DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Số thứ tự Từ viết tắt Ký hiệu
1 Chủ nghĩa cộng sản CNCS
2 Chủ nghĩa tư bản CNTB
3 Chủ nghĩa xã hội CNXH
4 Cộng sản chủ nghĩa CSCN
5 Giai cấp công nhân GCCN
6 Giai cấp tư sản GCTS
7 Giai cấp vô sản GCVS
8 Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế PTCS&CNQT
9 Tư bản chủ nghĩa TBCN
10 Tuyên ngôn của Đảng cộng sản TNCĐCS
11 Xã hội chủ nghĩa XHCN
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở
Anh và đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nước khác làm cho lực lượng sản xuất có bước
phát triển nhảy vọt. Giai cấp vô sản trở thành một lực lượng chính trị độc lập trong xã
hội. Phong trào công nhân chống giai cấp tư sản diễn ra gay gắt nhưng liên tiếp thất bại.
Thực tiễn đó đòi hỏi phải có một lý luận khoa học và thực sự cách mạng soi đường cho
phong trào công nhân.
Kế thừa có chọn lọc những trào lưu tư tưởng tiến bộ (Triết học Cổ điển Đức,
Kinh tế chính trị học Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp…) và tiếp nhận sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên (sự ra đời của thuyết tế bào, quy luật bảo toàn và
chuyển hoá năng lượng, học thuyết tiến hoá…) cùng với việc tham gia vào phong trào
công nhân, Các Mác (Karx Marx) và Phriđrich Ăngghen (Fiedrich Engels) đã xây dựng
nên học thuyết của mình, hình thành thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện
chứng. Bằng lịch sử đấu tranh cách mạng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận ra rằng,
chính giai cấp vô sản là người tự giải phóng mình, đồng thời giải phóng toàn nhân
loại. Trên cơ sở quan niệm đúng đắn về vai trò hoạt động thực tiễn và sứ mệnh lịch sử
Việc nghiên cứu và đánh giá về những giá trị lịch sử của tác phẩm “Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản” cũng như tìm hiểu vai trò của nó đối với phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà triết học và các nhà lý luận
viết về đề tài này dưới nhiều góc độ khác nhau.
- 1976, Giới thiệu tác phẩm của Các Mác & Ăng Ghen “Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản”, Nxb. Hà Nội - Sự thật.
- Lê Văn Sáu (1969), Lịch sử yếu lược phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong
thời kỳ hiện đại (1917 – 1967), Nxb. Giáo dục.
- Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2008), Vấn đề triết học trong tác phẩm của
C.Mác – Ph.Ăngghen – V.I.Lênin, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc (1985), Phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế, Nxb. Giáo khoa Mác Lênin.
- Viện quan hệ quốc tế (2006), Giáo trình lịch sử phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế, Nxb. Lý luận Chính trị.
- Vụ huấn học – Hà Nội (1977), Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, Nxb. Giáo khoa Mác Lênin.
Qua các công trình trên, ta thấy rằng, tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được các tác giả xem xét ở nhiều khía cạnh
2
khác nhau. Tuy nhiên, ở từng công trình riêng rẽ, chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu
phân tích ảnh hưởng của Tuyên ngôn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu, tác giả muốn thông
qua khoá luận này trình bày những nội dung cơ bản trong tác phẩm TNCĐCS và vai trò
của nó đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục đích của khoá luận là trình bày những nội dung cơ bản của tác phẩm
TNCĐCS và vai trò của nó đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
- Để đạt được mục đích đó, khoá luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, trình bày hoàn cảnh ra đời của tác phẩm TNCĐCS.
Hai là, trình bày những nội dung cơ bản của tác phẩm TNCĐCS.
