CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN CỦA PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ VỚI TRIẾT HỌC MÁC - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Viện Đào Tạo Sau Đại Học
  
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài 11:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN CỦA PHOIƠBẮC
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ VỚI TRIẾT HỌC MÁC
TP Hồ Chí Minh
Tháng 12/ 2014
GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
Học viên: Nguyễn Văn Kế
STT : 44
Nhóm : 6
Tiểu luận triết học
I. TỔNG QUAN
1. Giới thiệu
L. Phoiơbắc (Ludwig Feuerbach, 1804 P- 1872) là nhà triết học duy vật nổi tiếng
duy nhất trong nền triết học cổ điển Đức, bậc tiền bối của triết học Mác. Đại biểu
cuối cùng của một trào lưu triết học đặc sắc, Người đã viết chương cuối cùng hùng
tráng trên cơ sơ của chủ nghĩa duy vật và vô thần để kết thúc bản giao hưởng “Triết
học cổ điển Đức”. Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa nhân bản.
Triết học của ông đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII và làm
sinh động thế giới quan duy vật khoa học bấy giờ. Phoiơbắc cho rằng mình có sứ
mạng phải xây dựng một nền triết học mới – triết học về chính con người để tạo cho
con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian. Xuất phát từ quan điểm
này mà Phoiơbắc đã coi con người là đối tượng nghiên cứu của triết học. Ông cho
rằng, xưa nay triết học nghiên cứu quan hệ giữa tư duy và tồn tại, nhưng đây lại là
vấn đề thuộc về bản chất của con người; bởi vì, chỉ có con người đang sống, đang tồn
tại mới có tư duy. Ông luôn nhấn mạnh, chỉ khi xuất phát từ gốc độ đó thì vấn đề về

quan niệm của ông về tôn giáo, về đạo đức. Phoiơbắc không thấy rằng bản thân "tình
cảm tôn giáo cũng là một sản phẩm xã hội" (Mac). Đạo đức học cũng được Phoiơbắc
xây dựng theo những nguyên lí của chủ nghĩa nhân bản. Phoiơbắc tuyên bố đạo đức
phải dựa trên ước vọng của con người muốn thoả mãn nhu cầu, muốn được hưởng
hạnh phúc. Theo Phoiơắc, bất bình đẳng xã hội là hiện tượng ngẫu nhiên, đi chệch
"bản chất" chân thật của con người, và có thể khắc phục được bằng cách thấm nhuần
thứ tôn giáo mới - "tôn giáo của tình yêu". Sự phê phán của Phoiơbắc đối với triết
học duy tâm Hêghen và tôn giáo có tác dụng giải phóng tư tưởng lớn lao, nhưng
Phoiơbắc lại loại bỏ luôn cả phép biện chứng của Hêghen G. W. F. (G. W. F. Hegel)
và sau này Mac và Enghen kế thừa phát huy giá trị to lớn triết học phép biện chứng
của Hêghen và Chủ nghĩa duy vật nhân bản của triết học Phoiơbắc.
2.2. Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Triết học của Hêghen tin rằng tôn giáo, các khái niệm của tinh thần tuyệt đối
thống trị thế giới hiện thực. Thời này triết học Hêghen chia làm hai phái, phái Hêghen
Nguyễn Văn Kế
Tiểu luận triết học
già ủng hộ sự thống trị đó, thì những người theo phái Hêghen trẻ trong đó có
L.Phoiơbắc, ngược lại, chống lại sự thống trị trên, coi chúng là những xiềng xích trói
buộc con người. Về sau, chịu ảnh hưởng của các nhà Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII,
Phoiơbắc quay sang phê phán người thầy của mình và ngày càng ngả sang lập trường
duy vật. Hạn chế cơ bản nhất của triết học Hêghen, theo Phoiơbắc là bởi tính duy tâm
của nó trong việc giải quyết vấn đề quan hệ giữa con người và tự nhiên, coi toàn bộ
thế gới hiện thực chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối được hiểu như một lực lượng
siêu nhiên.
Đối lập với Hêghen, Phoiơbắc cho rằng con người không phải là nô lệ của
thượng đế hay tinh thần tuyệt đối, mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá
trình phát triển của tự nhiên, là cái cao quý nhất mà giới tự nhiên có được. Phải giải
quyết vấn đề quan hệ tư duy – tồn tại trên lập trường duy vật. Tư duy là chức năng
của một dạng vật chất có tổ chức cao, là cơ thể con người, coi con người là sự thể
hiện hoàn hảo mối quan hệ tư duy – tồn tại. Phoiơbắc khẳng định chỉ có thể giải

