Giải pháp thực hiện chiến lược phát triển thương mại của nước CHNCND Lào giai đoạn 2008 - 2010 - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hiện nay các nước trên thế giới nói chung và các nước láng giềng nói riêng đã
và đang thực hiện quá trình hội nhập kinh tế, mở của kinh kinh với bên ngoài
trên thế giới để nhằm tăng cường phát triển kinh tế trong nước. Nước
CHDCND Lào cũng là một nước đang thực hiện việc hội nhập và mở cưa
kinh tế (ước tính là cuối năm 2008 này Lào sẽ vào WTO ). Muốn được nhưng
vậy cần phải phát triển thương mại trong nước cho thật tốt thay vì việc đuổi
theo các nước đã phát triển, phải phát hiện những vấn đề còn tồn tại và và xây
dựng biện pháp khác phục nhưng tồn tại đó, khai thác và phát triển những thế
mạnh của mình để nâng cao hiệu quả việc hội nhập.
Theo nghị định của Đại hội Đảng lần thứ VIII của nước CHDCND Lào đã
quy định là nước CHDCND Lào sẽ tăng cường vấn đề xoá đói giảm nghèo,
đến năm 2015 thu nhập bình quân đầu người phải đạt 800 USD/người, xây
dựng đất nước để đạt được nước công nghiệp hoá hiện đại hoá trong năm
2020 . Vậy Thương mại là rất quan trọng trong việc góp phần xây dựng đất
nước trong thời kỳ đổi mới. Cho nên việc thực hiện tốt chiến lược phát triển
thương mại sẽ mang lại hiệu quả tốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội…
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
* Làm rõ các cơ sở lý luận, phương pháp luận về thực hiện chiến lược phát
triển thương mại của Lào trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
* Phân tích , đánh giá thực trạng việc thực hiện chiến lược phát triển thương
mại của Lào trong giai đoạn 2001 - 2007.
* Kiến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược phát
triển của nước CHDCND Lào trong giai đoạn 2008-2010
1
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng: Nghiên cứu tình hình thực hiện chiến lược thương mại của nước
CHDCND Lào
* Phạm vi
- Theo thời gian : Nghiên cứu thương mại của nước CHDCND Lào từ năm

kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển dân số, chiến lược phát triển khoa học
công nghệ, chiến lược phát triển ngành, chiến lược phát triển vùng kinh tế
trọng điểm, chiến lược bảo vệ môi trường, chiến lược kinh doanh, chiến lược
tiêu thụ sản phẩm, chiến lược cạnh tranh, chiến lược Marketing…
- Alfred Chandler (thuộc Đại học Harvard) cho rằng: Chiến lược phát
triển bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, một
ngành, một lĩnh vực nhất định đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến
trình hành động và phân bố các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu
đó trong khoảng thời gian nhất định. Đây là một khái niệm được dùng phổ
biến nhất hiện nay.
- Theo ông James. B. Quin (thuộc Đại học Dartmouth) : Chiến lược là
một dạng thức hoạc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính
sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau. Chiến
lược là nghệ thuật phối hợp các hành động và điều khiển chúng nhằm đạt
được mục tiêu dài hạn.
- Theo quan niểm của Alain Thretart thì chiến lược được xem như một
nghệ thuật mà người ta dùng để chống lại cạnh tranh giành thắng lợi, một
nghệ thuật tạo lập các lợi thế cạnh tranh.
3
- A.C.Martinet quan niệm rằng : Chiến lược là nhằm phác hoạ những quỹ
đạo tiến triển đủ vững chắc và lâu dài, chung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đặt
những hành động chính xác để đạt tới mục tiêu.
- D.Bizzell và nhóm tác giả cho rằng: Chiến lược như là kế hoạch tổng
quát dẫn dắt và hướng một tổ chức, một doanh nghiệp, một ngành, một lĩnh
vực đi đến mục tiêu mong muốn. Nó là cơ sở cho việc định ra các chính sách
và các thủ pháp tác nghiệp.
- M.Porter cho rằng: Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh
tranh vững chắc để phòng thủ.
- Trong giáo trình nổi tiếng của Willam.J.Glueck (Búiness Policy and
Stratergic Management- New York: Mc Graw- Hill, 1980) thì chiến lược được