1.1.2 Mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.2 Nội dung cơ bản của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.2.1 Vấn đề sở hữu
1.2.2 Quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong của chủ nghĩa tư bản
1.2.3 Quá trình hình thành, phát triển và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
1.2.4 Vai trò của Đảng Cộng Sản và mối quan hệ giữa nó với giai cấp vô sản
Chương 2. VAI TRÒ CỦA TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN” ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ
2.1 Vai trò của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đối với phong trào cách mạng thế
giới từ 1848 đến 1917
2.1.1 Phong trào công nhân từ 1848 đến Công xã Pari (1871)
2.1.2 Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế I (1864 – 1876)
2.1.3 Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế II (1889 – 1914)
2.1.4 Phong trào công nhân từ sau Công xã Pari đến năm 1917
2.2 Vai trò của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đối với phong trào cách mạng thế
giới từ 1917 đến nay
2.2.1 Phong trào công nhân từ sau Cách mạng tháng Mười Nga đến Chiến tranh thế
giới thứ hai
2.2.2 Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế III (1919 – 1943)
2.2.3 Phong trào cộng sản quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
5
Chương 1. HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”
1.1 Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
Cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX đã đưa lại một nền
sản xuất công nghiệp cơ khí và cùng với nó là sự xuất hiện giai cấp vô sản công
nghiệp - giai cấp khác hẳn với tất cả những giai cấp bị nô dịch đã có trong lịch sử.
trên thế giới.
1.1.2 Mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
Mục đích của Tuyên ngôn là “công khai trình bày trước toàn thế giới những quan
điểm, mục đích, ý đồ của những người cộng sản” [25; tr.595].
Giá trị đích thực của Tuyên ngôn không phải ở chỗ nó cung cấp những lời giải có
sẵn cho mọi vấn đề của thực tiễn cách mạng hôm nay, mà ở chỗ nó đã phản ánh một
cách khái quát xu hướng vận động khách quan của xã hội, chỉ ra những nhiệm vụ lịch
sử cần giải quyết để từng bước giải phóng giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động
khác, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Vừa là một tác phẩm lý luận, vừa là một bản tuyên ngôn chính trị, Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản đã trình bày cô đọng, có hệ thống nhiều vấn đề lý luận cơ bản nhất, mà
đầu tiên là vấn đề sở hữu.
1.2 Nội dung cơ bản của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
1.2.1 Vấn đề sở hữu
Chế độ sở hữu là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu cả về lý luận
và thực tiễn của CNXH. Về lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin coi việc xóa bỏ chế độ tư
hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản của CNXH.
“Thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quan nhất về việc cải tạo
toàn bộ chế độ xã hội” [25; tr.467].
Xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu là một quan điểm cơ bản trong các
học thuyết xã hội chủ nghĩa (XHCN) trước Mác, đặc biệt là trong CNXH không tưởng
Pháp với tính cách là một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác.
Quan điểm về xóa bỏ chế độ tư hữu của TNCĐCS khác với CNXH không tưởng.
Trong khi luận chứng một cách khoa học tính tất yếu của sự xóa bỏ chế độ tư hữu nói
chung, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, đó phải là sự tự phủ định với những tiền đề do
sự phát triển của xã hội dựa trên chế độ tư hữu đã tạo ra. Ngay từ tác phẩm “Bản
thảo kinh tế - triết học 1844”, C.Mác đã thể hiện tư tưởng đó khi cho rằng, sở hữu tư
7
nhân do lao động bị tha hóa sinh ra; nhưng đến lượt mình, nó lại là nguyên nhân làm
cho lao động bị tha hóa phát triển. Khi đạt trình độ cao nhất với sở hữu tư nhân tư bản
8
chế độ tư hữu lại là “Phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những
đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia” [25; tr.615],
mà chế độ sở hữu tư sản là biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất.
Trong các xã hội dưạ trên chế độ tư hữu, sở hữu cá nhân của một số ít người được
phát triển bằng cách tước đi sở hữu cá nhân của đa số những người khác. CNCS làm cho
“sở hữu cá nhân không còn có thể biến thành sở hữu tư sản được nữa” [25; tr.618].