Phê phán chủ nghĩa duy tâm Hêgen trong nhận thức, Phoiơbắc cho rằng,
không phải cuộc sống diễn ra theo đồ thức luận tư duy sẵn có, mà ngược lại, đồ thức
luận ấy cần được làm mới, điều chỉnh thường xuyên bằng chất liệu của cuộc sống,
chịu sự phán quyết của những điều kiện sống. "Chân lý - Phoiơbắc viết, không nằm
trong tư duy và trong tri thức như cái tự thân tự tại. Chân lý ở ngay trong cuộc sống
và trong bản chất con người". Do đó, Phoiơbắc vạch ra nhiệm vụ của triết học là, từ
sự "nhận thức cái đang có", nhận thức bản chất sự vật như nó thể hiện ra cho chủ thể,
cần suy nghĩ về cái cần có trong tương lai. Khi triết học hướng đến thực tiễn nó thể
hiện mình như triết học của con người và vì con người, đồng thời đặt con người trong
sự thống nhất hài hoà với tự nhiên. Phoiơbắc nhấn mạnh: "Triết học là khoa học về
thực tiễn, song tổng thể thực tiễn là tự nhiên. Sự hoang tưởng đối lập với tự do tự
nhiên, nhưng tự nhiên không đối lập với tự do hợp lý trí".
Mỗi thời đại chỉ có thể giải quyết những nhiệm vụ phù hợp với khá năng hiện
có, song không vì thế mà đào hố sâu ngăn cách giữa khả năng thực tế và khát vọng
của con người. Phoiơbắc khẳng định: "Những gì chúng ta còn chưa nhận thức được,
con cháu chúng ta sẽ nhận thức". Theo ông, con người cần bắt đầu từ tính cảm giác
như từ cái đơn giản, rõ ràng và dễ bộc lộ nhất. Cảm giác là điểm khởi đầu của nhận
thức, liên kết con người với thế giới xung quanh. Cảm giác mang tính chủ quan,
nhưng cơ sở và nguyên nhân của nó lại mang tính khách quan. Sự khái quát hoá, trừu
Nguyễn Văn Kế
Tiểu luận triết học
tượng hoá từ các dữ liệu cảm tính ở nấc thang cao nhất lý tính, nhận thức của con
người trở nên hoàn thiện hơn. Thực ra, trong phê phán lý tính thuần tuý. Cantơ đã
trình bày vấn đề này khá sâu sắc, đã vạch ra sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và
tư duy giác tính (trực quan thiếu tư duy sẽ mù quáng, tư duy thiếu trực quan sẽ trống
rỗng).
Phoiơbắc cũng phê phán chủ nghĩa duy tâm về con người, theo Phoiơbắc con
người bằng xương, bằng thịt - sản phẩm hoàn thiện tưởng cải cách trong lý luận về
con người - vấn đề chủ đạo của thuyết nhân bản, hay nhân loại học. Phoiơbắc cho
rằng thuyết nhân bản vượt qua cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm, vì nó xuất