lược.
Ba là: So với chính sách thì chiến lược phát triển có phạm vi rộng hơn, chính
sách là một công cụ để thực hiện chiến lược nhằm đạt tới mục tiêu của chiến
lược phát triển.
Chiến lược phát triển có những đặc trưng sau đây cần phải tính đến trong quá
trình xây dựng:
- Chiến lược phát triển không phải là một bản thuyết trình chung chung, mà
nó được thể hiện bằng những quan điểm mục tiêu phát triển cụ thể và giải
pháp mang tính chiến lược.
- Chiến lược phát triển phải bảo đảm các nguyên tắc: định hướng, lựa chọn,
khoa học và thực tiễn.
- Chiến lược phát triển không vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để đạt được
mục tiêu mà chỉ ra hướng phát triển của ngành, của đơn vị với những giải
pháp chiến lược cho một khoảng thời gian dài hoặc tương đối dài (thường là
10 năm trở lên).
5
1.1.2 Hệ thống chiến lược phát triển thương mại trong nền kinh tế quốc
dân.
Là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát
triển thương mại mang đầy đủ những đặc tính chung của một chiến lược như:
tính định hướng, tính lựa chọn, tính khoa học và tính thực tiễn. Song hoạt
động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, chiến lược phát triển thương mại
trước hết là chiến lược cấp ngành, định hướng cho sự phát triển của thương
mại.
Thương mại hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên
thị trường, đó là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích thu được lợi nhuận, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá.
Thương mại ra đời do sự phân công lao động xã hội và gắn liền với quá trình
tái sản xuất xã hội. Ngành thương mại là ngành độc lập có vị trí đặc biệt quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thương mại có những chức năng nhiệm vụ

lãnh thổ phối hợp nghiên cứu xây dựng. Chiến lược này dựa vào định hướng
chung về phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ và chiến lược phát triển
thương mại của cả nước trên cơ sở khai thác những lợi thế của vùng để xây
dựng.
- chiến lược phát triển thương mại của tỉnh, thành phố.
Chiến lược phát triển của Tỉnh, Thành phố là do Sở Thương mại của Tỉnh,
Thành phố đó nghiên cứu, xây dựng và được chủ tịch Tỉnh phê duyệt. Chiến
lược này là bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh,
thành phố.
- Chiến lược phát triển thương mại của doanh nghiệp.
Chiến lược này do chính doanh nghiệp xây dựng và tổ chức thực hiện. Nó
xác định rõ mục đích, hướng đi của doanh nghiệp, mặt khác nó cũng bao gồm
7
các giải pháp cơ bản để đạt được mục tiêu chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1.3 Vai trò và những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển thương
mại trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.3.1 Vai trò của chiến lược phát triển thương mại.
A: Vai trò của thương mại trong nền kinh tế quốc dân:
Thương mại có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế trong thời kỳ hội
nhập:
- Tạo điều kiện cơ bản cần thiết cho sản xuất và thúc đẩy hoạt động sản xuất
của vùng lãnh thổ.
Hoạt động thương mại cung cấp dịch vụ và các yếu tố đầu vào của sản xuất,
đảm bảo cho các quá trình sản xuất và tái sản xuất có thể diễn ra thường
xuyên, liên tục. Như việc cung cấp vật tư, phân bón, giống cho sản xuất nông
– lâm nghiệp hoặc nguyên liệu, phương tiện và thiết bị công nghệ - kỹ thuật
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của vùng lãnh thổ.
Đảm bảo đầu ra của sản xuất kinh doanh như bảo quản cất giữ, vận chuyển và
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá của vùng. Đồng thời phục vụ cho các hoạt động