Đương nhiên, trong TNCĐCS, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể làm sáng tỏ vấn
đề sở hữu cá nhân trong CNCS; bởi vì, một vấn đề phức tạp như vậy thì cũng như
nhiều vấn đề khác của CNCS, các ông chỉ có thể chờ kinh nghiệm của thực tiễn mà
thôi. Không những thế, khi mà sở hữu cá nhân tồn tại dưới những hình thức tư hữu
khác nhau, nhất là trong những điều kiện hiện tại của sản xuất tư sản, khi mà “ tự do
có nghĩa là tự do buôn bán, tự do mua và bán” [25; tr.618] thì quan điểm xem sở
hữu cá nhân là “cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá
nhân” [25; tr.616] lại được sử dụng để biện hộ cho chế độ tư hữu, một quan điểm tư
sản cần được vạch trần.
Vẫn dòng tư tưởng ấy, các ông viết tiếp: Đối với những sở hữu được “làm ra, kiếm
được một cách lương thiện và do lao động của bản thân”, những “hình thức sở hữu có
trước sở hữu tư sản, tức là sở hữu của người tiểu tư sản, của người tiểu nông” thì
chúng ta “cần gì phải xóa bỏ cái đó” mà chính “sự phát triển của công nghiệp đã xóa
bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xóa bỏ cái đó rồi” [25; tr.616], còn đối với người công
nhân thì chỉ có thể chiếm hữu những sản phẩm cần thiết để tái sản xuất ra đời sống mà
thôi. Không dừng lại ở đó, Tuyên ngôn đanh thép khẳng định: “CNCS không tước bỏ
của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. CNCS chỉ tước bỏ quyền
dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” [25; tr.618].
Phân tích tiếp về mâu thuẫn giữa chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất với
tính cách xã hội hóa của lực lượng sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, “trong
xã hội hiện nay của các ông, chế độ tư hữu đã bị xóa bỏ chín phần mười số thành viên
của xã hội đó rồi; chính vì nó không tồn tại đối với số chính phần mười ấy, nên nó mới
tồn tại được” [25; tr.618].
những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều” [25;
tr.627]. C.Mác và Ph.Ăngghen có vạch ra một số biện pháp mà các ông cho là “có thể
được áp dụng” đối với những nước tiên tiến. Nhưng đó lại là những điều mà hai mươi
năm sau các ông cho rằng “ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác
đi” [28; tr.128].
10
Trong tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đập lại những luận điệu vu khống của
giai cấp tư sản đối với những người cộng sản về một loạt vấn đề xã hội - chính trị
- văn hóa - tinh thần. Đồng thời các ông cũng phác họa những nguyên tắc cơ bản của
CNCS trong việc giải quyết các vấn đề này. Giai cấp tư sản cố gán cho những người
cộng sản ý đồ muốn thủ tiêu tự do cá nhân, văn hóa, pháp luật, triết học, tôn giáo, đạo
đức, muốn xóa bỏ gia đình và tổ quốc…. Các tác giả đã chỉ ra thực chất những lời vu
khống đó chỉ nhằm bảo vệ, duy trì lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ sở hữu tư
sản và việc bóc lột lao động làm thuê. Các ông đã vạch trần tội lỗi của giai cấp tư sản,
trách nhiệm của nó đối với thực trạng xã hội và khẳng định lập trường có tính nguyên
tắc của những người cộng sản là xóa bỏ tính chất tư sản của các quan hệ này, thủ tiêu
tận gốc rễ những cơ sở nảy sinh ra nó. Các ông khẳng định: “Cách mạng cộng sản chủ
nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền, không có gì đáng lấy
làm lạ khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt
để nhất với những tư tưởng cổ truyền” [25; tr.567].
