SKKN Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm văn xuôi - Pdf 26

Së gi¸o dôc vµ ®µo t¹o thanh ho¸
trêng thpt ba ®×nh - nga s¬n
******
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT ĐOẠN TRÍCH TRONG TÁC PHẨM VĂN XUÔI

Người thực hiện: Hồ Thị Anh
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn Ngữ Văn
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HÓA NĂM 2013
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Thực trạng của việc dạy, học văn hiện nay
Thực tế là nhiều năm gần đây học sinh không thích học môn văn và chất
lượng dạy học văn có giảm sút. Điều đó có nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân
chủ quan, có nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân chủ quan là do việc dạy
học văn trong các nhà trường chưa gây được hứng thú cho học sinh. Vì vậy yêu
cầu đổi mới đã được ngành giáo dục rất coi trọng. Trong đó có đổi mới về
chương trình sách giáo khoa, đổi mới về phương pháp giảng dạy, đổi mới về
kiểm tra đánh giá.
II. Ưu thế của nghị luận về một đoạn trích văn xuôi trong việc đổi mới
kiểm tra đánh giá môn ngữ văn
Trước đây, nghị luận văn học trở thành hình thức làm văn duy nhất trong nhà
trường và trong các kì thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh đại học. Nội dung làm văn
phần lớn là phân tích, bình giảng tác phẩm theo những chủ đề cho trước. Người
làm bài chủ yếu là vận dụng kiến thức, kĩ năng để minh họa cho những chủ đề
đã chọn. Cách làm này tuy cần thiết nhưng đã hạn chế tính chủ động sáng tạo
của học sinh rất nhiều. Vì vậy, trong chương trình làm văn này, bên cạnh nghị
luận văn học còn có nghị luận xã hội. Đồng thời, các tác giả đã chú ý phát huy
tính chủ động tích cực của học sinh trong việc đề xuất luận điểm, giảm bớt cách
ra đề chỉ định nội dung cần phân tích.

mất ! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng
không ai ra điều. Mẹ kiếp ! Thế có phí rượu không ? Thế có khổ hắn không ?
Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi nầy ?
A ha ! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân
hắn, đẻ ra cái thằng Chi Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo ? Có
mà trời biết ! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết ”
( Chí Phèo - Nam Cao)
Đề 2
Ông Huấn Cao đã trả lời viên thơ lại khi đã hiểu được tấm lòng của Quản
ngục và tin ngày mai mình phải về kinh để chịu án tử hình : “Về bảo với chủ
ngươi, tối nay, lúc nào lính canh về trại nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và cả một
bó đuốc xuống đây ta cho chữ. Chữ thì quí thực. Ta nhất sinh không vì vàng
ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có
hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta
cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người
như thầy Quản đây lại có sở thích cao quí như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ
mất một tấm lòng trong thiên hạ”
( Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân )
Từ câu trả lời này, anh /chị hiểu thêm những gì về hình tượng nhân vật
Huấn Cao ?
Đề 3
Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, khi Mị bị A Sử trói vào cột, Tô Hoài
viết :
“ Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu
còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những
đám chơi. “ Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao
nào ”. Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe
tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên,
gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.
( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)

bằng lòng về tôi.
Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi
vẫn được treo nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy
là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng của
ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu
hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy bước ra từ tấm ảnh, đó là một người
đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch
có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới
suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi. bàn chân giậm trên mặt đất chắc
chắn, hòa lẫn trong đám đông ”
( Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu)
2. Yêu cầu của bài văn nghị luận về một đoạn trích văn xuôi
Ngoài yêu cầu chung của một bài văn nghị luận : bố cục bài viết rõ ràng; trình
bày ý khoa học; hành văn có cảm xúc, linh hoạt; dẫn chứng phải chính xác Bài
văn nghị luận về một đoạn trích văn xuôi cũng có những yêu cầu riêng :
- Phải phân biệt được nghị luận về một đoạn trích và nghị luận về một tác phẩm.
Nghĩa là tránh việc đề cập tới tất cả các nội dung của tác phẩm còn nội dung của
đoạn trích lại sơ lược.
- Tập trung vào đoạn trích nhưng phải biết vận dụng kiến thức của toàn tác
phẩm như nội dung tư tưởng, cách kể chuyện, cách sử dụng chi tiết, cách xây
dựng nhân vật, các biện pháp tu từ. Nhất thiết phải đặt đoạn văn trong chỉnh thể
của tác phẩm mới có cách đánh giá chính xác.
II. HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý
1. Cách tìm hiểu đề
1.1. Xác định nội dung nghị luận
- Đối với những đề có yêu cầu nội dung cụ thể, cần tập trung để giải quyết các
yêu cầu ấy ( đề 3, đề 5).
Ví dụ đề 3
Đề bài đặt ra hai yêu cầu : hình ảnh nhân vật Mị và nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật của nhà văn.