lĩnh vực sản xuất khác (ngoài nông nghiệp) như công nghiệp, tiêu thụ công
nghiệp, khai thác, chế biến, vận tải. Hoạt động thương mại tạo điều kiện cho
thị trường đầu vào và đầu ra của các lĩnh vực hoạt động trên được bảo đảm tốt
hơn. Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu cho phép nhiều cơ sở sản xuất,
dịch vụ đổi mới công nghệ kỹ thuật, mở rộng qui mô và nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh. Do vậy nguồn vốn, vật tư, lao động đầu tư vào lĩnh vực
phi công nghiệp cũng như thu nhập từ các hoạt động này ngày càng gia tăng.
Mặt khác trong quá trình hoạt động kết cấu hạ tầng cơ sở kinh doanh cũng đòi
hỏi phải đầu tư ngày càng nhiều để đảm bảo cho hoạt động thương mại được
thông suất. Tất cả những tác động đó dẫn tới sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu
9
kinh tế của vùng. Trong đó sự dịch chuyển theo xu hướng công nghiệp hoá
thể hiện khá rõ nét và phổ biến.
- Tạo điều kiện cho việc mở rộng thị trường vùng, thúc đẩy sản xuất và lưu
thông hàng hoá phát triển.
Trong khi cung cấp các yếu tố đầu vào và tổ chức tốt đầu ra cho sản xuất
trong vùng thì thương mại cũng đồng thời làm quan hệ giao lưu, trao đổi
trong vùng được mở rộng.
Sự phát triển của hệ thống chợ, trung tâm thương mại và mạng lưới thương
nghiệp làm cho khả năng trao đổi thực tế của hàng hoá tăng lên. Một mặt sản
phẩm từ các cơ sở sản xuất của vùng có thể nhanh chóng đưa ra thị trường.
Mặt khác các loại vật tư, nguyên liệu, hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng ở các
vùng khác nhau có điều kiện thuận lợi hơn sẽ vươn tới làm thay đổi tập quán
và nhu cầu tiêu dùng của dân cư trong vùng.
Tóm lại vai trò thương mại trong hệ thống kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ
nói riêng và của cả nước nói chung là hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn
đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện nền kinh tế - xã hội. Vai
trò của chúng cũng thể hiện đầy đủ, sâu sắc hơn trong điều kiện công nghiệp
hoá, chuyển nền kinh tế sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hoá và kinh tế thị
trường.

- Giúp cho các nhà quản lý thương mại chủ động thích nghi được với môi
trường kinh doanh.
Trong kinh tế thị trường, môi trường trong và ngoài nước thường xuyên biến
động. Những thay đổi nhanh chóng của thị trường sẽ tạo ra các cơ hội và
nguy cơ cho hoạt động thương mại. Chiến lược phát triển thương mại giúp
cho các nhà quản lý vĩ mô chủ động nhận biết trước các thách thức và cơ hội.
Mặt khác cùng với việc xây dựng và từng bước hoàn thiện chiến lược phát
11
triển thương mại sẽ giúp cho các tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp gắn
được các quyết định của mình với các điều kiện môi trường có liên quan.
Thực tế chứng minh rằng, sự biến động và tính đa dạng phức tạp của môi
trường kinh doanh thương mại ngày càng gia tăng theo sự phát triển của nền
kinh tế. Điều đó hơn bao giờ hết đòi hỏi phải có được một chiến lược phát
triển thương mại tối ưu để chủ động đưa ra các quyết định đối phó với từng
môi trường kinh doanh, làm chủ diễn biến tình hình, nâng cao hiệu quả và
quản lý kinh doanh thương mại.
- Tạo điều kiện để mọi nguồn tiềm ẩn được sử dụng và phát huy trong quá
trình phát triển kinh tế đất nước.
Những nguồn lực bên trong và bên ngoài của các vùng cũng như bên trọng
và bên ngoài ngành thương mại được khai thác tận dụng có hiệu quả hơn. Vì
chiến lược sẽ chỉ rõ khi nào sẽ tập trung các nguồn lực, tích luỹ các nguồn lực
ra sao và phân bổ như thế nào là hợp lý. Sự cân đối giữa nhu cầu và khả năng
nguồn lực trong một khoảng thời gian tương đối dài sẽ cho phép chủ động sử
dụng hoặc đầu tư tạo nguồn lực mới trong tương lai.
- Là một trong những căn cứu khoa học để xây dựng và thực hiện các chính
sách, biện pháp quản lý hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh, thành phố và
của cả nước:
Những điều kiện về môi trường thường xuyên thay đổi sẽ đưa đến những
diễn biến phức tạp của hoạt động thương trong tương lai, thông qua chiến
lược các cơ quan quản lý vĩ mô về thương mại có thể chủ động được với các