1.2.2. Qúa trình hình thành, phát triển và tiêu vong của chủ nghĩa tư bản
Xã hội tư bản - điển hình nhất là ở các nước tư bản trên lục địa Châu Âu và
nước Anh - giữa thế kỷ XIX là bức tranh phức tạp. Trong sự phong phú của các mô
hình xã hội, các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận rõ
sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội TBCN như một tất yếu từ trong lòng xã hội
phong kiến đã tan rã. Sau nhiều thế kỷ tồn tại, bắt đầu từ thời Phục hưng, chế độ
phong kiến đã trở nên lỗi thời, thối nát, trở thành xiềng xích kìm hãm xã hội, tổ chức
công nghiệp theo lối phong kiến hay phường hội trước kia không đáp ứng được yêu
cầu của sự phát triển sản xuất và mở rộng thị trường.
Khác với quan điểm của các nhà kinh tế tư sản cho rằng, CNTB tồn tại vĩnh viễn,
chức sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh tự do, mở rộng thị trường, xã hội tư bản tạo ra một
khối lượng tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt khổng lồ. Trong sự phát triển của mình,
CNTB đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất. “Giai cấp tư sản, trong
quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất
nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
[25; tr.603]. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để giai cấp tư sản tồn
tại, “giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ
sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa
toàn bộ những quan hệ xã hội” [25; tr.600 - 601]. Guồng máy sản xuất và trao đổi vì
mục tiêu lợi nhuận không ngừng tăng tốc, vận hành hết công suất.
12
Với những cải biến về công cụ sản xuất, về phát kiến địa lý bằng việc tìm ra Châu
Mĩ và con đường vòng quanh thế giới, Tuyên ngôn cho rằng, “việc tìm ra Châu Mĩ
và con đường biển vòng Châu Phi đã đem lại một địa bàn hoạt động mới cho giai
cấp tư sản vừa mới ra đời. Những thị trường Đông - Ấn và Trung Quốc, việc thực
dân hóa Châu Mỹ, việc buôn bán với thuộc địa, việc tăng thêm nhiều tư liệu trao đổi
và nói chung tăng thêm nhiều hàng hóa, đã đem lại cho thương nghiệp, cho ngành
hàng hải, cho công nghiệp, một sự phát đạt chưa từng có, và do đấy, đã đem lại một
sự phát triển mau chóng cho yếu tố cách mạng trong xã hội phong kiến đang tan rã”
[25; tr.597 - 598].
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới quá trình kinh tế thế giới đã được các
ông nhìn nhận sâu sắc: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thị trường mà
việc tìm ra Châu Mĩ đã chuẩn bị sẵn. Thị trường thế giới thúc đẩy cho thương nghiệp,
hàng hải, những phương tiện giao thông tiến bộ phát triển mau chóng lạ thường. Sự
phát triển này lại tác động trở lại đến việc mở rộng công nghiệp; mà công nghiệp,
thương nghiệp, hàng hải, đường sắt càng phát triển thì giai cấp tư sản càng lớn lên,
làm tăng những tư bản của họ và đẩy các giai cấp do thời trung cổ để lại xuống phía
sau” [25; tr.598].
Giai cấp tư sản cũng đã có công lao rất lớn trong việc mở rộng thị trường ra toàn thế
giới, đã làm cho sản xuất và tiêu dùng gắn bó mật thiết với nhau trên phạm vi vô cùng
phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tầu bè đi lại được,
hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên, - có thế kỷ nào trước đây lại ngờ
được rằng có những lực lượng như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội”
[25; tr.602 - 603].
Bên cạnh đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã chỉ ra rằng, trong mối quan hệ hữu cơ
giữa kinh tế và chính trị, mỗi bước phát triển về mặt kinh tế tạo ra một sự thích ứng về
chính trị và giai cấp tư sản, thông qua việc tạo dựng nền đại công nghiệp cơ khí, phát
triển thị trường thế giới, đã khẳng định, xác lập được quyền thống trị chính trị của
mình đối với xã hội. Thông qua bộ máy nhà nước, giai cấp tư sản duy trì, củng cố quan
hệ sản xuất TBCN, tranh thủ những điều kiện tốt nhất cho giai cấp mình. Với ưu thế
về hàng hóa cạnh tranh, phương thức sản xuất TBCN đã phá hủy cơ cấu truyền thống
của các nước lạc hậu, lôi cuốn nhiều dân tộc vào con đường phát triển TBCN và giai
cấp tư sản tạo ra cho nó một thế giới theo hình ảnh của nó. Vai trò lịch sử của CNTB
còn ở chỗ tạo lập cơ cấu xã hội, giai cấp theo hướng hình thành các giai cấp đối địch
nhau, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
14
Hơn nữa, giai cấp tư sản cũng đã thiết lập được nền dân chủ tư sản, tuy là nền dân
chủ cắt xén nhưng so với chế độ quân chủ chuyên chế thì đó là một tiến bộ trong lịch
sử.