- Người ta không chấp nhận Chí; không ai xem Chí là con người. Bi kịch của
Chí là bi kịch của con người bị cự tuyệt quyền làm người, bị xã hội loại ra khỏi
cộng đồng
* Ví dụ đề 3
Học sinh phải tách tách thành hai ý theo yêu cầu của đề bài. Trong mỗi ý lớn,
học sinh phải xác định được các ý nhỏ.
a. Hình ảnh nhân vật Mị
- Mị có khát vọng sống mãnh liệt (Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không
biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi
theo những cuộc chơi, những đám chơi. “ Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em
yêu người nào, em bắt pao nào ”).
+ Mị vốn là một cô gái yêu đời, có khát vọng sống mãnh liệt. Dù bị trà đạp
nghiệt ngã nhưng khát vọng ấy đã trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân.
+ Nếu ban đầu, tiếng sáo còn là yếu tố ngoại cảnh, giờ đây tiếng sáo đã nhập hẳn
vào tâm hồn Mị. Mị đang sống trọn với nó. Tiếng sáo là tiếng gọi của tình yêu,
tình đời; tiếng sáo vẫn tha thiết, giục giã ; tiếng sáo đã đánh thức khát vọng sống
nơi Mị.
- Số phận của Mị (Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị
không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa
vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa).
+ Mị bừng tỉnh, dây trói của A Sử làm Mị nhận ra hiện thực nghiệt ngã. Khát
vọng sống của Mị đã bị chặn đứng.
+ Mị nghĩ mình không bằng con ngựa và thực tế cuộc đời Mị không bằng con
ngựa (Mị là con dâu gạt nợ, là thân phận nô lệ, bị giam hãm )
-> Tấm lòng của nhà văn.
b. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn
- Nhà văn như đã nhập thân vào nhân vật Mị và miêu tả diễn biến tâm lí theo
một trình tự hợp lí :
+ Để đánh thức sức sống đang tiềm tàng trong Mị, nhà văn trả lại cho Mị kí ức
đẹp.

a. Là cách kết gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm
- Sau những khám phá về vẻ đẹp của thiên nhiên, hiện thực cuộc sống, nhất là
câu chuyện của người đàn bà làng chài, tác giả không đưa ra cách giải quyết về
nạn bạo lực gia đình. Bởi cuộc sống rất phức tạp. Làm thế nào để có cách giải
quyết triệt để. Đó là vấn đề người đọc phải tự suy ngẫm.
- Kết lại tác phẩm là bức ảnh nghệ thuật.
b. Bức ảnh nghệ sĩ Phùng đem về năm ấy là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị.
- Là bức ảnh đen trắng.
- Đem lại những ấn tượng lạ lùng
+ Ngắm kĩ (khám phá bằng lòng say mê), thấy hiện lên màu hồng hồng của ánh
sương mai. Đó là vẻ đẹp nên thơ. Trước vẻ đẹp ấy tâm hồn con người cũng trở
nên trong ngần.
+ Nhìn lâu hơn ( khám phá sâu hơn), thấy người đàn bà miền biển cao lớn với
những đường nét thô kệch,khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm, bàn
chân giậm lên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông. Hình ảnh người dàn
bà làng chài là hình ảnh của cuộc đời.
c. Triết lí của nhà văn
- Nghệ thuật là cái đẹp nhưng nghệ thuật còn phải vì cuộc đời, dù hiện thực cuộc
đời còn thô ráp, phũ phàng. Nghệ thuật phải vì con người, cho con người, những
người bình thường nhất trong cuộc sống đời thường.
- Người nghệ sĩ hãy rút ngắn khoảng cách giữa nghệ thuật với hiện thực. Người
nghệ sĩ phải dũng cảm nhìn thẳng vào hiện thực, vào những số phận của con
người.
2.3 Kết bài
- Đánh giá những giá trị của đoạn trích, vai trò của đoạn trích đối với toàn tác
phẩm.
- Tài năng của nhà văn.
3. HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG CÁC THAO TÁC NGHỊ LUẬN
VÀ CÁCH VIẾT BÀI.
3.1 Vận dụng các thao tác nghị luận