của những người làm chiến lược còn bị hạn chế.
1.1.3.2 Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển thương mại.
13
1.1.3.2.1. Hệ thống quan điểm trong chiến lược thương mại:
Quan điểm phát triển thương mại có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và
thực tiễn vì đó là cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng và hành động, chi phối
cả mục tiêu, định hướng và giải pháp chiến lược. Chính nhờ hệ thống quan
điểm trong chiến lược phát triển thương mại đã tạo ra cơ sở cho sự thống nhất
về ý chí và hành động của mọi ngành mọi cấp, mọi đơn vị kinh tế trong nước.
Các quan điểm phát triển thương mại đúng đắn sẽ là phương châm cho việc
xây dựng các chính sách, các giải pháp, biện pháp phát triển thương mại. Qua
đó tập trung mọi nỗ lực theo một hướng xác định nhằm đạt được mục tiêu
trong xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thương mại của cả nước.
1.1.3.2.2. Các mục tiêu chiến lược phát triển thương mại:
Mục tiêu phát triển thương mại là sự cụ thể hoá mục đích, hướng đi,
hướng phát triển cho cả nước trong một thời gian dài, nó thể hiện kỳ vọng
mà chiến lược phát triển thương mại muốn đạt được trong tương lai cũng
như phản ánh trạng thái mong đợi có thể thực hiện và cần phải thực hiện tại
một thời điểm hoặc sau một thời kỳ nhất định. Hệ thống mục tiêu chiến lược
phát triển thương mại được xác định một cách đúng đắn và hợp lý, sẽ là căn
cứ và định hướng cho các nội dung khác của chiến lược. Chính vì vậy bước
xác định mục tiêu chiến lược là rất quan trọng. Hơn nữa các mục tiêu chiến
lược còn là căn cứ để đánh giá và điều chỉnh chiến lược.
Trong phạm vi cả nước cũng như trong tỉnh, thành phố hệ thống mục tiêu
chiến lược phát triển thương mại có vai trò quan trọng trên các mặt sau đây:
- Định hướng sự phát triển của tỉnh, thành phố trong khoảng thời gian dài
(10 hoặc 20 năm).
- Dựa trên thị trường mục tiêu để tiến hành phân bổ các nguồn lực thực
hiện.
- Căn cứ để xác định và lựa chọn các phương án phát triển thương mại của

chặt chẽ với nhau, kết nối với nhau làm kết dính các bộ phận chiến lược trong
một tổng thể chiến lược phát triển chung về thương mại.
Theo phạm vi thời gian thực hiện chiến lược phát triển thương mại có thể
chia thành ba nhóm lớn:
- Mục tiêu dài hạn: Là những mục tiêu đòi hỏi phải thực hiện trong một
quảng thời gian tương đối dài, thường từ 10 đến 20 năm, quyết định
hướng đi, hướng phát triển của ngành thương mại trong tương lai.
- Mục tiêu trung hạn: là những mục tiêu nằm trong khoảng thời gian ngắn
hơn, thường là từ 3-5 năm.
- Mục tiêu ngắn hạn: là những mục tiêu hàng năm, chúng thường gắn liền
với các quyết định chiến thuật và tác nghiệp, nên thường rất cụ thể và
mang tính định lượng cao.
Trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thương mại,
cũng có thể phân loại các mục tiêu chiến lược thành mục tiêu định tính và
mục tiêu định lượng.
- Mục tiêu định tính là những mục tiêu biểu hiện dưới dạng xu hướng, tính
chất, không lượng hoá được bằng các con số cụ thể. Chúng thường gắn
liền với những vấn đề có tính chất phức tạp, khó có thể định lượng được.
- Mục tiêu định lượng là những mục tiêu được biểu hiện bằng các con số
cụ thể, có thể đo lường được bằng các công cụ khác nhau.
Giữa mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, bổ xung cho nhau để phản ánh đầy đủ sự phát triển của thương mại
trong thời kỳ chiến lược.
1.1.3.2.3 Các phương án chiến lược phát triển thương mại.
Phương án chiến lược phát triển thương mại có thể hiểu là tập hợp ý đồ,
mục tiêu, nhiệm vụ phát triển thương mại với các giải pháp để thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ đó trong một khoảng thời gian nhất định nhằm phát
triển thương mại của cả nước đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
16
Ý đồ thương mại thể hiện tư tượng, chỉ đạo trọng chiến lược, thể hiện sự