Mặt khác, giai cấp tư sản đã tạo điều kiện cho sự phát triển của khoa học kĩ thuật.
Đồng thời sẽ xóa bỏ tất cả những gì không phù hợp với lợi ích của bản thân giai cấp tư
sản. Giai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử. Chính giai cấp tư
sản là giai cấp đàu tiên chỉ ra cho chúng ta thấy rõ loài người có khả năng làm được
những gì.
Đánh giá khách quan công lao của giai cấp tư sản đối với sự phát triển của xã hội
loài người, Tuyên ngôn cũng vạch ra những khuyết tật thuộc bản chất của phương thức
sản xuất TBCN, vạch ra những mâu thuẫn không thể giải quyết nổi của phương thức
sản xuất này để tất yếu dẫn đến sự thay thế nó bằng phương thức sản xuất khác. Đồng
thời với việc giải phóng con người khỏi những ràng buộc của xã hội phong kiến, giai
cấp tư sản đã quàng lên họ sợi xích khắc nghiệt hơn - sợi xích nối liền giữa một bên là
lượng sản xuất; mặt khác, chiếm những thị trường mới và bóc lột triệt để thị trường cũ.
Nhưng như Mác và Ăngghen khẳng định, điều đó dẫn đến chỗ sửa soạn cho những
cuộc khủng hoảng toàn diện hơn, ghê gớm hơn và làm giảm bớt những biện pháp ngăn
ngừa cuộc khủng hoảng ấy.
Trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “xã hội tư sản hiện đại, sinh ra từ
trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, không xóa bỏ được những đối kháng giai
cấp. Nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức
đấu tranh mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức
đấu tranh cũ mà thôi” [25; tr.597].
Mọi sự đối phó, điều chỉnh trong khuôn khổ của CNTB đều không giải quyết triệt
để những mâu thuẫn chủ yếu của nó, không làm thay đổi bản chất của xã hội tư bản và
giai cấp tư sản. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến sự diệt vong của quan hệ sở hữu tư sản, sự
diệt vong của phương thức sản xuất TBCN cũng như sự diệt vong đã xảy ra với các
phương thức sản xuất trước đó.
Như vậy là, giai cấp tư sản đã làm cho nền sản xuất mang tính chất xã hội. Nhưng
chế độ tư hữu TBCN lại mâu thuẫn không thể điều hòa với tính chất xã hội của nền
sản xuất ấy. Đến một giai đoạn phát triển nào đó, quan hệ sản xuất TB trở nên không
phù hợp với lực lượng sản xuất ngày càng lớn mạnh và những quan hệ đó bắt đầu kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất “những lực lượng sản xuất mà xã hội sẵn có
không thúc đẩy quan hệ sở hữu tư sản phát triển nữa; trái lại, chúng đã trở thành quá
mạnh đối với quan hệ sở hữu ấy, cái quan hệ sở hữu lúc đó đang cản trở sự phát triển
16
của chúng … những quan hệ tư sản đã trở thành quá hẹp, không đủ để chứa đựng
những của cải đã được tạo ra trong lòng nó nữa” [25; tr.604 - 605]. Sự phát triển của
nền sản xuất TBCN đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ tư hữu tư sản đó và đã chuẩn bị những
tiền đề khách quan cho quá trình đó. Mác và Ăngghen chỉ ra rằng, quá trình đó không
diễn ra một cách tự động, người đào huyệt chôn chế độ TBCN là giai cấp vô sản do
chính xã hội tư bản đẻ ra. “Giai cấp tư sản không những đã rèn vũ khí sẽ giết mình; nó
còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, - đó là những công nhân hiện
đại, những người vô sản” [25; tr.605].