được tri giác cảm tính. Theo bản chất của mình, tri giác cảm tính là trực tiếp nhưng
cũng có thể là gián tiếp, nghĩa là nó đem lại sự minh chứng gián tiếp về cái mà ta
không thể nhìn, không thể nghe và không thể sờ mó được. Chủ thể nhận thức cũng
không phải là lý tính lô gich trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại trong thực
tế, có cảm giác và lý trí. Nhờ vào năng lực cảu cảm giác và lý trí mà con người có
khả năng nhận thức được đầy đủ giới tự nhiên.
2.2.3. Quan niệm về tôn giáo
Tôn giáo, theo Phoiơbắc là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất
con người. Người ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin và an ủi. Bản chất của thần học,
do vậy, được chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong
phú của con người. Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các
vấn đề xã hội, là sự thể hiện bản chất con người như thế. Thực ra Phơbách khẳng
định, bản chất thần thánh không là cái gì khác, mà là bản chất của con người, nhưng
đã được tinh chế, khách quan hóa, tách rời với con người hiện thực bằng xương bằng
thịt. Tóm lại, tôn giáo, trong quan niệm của nhà duy vật Đức, là bản chất con người
đã bị tha hóa.
Những quan niệm trên đây của Phoiơbắc đã vạch ra được nguồn gốc tâm lý,
tình cảm và tâm linh của con người đối với tôn giáo, cũng như nội dung nhân bản
trong các quan niệm thần thánh, nhưng chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế, chính trị
- xã hội và văn hóa. Đây cũng là hạn chế chung của các nhà tư tưởng trước Mác trong
việc giải quyết nguồn gốc và bản chất của tôn giáo. Thực tế Phoiơbắc chỉ phê phán
Cơ đốc giáo. Còn tôn giáo theo ông vẫn là điều cần thiết đối với đời sống con người.
Cho nên thay vào Cơ đốc giáo, con người “cần một tôn giáo mới”, vì chỉ có tín
ngưỡng, niềm tin mới an ủi được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời
Nguyễn Văn Kế
Tiểu luận triết học
con người. Đúng như Ph.Ănghen nhận xét “Phoiơbắc hoàn toàn không muốn xóa bỏ
tôn giáo, ông muốn hoàn thiện tôn giáo. Theo Phoiơbắc, tôn giáo là mối quan hệ
thương yêu giữa người với người…trong tình thương yêu giữa Tôi và Anh”. Thứ tôn
giáo mà Phoiơbắc đề cao và hiểu theo nghĩa của ông, đó là tôn giáo tình yêu, là quan

tộc, mọi hoàn cảnh và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở
đâu cả”.
III. NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT
PHOIƠBẮC ĐỐI VỚI TRIẾT HỌC MÁC
3.1. Những giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Phoiơbắc là bậc tiền bối của triết học C.Mác, Phoiơbắc phê phán triết học
Hêghen, Bản chất của đạo cơ đốc giáo. Luận cơ sơ bộ về cải cách triết học, cơ sở của
triết học tương lai, bản chất của tôn giáo, bản chất nhận thức của giới tự nhiên và con
người…đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật và làm sinh động thế giới quan duy vật
khoa học bấy giờ, trong hoàn cảnh chủ nghĩa duy tâm thống trị đời sống tinh thần ở
phương Tây để phát triển chủ nghĩa duy vật them một bước ngoặc lớn trong lịch sử.
Ông đã trình bày sang rõ nhiều quan điểm duy vật, phê phán triệt để chủ nghĩa duy
tâm và cơ đốc giáo, Phoiơbắc đặt con người vào đúng đúng tâm điểm phân tích triết
học. Triết học của ông chất chứa nhiều tính duy vật và nhân bản, là cội nguồn của
triết học Mác.
Triết học cổ điển Đức không chỉ là thành tựu to lớn của tư tưởng nhân loại mà
nó còn là tiền đề lý luận của triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Là
phương pháp biện chứng duy vật, linh hồn của chủ nghĩa Mác là kết quả cải biến chủ
nghĩa duy vật của Phoiơbắc và phát triển phép biện chứng của Hêghen.
3.2. Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Tư tưởng duy vật của phơiơbắc có ảnh hưởng to lớn đối với thế giới triết học
của C.Mác và Ph.Ăngghen. Khi chỉ ra vai trò to lớn của Phơiơbắc trong cuộc đấu
tranh chóng lại chủ nghĩa duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật nhưng
theo C.Mác và Ph.Ăngghen triết học của ông chưa vượt khỏi những hạn chế của lịch
sử của chủ nghĩa duy vật.
C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra ba hạn chế lớn là: thứ nhất là, Chủ nghĩa duy vật
ở thời kỳ đó chủ yếu là có tính máy móc, thứ hai là chủ nghĩa duy vật đó có đặt trưng
siêu hình tức là không phải là biện chứng, thứ ba là chủ nghĩa duy vật đó không triệt
để, duy tâm trong cách hiểu về các hiện tượng xã hội.
Nguyễn Văn Kế