lực, muốn vậy các kế hoạch hỗ trợ phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
1. Phải lấy mục tiêu chiến lược phát triển thương mại làm căn cứ xác định,
tạo mọi điều kiện về vật chất để thực hiện được các chiến lược phát triển
thương mại.
2. Phải được xác định trên cơ sở khai thác mọi khả năng, tiềm năng; sử
dụng có hiệu quả các nguồn vật tư, lao động, tiền vốn; nghiên cứu ứng
dụng những thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới và trong
nước phù hợp với điều kiện cụ thể, thực tế trong nước.
3. Các kế hoạch hỗ trợ phải đảm bảo sự cân đối giữa các yếu tố, cân đối
trong nội bộ từng yếu tố nhằm tạo tiền đề cho việc sử dụng hợp lý có
hiệu quả các nguồn lực.
4. Khi xây dựng các kế hoạch hỗ trợ, không chỉ chú trọng tới các chỉ tiêu số
lượng mà còn phải chú trọng đến các chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu thời
gian và chỉ tiêu đồng bộ.
Các kế hoạch hỗ trợ được lập ra phản ánh những nội dung chủ yếu sau đây:
+ Phản ánh toàn bộ nhu cầu vật tư, lao động, tiền vốn cần phải có để thực
hiện các hoạt động thương mại trong thời kỳ chiến lược. Nhu cầu về nguồn
lực nói trên được xác định trên cơ sở khối lượng hoạt động thương mại cần
phải thực thi và định mức tiêu hao để thực hiện một khối lượng công việc
hoạt động thương mại. Việc phản ánh chính xác nội dung này có ý nghĩa đặc
biệt, quan trọng trong quá trình bảo đảm những yếu tố vật chất để thực hiện
các chỉ tiêu chiến lược phát triển thương mại.
+ Phản ánh toàn bộ các nguồn về vật tư, lao động tiền vốn và việc sử dụng
các nguồn lực đó để thoả mãn các nhu cầu nói trên. Nhằm động viên đầy đủ,
kịp thời mọi nguồn lực cho thực hiện chiến lược phát triển thương mại, cần
18
khai thác tối đa nguồn lực của mình, khả năng của mình trên mọi phương
diện để có thể biến những mục tiêu của chiến lược trở thành hiện thực.
1.1.3.2.5 Các giải pháp nhằm thực hiện chiến lược.
Những giải pháp phát triển thương mại có thể xem như một hệ thống các

và xu hướng vận động phát triển của hoạt động thương mại. Những kết luận
rút ra qua phân tích sẽ là cơ sở khoa học cho xây dựng các chỉ tiêu, các giải
pháp của chiến lược phát triển thương mại.
Những nội dung cần phân tích trên đây được xem xét cả ở góc độ định tính
và định lượng bằng các phương pháp phân tích chủ yếu như sau:
1.2.1 Phân tích chi tiết.
Mọi hoạt động thương mại đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hướng
khác nhau. Thông thường trong phân tích có thể chi tiết theo từng nhân tố, chi
tiết theo từng bộ phận cấu thành các chỉ tiêu, chi tiết theo thời gian, chi tiết
theo địa điểm… Sự chi tiết như vậy sẽ giúp ích rất nhiều cho việc đánh giá
chính xác đối tượng cần nghiên cứu trên mọi kía cạnh.
1.2.2 Phân tích so sánh.
So sánh cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để biết
được giữa những kết quả thực hiện chiến lược so với kế hoạch đã đặt ra. Để
so sánh cần phải sác định mốc so sánh, điều kiện so sánh và mục tiêu so sánh.
So sánh về thời gian và không gian thường được sử dụng trong phân tích, tuy
nhiên để so sánh được, cần phải bảo đảm tính thống nhất về nội dung kinh tế
và về phương pháp tính toán.
1.2.3 Phân tích tổng hợp.
Quá trình phân tích không chỉ dừng ở việc phân tích từng yếu tố riêng lẻ mà
phải phân tích một cách có hệ thống trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ của
các yếu tố môi trường với nhau. Trong thực tế, mọi kết quả hoạt động thương
20
mại đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các bộ phận do đó để
thực hiện các mối liên hệ, như vậy cần phải sử dụng các phương pháp tổng
hợp, nhằm chỉ ra kết quả chung nhất của việc thực hiện chiến lược phát triển
thương mại trong dai đoạn qua.
1.3Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chiến lược phát
triển thương mại.
Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng và thực hiện chiến lược