một giai cấp rồi, vì nó là một lực lượng xã hội đối lập với tư bản. Song xét về mặt
chính trị và tư tưởng thì nó chưa hình thành hẳn hoi, vì nó chưa ý thức được mình là
một lực lượng độc lập, chưa ý thức được vị trí của mình trong quá trình lịch sử. Giai
đoạn thứ hai là giai đoạn giai cấp vô sản (hoặc ít ra là đội tiên phong của nó) ý thức
được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ xã hội, hiểu được sứ mệnh lịch sử của
mình, tham gia đông đảo vào cuộc đấu tranh có tổ chức để thực hiện sứ mệnh lịch sử
ấy. Giai cấp vô sản trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Bị giai cấp tư sản
bóc lột, áp bức nên cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản bắt đầu ngay từ lúc giai cấp
vô sản mới ra đời, trải qua các giai đoạn từ tự phát đến tự giác. C.Mác và Ph.Ăngghen
đã chỉ rõ địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản quy định một cách khách quan sứ
mệnh lịch sử của nó. Giai cấp vô sản bao gồm những người lao động làm thuê cho các
nhà tư bản, không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động để sống hàng ngày
“những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng
hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác; vì thế, họ phải
chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ
như nhau” [25; tr.605]. “Họ không những là nô lệ của giai cấp tư sản, của nhà nước
tư bản mà hàng ngày, hằng giờ còn là nô lệ của máy móc, của đốc công và chủ công
xưởng” [25; tr.606]. Giai cấp vô sản là sản phẩm của chính nền đại công nghiệp, - là
một bộ phận của lực lượng sản xuất TBCN, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến.
Do vậy, chỉ có giai cấp vô sản mới thực sự là giai cấp cách mạng triệt để nhất trong
tiến trình giải phóng lao động, giải phóng nền sản xuất khỏi sự kìm hãm của nền sản
xuất tư nhân TBCN.
Cũng giống như trong “Bản thảo kinh tế - triết học 1844”, Mác và Ăngghen cũng
xuất phát từ mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm đối tượng nghiên cứu. Nó được
xem là mâu thuẫn cơ bản của thời đại. Mâu thuẫn đó thể hiện trước hết là ở chỗ lao
động của công nhân tạo ra tư bản, nghĩa là tạo ra sở hữu, là cái mà nó sẽ bóc lột lao
động của công nhân, được luân chuyển và lớn lên chỉ nhờ có sự bóc lột này để rồi lại
18
được luân chuyển, lớn lên và bóc lột trong những khuôn khổ mới, càng to lớn hơn.
Theo nghĩa đó, sự luân chuyển của tư bản nói lên sự tăng len không bị một cái gì che
19
lượng thù địch. Mặt khác, nó do nền sản xuất TBCN tư hữu sản sinh ra, gắn với nền
sản xuất ấy bằng tất cả mọi điều kiện lao động và sinh sống. Mọi sự thay đổi trong
hoạt động của tư bản và trong việc tổ chức nền sản xuất TBCN đều động chạm đến lợi
ích thiết thân của giai cấp vô sản. Hơn nữa, như Mác nói, giai cấp công nhân tham gia
nền sản xuất TBCN do sự phát triển tự nhiên của nền sản xuất ấy.