giống như mối quan hệ giữa cái riêng, cái đặc thù, cái ngẫu nhiên với cái chung, cái
Nguyễn Văn Kế
Tiểu luận triết học
phổ quát – tất yếu, trong đó yếu tố xã hội đóng vai trò quyết định. Nếu không hiểu
mối quan hệ biện chứng này thì dễ rơi vào quan điểm duy tâm, siêu hình – không
hiểu thực chất của tính đa dạng trong đời sống xã hội. Do không hiểu được mối quan
hệ giữa đời sống của mỗi cá nhân với đời sống của xã hội nói chung, đặc biệt là sự
phân công lao động, nên “quan niệm của L.Phoiơbắc về thế giới cảm giác được chỉ
giới hạn một mặt ở sự ngắm nhìn thế giới đó và mặt khác, ở cảm giác đơn thuần.
L.Phoiơbắc nói “con người với tính cách là con người”, chứ không nói “con người
lịch sử, hiện thực”, “con người với tính cách là con người”
L.Phoiơbắc chỉ nhìn thấy sự khác biệt cơ bản giữa con người và các loài
động vật khác về phương diện nhận thức mà không thấy rằng, sự khác biệt đó được
bắt đầu từ hành vi sản xuất vật chất. Đây là một hạn chế mang tính phổ biến của chủ
nghĩa duy vật trước Mác, mà điển hình là chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc. Vận
dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc xem xét lịch sử, C.Mác
và Ph.Ăngghen cho rằng, “tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên
là sự tồn tại của những cá nhân con người sống. Hành động lịch sử đầu tiên của
những cá nhân đó, hành động mà nhờ đó họ khác với loài vật, không phải là việc họ
tư duy mà là việc họ bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho họ…
Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng
bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay
khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước
tiến do tổ chức cơ thể con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình,
như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”. Theo đó,
sự khác biệt giữa con người và con vật về phương diện tư duy như quan niệm của
L.Phoiơbắc chỉ là sự khác biệt mang tính phái sinh mà thôi, còn nguyên nhân cơ bản
của sự khác biệt đó nằm ngay trong đời sống vật chất của con người.
L.Phoiơbắc không nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa đời sống vật chất
và đời sống tinh thần, chính vì vậy, ông không thể lý giải được một cách duy vật quá

