cần

dạy học trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 được học sinh cho ý kiến thể
hiện qua bảng 2.
Loại trò chơi Số lượng (Học sinh)

Tỷ lệ (%)

Trò chơi phát triển nhận thức

96

48

Trò chơi phát triển các giá trị

24

12

Trò chơi phát triển vận động
0

0

Ý kiến khác
100
Giáo viên chưa tổ chức

50

Bảng 2 – Hứng thú của học sinh với các loại trò chơi trong

Hình thành không khí vui vẻ,
hứng khởi trong học tập
75 25 0 0 0
Học sinh hiểu và nắm kiến thức 25 50 25 0 0
Trang 21

sâu hơn
Hình thành cảm xúc, động cơ,
hứng thú học tập
50 50 0 0 0
Rèn kỹ năng tương tác, phối
hợp giải quyết nhiệm vụ học
tập giữa học sinh với học sinh
0 75 25 0 0
Nâng cao tương tác giáo viên –
học sinh trong dạy học
25 50 25 0 0
Rèn luyện cho học sinh kỹ năng
làm việc nhóm, kỹ năng ứng xử
trong học tập

25
75 0 0 0
Phát triển tư duy sáng tạo, tìm
cái mới của học sinh
0 50 50 0 0
Bảng 3 – Giáo viên nhận định về tác dụng của việc sử dụng trò chơi.

 Thứ ba, về thực trạng xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học trong dạy Trang 22
học môn Giáo dục công dân.
Về căn cứ để giáo viên xây dựng và sử dụng trò chơi (câu hỏi 8) kết quả
điều tra thu được:
+ 100% giáo viên căn cứ vào nội dung học tập, mục đích sử dụng trò chơi chủ yếu
hướng vào việc giúp học sinh lĩnh hội nội dung mới là hoàn toàn hợp lý. Có 75% ý
kiến căn cứ vào số lượng của học sinh, căn cứ vào trình độ hiểu biết của học sinh
để tổ chức trò chơi.
+ 50% số học sinh căn cứ vào diễn biến không khí học tập, vào các khâu của quá
trình lên lớp. Điều đó cho thấy họ phải xây dựng các trò chơi một cách linh hoạt
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tính tích cực của học sinh. Tuy nhiên, các
căn cứ này cũng dễ gây cho giáo viên những hạn chế nhất định vì số lượng học
sinh tương đối đông.
+ Có 25% ý kiến giáo viên cho rằng căn cứ vào hình thức và phương pháp học tập.
Ý kiến giáo viên
Các căn cứ
Số lượng (Học sinh) Tỷ lệ (%)

Căn cứ vào các khâu của quá trình dạy học 1 25
Căn cứ vào nội dung học 4 100
Căn cứ vào hình thức và phương pháp học tập 1 25
Căn cứ vào số lượng của học sinh 1 lớp 2 50
Căn cứ vào không khí học tập của lớp học 3 75
Căn cứ vào trình độ hiểu biết của học sinh 2 50
Căn cứ vào diễn biến trong quá trình dạy học 2 50
Bảng 4 – Căn cứ xây dựng và sử dụng trò chơi của giáo viên.
+ Đánh giá của học sinh về tần số sử dụng trò chơi của giáo viên trong dạy học


0

Cả 2 tiết
0

0

Linh động theo nội dung dạy học
199

99.5

Ý kiến khác
0

0

Bảng 5 – Mức độ sử dụng trò chơi hợp lý trong giờ học môn
Giáo dục công dân theo ý kiến của học sinh.
Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy có 99.5% ý kiến học sinh cho rằng giáo
viên nên tổ chức trò chơi linh động theo nội dung dạy học, chỉ có 0.5% học sinh
cho rằng không cần sử dụng trò chơi và không có học sinh nào yêu cầu giáo viên tổ
chức 1 đến 2 tiết hoặc cả 2 tiết chỉ sử dụng một trò chơi duy nhất.

 Thứ tư, về nhận thức của giáo viên về mức độ sử dụng trò chơi trong
dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12
+ Về tần số sử dụng trò chơi (câu hỏi 4, phụ lục 1) giáo viên tự nhận xét lựa chọn 2
phương án là thỉnh thoảng và ít khi như nhau (50%).
+ Về mức độ phân bổ thời gian sử dụng trò chơi trong dạy học môn Giáo dục công

Bảng 6 – Mức độ phân bổ thời gian sử dụng trò chơi trong dạy học môn Giáo
dục công dân lớp 12 do giáo viên nhận xét.
100% ý kiến giáo viên đều cho rằng giáo viên nên sử dụng trò chơi linh
động theo nội dung dạy học không có ý kiến giáo viên nào cho rằng không sử
dụng, hay sử dụng 1 đến 2 tiết hoặc cả 2 tiết.
+ Về mức độ sử dụng các loại trò chơi trong dạy học môn Giáo dục công
dân lớp 12 theo đánh giá của giáo viên: Với câu hỏi 7 (phụ lục 1) có 50% ý kiến
giáo viên cho rằng họ thường xuyên tổ chức các trò chơi phát triển nhận thức và
25% ý kiến giáo viên tổ chức trò chơi phát triển các giá trị. Bên cạnh đó, cũng có 2
giáo viên chiếm tỷ lệ 50% cho rằng ít khi giáo viên tổ chức các loại trò chơi phát
triển nhận thức và 75% ý kiến cho rằng ít khi giáo viên tổ chức trò chơi phát triển
các giá trị. 100% giáo viên chưa tổ chức trò chơi phát triển vận động cho học sinh
tham gia.
 Thứ năm, về thực trạng tiếp nhận và giải quyết trò chơi trong dạy học
môn Giáo dục công dân lớp 12 trên lớp của học sinh.
+ Đánh giá của học sinh: Học sinh tự nhận định thái độ của mình khi tiếp nhận trò
chơi của giáo viên (câu hỏi 5, phụ lục 2) như trên bảng 7. Thái độ tiếp nhận trò
chơi của học sinh phản ánh tác dụng tích cực hóa của trò chơi trong quá trình dạy
học khác nhau đối với những học sinh khác nhau.

Thái độ Số lượng (Học sinh) Tỷ lệ (%)

Rất thích
80

40

Thích
5


40%, 2.5% ý kiến học sinh cho rằng thích và 5% cho là bình thường khi tham gia
trò chơi. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng sợ bị
gọi là 2% và uể oải chán nản là 0.5%. Đặc biệt hơn có 50% ý kiến học sinh cho
rằng giáo viên chưa tổ chức trò chơi nên họ không bày tỏ được thái độ của mình
khi tiếp nhận trò chơi của giáo viên.
+ Cách xử sự của học sinh khi tiếp nhận trò chơi của giáo viên (câu hỏi 6, phụ
lục 2) thể hiện ở bảng 8.
Hoạt động của Học sinh
Số lượng (Học sinh)

Tỷ lệ (%)

Suy nghĩ và thực hiện theo yêu cầu
94

47

Suy nghĩ vấn đề nhưng không tự giác tham gia

5

2.5

Không quan tâm, không tham gia
1

0.5

Ý kiến khác
100


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status