Do địa vị khách quan của giai cấp vô sản, với tư cách là giai cấp gồm những người
không có tư hữu, bán sức lao động của mình và bị bóc lột, nên đã nảy sinh xu hướng
phát triển chủ đạo, cách mạng của giai cấp đó. Đó là xu hướng đấu tranh kiên quyết,
không thỏa hiệp với CNTB. Do sự tham gia khách quan vào nền sản xuất TBCN và
thừa nhận những điều kiện của phương thức sản xuất ấy, nên phong trào công nhân có
xu hướng thỏa hiệp về mặt xã hội dưới những hình thức này hay những hình thức
khác; trong những giai đoạn nhất định và trong những điều kiện nhất định, xu hướng
ấy có thể thu hút bộ phận này hay bộ phận khác của giai cấp công nhân. Rốt cuộc, xu
hướng chiến thắng vẫn là xu hướng cách mạng, nhưng nó chiến thắng trong cuộc đấu
tranh chống thỏa hiệp.
Gắn chặt và quyện chặt với mâu thuẫn kể trên có một mâu thuẫn khác nữa: Một
mặt, những người vô sản được toàn bộ quá trình sản xuất TBCN, sự tổ chức lao động
trong các xí nghiệp lớn và cuộc đấu tranh giai cấp được tổ chức, đoàn kết, giáo dục,
rèn luyện, tập hợp lại. Trong quá trình đó, giai cấp vô sản ý thức được rằng mình là
một lực lượng cách mạng hùng hậu, thắng lợi của cuộc đấu tranh của nó tùy thuộc vào
sự đoàn kết giai cấp. Sự lớn mạnh, sự đoàn kết của giai cấp vô sản là một quy luật
lịch sử. Mặt khác, như đã nói trong Tuyên ngôn: “Sự tổ chức như vậy của những
người vô sản thành giai cấp và do đó thành chính đảng, luôn luôn bị sự cạnh tranh
với nhau giữa công nhân phá vỡ” [25; tr.609]. Sự cạnh tranh như vậy là công cụ cho
giai cấp tư sản chống lại giai cấp vô sản. Nó tạo ra môi trường nuôi dưỡng chính sách
chia rẽ giai cấp công nhân thuộc các nhóm nghề nghiệp khác nhau, để giai cấp tư sản
thực hiện những mánh khóe mị dân về mặt xã hội.
Những quá trình khách quan, và trước hết là sự phát triển của lực lượng sản xuất,
góp phần khắc phục xu hướng chia rẽ; song điều đó đòi hỏi phải có những hành động
đấu tranh chống giai cấp tư sản thì chẳng qua họ đấu tranh với tư cách là những tầng
lớp trung gian, nếu họ có thái độ cách mạng thì chẳng qua họ nhìn thấy nguy cơ mình
sẽ rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản, “lúc đó, họ bảo vệ lợi ích tương lai của họ,
chứ không phải lợi ích hiện tại của họ” [25; tr.610].
Tất cả các phong trào đấu tranh trong lịch sử trước kia đều do thiểu số thực hiện
nhằm mưu cầu lợi ích cho thiểu số. Còn “phong trào vô sản là phong trào độc lập
21
của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số. Giai cấp vô sản, tầng lớp ở bên
dưới nhất của xã hội hiện tại, không thể vùng dậy, vươn mình lên nếu không làm nổ
tung toàn bộ cái thượng tầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội”
[25; tr.611].Chỉ có giai cấp vô sản mới thực hiện được cuộc cách mạng nhân dân sâu
sắc nhất trong lịch sử. Các cuộc cách mạng xã hội trước đây mưu lợi chủ yếu cho một
thiểu số, và sau khi giành được chính quyền, giai cấp thống trị lập tức phản bội lại
nhân dân. Cách mạng XHCN mưu lợi cho đại đa số nhân dân lao động, lôi cuốn đa số
nhân dân tham gia và đi cùng nhân dân cho đến khi lao động và nhân loại được giải
phóng một cách triệt để. Điều đó có thể thực hiện được do lợi ích của giai cấp công
nhân - giai cấp lãnh đạo cách mạng - về cơ bản, thống nhất với lợi ích của đa số nhân
dân lao động. Rõ ràng, khi giai cấp vô sản vùng lên đấu tranh là họ đấu tranh cho
quyền lợi của toàn thể những người lao động trong xã hội chứ không chỉ giành quyền
lợi, lợi ích cho mỗi giai cấp mình. Chính vì vậy, phong trào vô sản sẽ được đông đảo
quần chúng ủng hộ, tham gia.