định những lực lượng sản xuất”. Như vậy, lịch sử không phải được thực hiện bằng
các khát vọng cá nhân mà lịch sử chính là một quá trình hiện thực vật chất, vì “sự
biến đổi lịch sử thành lịch sử toàn thế giới không phải là hành vi trừu tượng nào đó
của “tự ý thức”, của tinh thần thế giới hay mà là một hành động hoàn toàn vật chất.
Về vấn đề tôn giáo, Phơiơbắc không đặt ra xóa bỏ tôn giáo mà muốn hoàn
thiện nó triết học cũng phải hòa vào tôn giáo. Ông còn coi các triều đại loài người
Nguyễn Văn Kế
Tiểu luận triết học
chỉ khác nhau ở sự thay đổi về phương diện tôn giáo. Tôn giáo theo ông là ở mối
quan hệ thương yêu giữa người với người và tình yêu nam nữ là hình thức cao nhất.
Như vậy, chủ nghĩa duy tâm của Phơiơbắc, theo C.Mác và Ph.Ăngghen là ở chỗ ông
coi mối quan hệ thuần túy giữa người với người là tôn giáo, dựa trên cảm tính đối
với nhau….Đối với ông, điều chủ yếu không phải là quan hệ thuần túy giữa người
với người tồn tại, mà là ở chỗ những quan hệ đó phải được coi là một thứ tôn giáo
mới, chân chính. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng phê phán luận điểm sai lầm của
phoiơbắc coi các triều đại loài người chỉ khác nhau về phương diện tôn giáo.
Trong vấn đề đạo đức, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, Phơiơbắc hoàn toàn duy
tâm khi coi lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh của con người, do đó nó phải là
cơ sở của đạo đức. Để thực hiện lòng mong muốn hạnh phúc đó, ông đòi hỏi phải có
sự tự hạn chế hợp lý của bản thân và tình yêu giữa người với người lại trở thành
những quy tắc cưa đạo đức. Bằng sự bóc lột giai cấp trong xã hội có sự đối kháng
giai cấp và sự bất bình đẳng xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán về đạo đức của
Phơiơbắc “ nó được giọt giũa cho thích hợp với mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi hoàn
cảnh và chính vì thế mà nó không bao giờ có thể đem áp dụng được ở đâu cả, cả đối
với thế giới hiện thực”. Như vậy, quan điểm về đạo đức của Phơiơbắc vẫn chưa
thoát khỏi sự trừu tượng, vì ông hiểu con người một cách trừu tượng phi lịch sử,
không thấy con người là sản phẩm của xã hội, của lịch sử và con người là chủ thể
của hoạt động. Điều đó thể hiện rất chính xác sự nhận xét của C.Mác và Ph.Ăngghen
rằng, Phơiơbắc “Bám hết sức chặt lấy hết tự nhiên và con người. Ông không biết nói
với chúng ta một cách gì chính xác về tự nhiên hiện thực cũng như con người hiên

Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với triết học Mác có
một vai trò rất lớn đến sự ra đời của triết học Mác không chỉ do ảnh hưởng của
triết học Phoiơbắc mà còn triết hoc Hêghen. Mác và Ăngghen khi tham gia tích
cực vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đã rút ra những tài liệu thực tiễn
phong phú cho những kết luận duy vật-biện chứng của mình. Ngoài ra, việc
hai Mác và Ăngghen đi sâu nghiên cứu kinh tế-chính trị học cổ điển và chủ
nghĩa xã hội không tưởng phê phán, đã góp phần không nhỏ cho sự hình thành
và hoàn thiện thế giới quan triết học của mình.
Nguyễn Văn Kế
Tiểu luận triết học
IV. KẾT LUẬN
L.Phoiơbắc Là một trong những nhà triết học duy vật lớn nhất thời kỳ trước
C.Mác. Công lao vĩ đại của Phoiơbăc là ở chỗ trong cuộc đấu tranh chống lại chủ
nghĩa duy tâm và thần học, khôi phục lại địa vị xứng đáng của triết học duy vật, đã
giáng một đòn rất nặng vào triết học duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy tâm nói
chung. Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc là xoá bỏ sự tách rời giữa tinh thần
và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tao ra.
Tuy nhiên, triết học nhân bản của Phoiơbắc cũng bộc lộ những hạn chế. Khi
ông đòi hỏi triết học mới - triết học nhân bản - phải gắn liền với tự nhiên thì đồng
thời đã đứng luôn trên lập trường của chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng
thuộc về con người và xã hội. Phoiơbắc nói răng, bản tính con người là tình yêu, tôn
giáo cũng là một tình yêu. Vì vậy, cần xây dựng một tôn giáo mới phù hợp với tình
yêu của con người. Phoiơbắc cho rằng càn phải biến tình yêu thương của con người
thành quan hệ chi phối mọi quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội. Trong điều
kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo
về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm.
Nhưng công lao to lớn của Phoiơbắc còn ở chỗ, ông không chỉ đấu tranh
chống chủ nghĩa duy tâm mà còn đấu tranh chống lại những người duy vật tầm
thường. Phoiơbắc công nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới.
Phoiơbắc đã kịch liệt phê phán những người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết

3. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Bộ Giáo dục và Đào tạo), NXB CTQG, H,
2002.
Nguyễn Văn Kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status