- Các yếu tố kinh tế quốc tế.
Yếu tố này ảnh hưởng rất sâu sắc đến môi trường kinh doanh nói chung và
hoạt động thương mại nói riêng của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy những
cuộc khủng hoảng kinh tế, những bất động về quan điểm kinh tế…đã gây ra
những hậu quả thiệt hại nghiêm trọng đối với cả thế giới và khu vực cũng như
từng quốc gia. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ gần đây ở các nước Đông
Nam Á là một minh chứng điển hình về hậu quả to lớn của nó đối với sự phát
triển kinh tế của các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Theo đó, hoạt
động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp ở các nước này cũng
không thoát khỏi ảnh hưởng nghiêm trọng này.
Xuất phát từ quan điểm kinh tế khác nhau, chính sách kinh tế khác nhau sẽ
đưa đến việc các nước sử dụng các chính sách và công cụ kinh tế theo quan
điểm riêng của mình. Chẳng hạn, một chính sách tỉ giá đồng tiền khác nhau sẽ
tạo ra thuận lợi hoặc khó khăn cho các đối tác khi tham gia hoạt động thương
mại quốc tế.
- Các yếu tố thuộc về công nghệ - kỹ thuật trên thế giới.
Sự tiến bộ về mặt khoa học công nghệ kỹ thuật trên thế giới diễn ra với nhịp
độ ngày càng nhanh chóng. Điều đó một mặt làm cho năng suất lao động tăng
lên với quy mô chưa từng thấy, song mặt khác cũng làm thay đổi các mối
22
quan hệ kinh tế giữa các quốc gia vốn đã hình thành từ trước. Để tránh nguy
cơ tụt hậu đòi hỏi phải theo dõi, nắm bắt, học hỏi những tiến bộ kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến trên thế giới nhằm tạo ra những sản phẩm mới có sức cạnh
tranh mạnh mẽ hơn. Quan điểm đó phải được quán triệt thành mục tiêu trong
chiến lược phát triển thương mại.
- Các yếu tố thuộc về văn hoá xã hội của các nước trên thế giới.
Sự khác nhau về văn hoá của các nước trên thế giới là kết quả tổng hợp của
nhiều yếu tố như: lịch sử, ngôn ngữ, tôn giáo, quan niệm sống, đạo đức…
Trong hoạt động thương mại quốc tế không thể bỏ qua yếu tố này vì chúng có
ảnh hưởng quyết định đến thoái quen tiêu dùng và nhu cầu trên thị trường.

khác, nó cũng ảnh hưởng đến yêu cầu về sự phù hợp của sản phẩm, về dự trữ
bảo quản hàng hoá, về lợi thế so sánh trong buôn bán kinh doanh thương mại.
Ba là: Các vấn đề về cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường.
Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường là một trong những mối quan hệ
phức tạp, sự tác động của thương mại đến môi trường vừa phức tạp vừa gián
tiếp thông qua những lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Những
hoạt động nghiệp vụ thương mại như: giao nhận, vận chuyển, bốc dỡ, bảo
quản hàng hoá…không tuân thủ theo quy định nghiêm ngặt sẽ ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường xung quanh. Ngược lại một môi trường không
trong sạch và độc hại sẽ ảnh hưởng đến vệ sinh công nghiệp, đến chất lượng
hàng hoá lưu thông và khối lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường. Nghiên
cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa thương mại và môi trường là cơ sở để
kết hợp hài hoà giữa phát triển thương mại với bảo vệ môi trường sinh thái
trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển thương mại.
24
1.3.2.2 Các yếu tố kinh tế
Trong môi trường hoạt động thương mại, các yếu tố kinh tế dù ở bất kỳ cấp
độ nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu. Bởi lẽ, sự hình
thành hệ thống tổ chức quản lý và các thể chế của hệ thống đó có ảnh hưởng
trực tiếp và quyết định đến chiều hướng và cường độ của các hoạt động kinh
tế trong nền kinh tế nói chung và lĩnh vực hoạt động thương mại nói riêng.
Những yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động thương mại bao gồm:
Một là: Tiềm năng của nền kinh tế
Đây là yếu tố tổng quát, phản ánh các nguồn lực có thể huy động được vào
trong phát triển nền kinh tế. Yếu tố này liên quan đến các định hướng lớn về
phát triển thương mại và các cơ hội kinh doanh.
Hai là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự thay đổi cơ cấu kinh tế của nền kinh
tế quốc dân.
Yếu tố này liên quan trực tiếp đến sự tăng trưởng hoặch thu hẹp quy mô phát
triển cũng như cơ cấu phát triển của ngành thương mại, thể hiện ở tổng mức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status