Mặt khác, giai cấp vô sản được nền đại công nghiệp “tuyển lựa” từ tất cả các giai
cấp trong dân cư mà chủ yếu là nông dân. “Những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương
nghiệp và người thực lợi nhỏ, thợ thủ công và nông dân là những tầng lớp dưới của
tầng lớp trung đẳng xưa kia, đều bị rơi xuống hàng ngũ giai cấp vô sản, một phần vì số
vốn ít ỏi của họ không đủ cho phép họ quản lý những xí nghiệp đại công nghiệp, nên họ
bị sự cạnh tranh của bọn tư bản lớn hơn đánh bại, một phần vì sự khéo léo nhà nghề
của họ bị những phương pháp sản xuất mới làm giảm giá trị đi” [25; tr.606].Cùng với
sự phát triển không ngừng của sản xuất đại công nghiệp, giai cấp công nhân không
ngừng lớn lên về mặt số lượng và chất lượng, là giai cấp gắn liền với nền đại công
cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào
chính ngay giai cấp tư sản” [25; tr.605] và “giai cấp tư sản đã cung cấp cho những
người vô sản những tri thức chính trị và tri thức phổ thông của bản thân nó, nghĩa là
những vũ khí chống lại bản thân nó” [25; tr.609].
Trên một mức độ không nhỏ, sự phát triển tinh thần của giai cấp vô sản được thúc
đẩy bởi những biến chuyển trong kết cấu xã hội của xã hội do sự phát triển của CNTB
đưa lại. Một mặt, sự xói mòn của các tập đoàn xã hội trung gian đông đảo và mặt khác,
sự mở rộng không ngừng số lượng của giai cấp công nhân dẫn đến chỗ một số đại
biểu, cũng như toàn bộ tầng lớp, giai cấp những kẻ sở hữu bị đẩy vào hàng ngũ giai
cấp vô sản. Họ mang theo những yếu tố học vấn, quá trình này càng sâu thì những yếu
tố đó càng lớn.
23
Do phá sản, do không theo kịp sự phát triển của nền đại công nghiệp nên từng bộ
phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản. Lực lượng
này cũng góp một phần không nhỏ vào hoạt động chính trị của giai cấp vô sản. “Từng
bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị sự tiến bộ của công nghiệp đẩy vào hàng
ngũ giai cấp vô sản, hay ít ra thì cũng bị đe dọa về mặt những điều kiện sinh hoạt của
họ. Những bộ phận ấy cũng đem lại cho giai cấp vô sản nhiều tri thức” [25; tr.609].
Một điều nữa có ý nghĩa quan trọng là trong những thời kỳ mà cuộc đấu tranh
giai cấp đạt đến chỗ ác liệt nhất, thì quá trình phân hóa trong nội bộ giai cấp thống trị
mang tính chất mãnh liệt và dữ dội đến nỗi một bộ phận nhỏ của giai cấp thống trị tách
khỏi giai cấp này và đi theo giai cấp cách mạng là giai cấp nắm tương lai trong tay.
Vậy là có một bộ phận của giai cấp tư sản chuyển sang lập trường giai cấp vô sản, đó
là bộ phận những nhà tư tưởng tư sản đã vươn lên nhận thức được về mặt lý luận toàn
bộ quá trình vận động lịch sử đã đứng sang hàng ngũ của giai cấp vô sản. Lực lượng
này cũng góp một phần không nhỏ vào hoạt động chính trị của giai cấp vô sản.
Giai cấp vô sản luôn bị áp bức cùng cực bởi giai cấp tư sản. Vì giai cấp vô sản là
lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội tư bản, sản xuất ra phần lớn của cải vật chất cho
xã hội nhưng lại bị giai cấp tư sản bóc lột và tước mất quyền sử dụng và kiểm soát
việc sử dụng nguồn của cải do chính họ làm ra. “Nhưng muốn áp bức một giai cấp nào