người chân chính. Hộ đau đớn vì thấy mình đã sống cuộc đời thừa, nó cứ mốc
lên rồi rỉ đi để rồi chết mà chưa được sống. Có thể nói giọt nước mắt của Hộ là
giọt nước mắt đau đớn, là giọt nước mắt thức tỉnh. Tiếng nói run rẩy của Hộ là
tiếng nói của một nhân cách đã hoàn lương và mong có sự vị tha của con người.
Đoạn 3 : Lời nói nghẹn ngào của Từ chất đầy một niềm thương cảm, một tấm
lòng vị tha. Từ hiểu rằng Hộ không phải là người khốn nạn. Từ hiểu rằng, Hộ
chỉ là một người khổ sở và anh cứ phải gánh chịu những khổ sở trên đôi vai của
mình. Đó là niềm cảm thông của một con người giàu đức hi sinh. Từ đã không
trách móc mà mở đường cho Hộ quay về. Từ đã cho Hộ một niềm tin để về với
ánh sáng của sự lương thiện. Có thể nói Từ chính là sứ giả tình thương mà Nam
Cao tặng cho cuộc đời của Hộ. Trong câu nói của Từ còn cho ta biết nguyên
nhân vì sao mà đời Hộ khổ. Từ hiểu rằng đó là vì mình, vì gia đình với những
gánh nặng áo cơm đã ghì Hộ sát đất, đã không cho Hộ làm một nhà văn chân
chính với những lí tưởng cao đẹp. Nhưng nguyên nhân sâu xa khiến Hộ rơi vào
bi kịch tinh thần chính là xã hội Việt Nam đã giết chết ước mơ khát vọng của
con người. Xã hội ấy đã dứt khoát không cho người trí thức trẻ cùng một lúc
thực hiện hai khát vọng : làm một nhà văn chân chính và làm một con người
chân chính.
Đoạn 4 : Từ mẩu đối thoại này, ta không chỉ thấy được tấm lòng cảm thông của
nhà văn Nam Cao dành cho Hộ mà còn thấy được niềm tin của nhà văn vào khả
năng thức tỉnh của con người. Nam Cao đã để cho nhân vật tự nhận ra cái bản
ngã của chính mình để biết vươn lên sống với nhân cách của một con người
lương thiện. Khi Hộ biết dừng lại bên bờ vực của sự tha hóa, biết quay đầu lại
cuộc đời, Nam Cao đã nâng đỡ những tấm lòng hướng thiện ấy, mở đường cho
họ được sống như con người. Nam Cao còn khẳng định sức mạnh của tình
thương. Chính tình thương có khả năng thức tỉnh nhân tính. Tình thương của Từ
dành cho Hộ hay đó chính là tình thương của Nam Cao. Bằng trái tim yêu
thương, Nam Cao đã thắp sáng ngọn lửa lương thiện ở tâm hồn mỗi người Vì
vậy , cho dù lời văn có sắc lạnh tỉnh táo, thì người đọc vẫn đọc được ở đó một
tấm lòng đằm thắm và nặng trĩu yêu thương.

phẩm, đọc kĩ đoạn trích; xác định được yêu cầu của đề; triển khai luận điểm,
luận cứ phù hợp; biết vận dụng các thao tác nghị luận để viết bài văn.
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
- Việc ra đề và kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong đổi mới phương
pháp giảng dạy. Ra đề và rèn luyện cho học sinh cách nghị luận về một đoạn
trích văn xuôi cũng không ngoài mục đích ấy.
- Thực tế trong công tác giảng dạy, khi ra dạng đề như thế này sẽ tránh được cơ
hội để các em sao chép tài liệu, sử dụng bài văn mẫu. Dạng đề này buộc các em
phải độc lập suy nghĩ, phải tìm tòi sáng tạo, đồng thời phải biết vận dụng kiến
thức của tác phẩm một cách hợp lí. Như vậy giáo viên vừa phát huy được tính
chủ động tích cực của học sinh lại vừa đánh giá chính xác năng lực của từng học
sinh.
- Những năm học gần đây, trong những lần kiểm tra để chọn đội tuyển học sinh
giỏi hay kiểm tra chất lượng các môn thi đại học, tổ Ngữ văn của trương THPT
Ba Đình chúng tôi cũng đã chú ý ra dạng đề này. Chúng tôi thấy có hiệu quả
trong việc phân hóa học lực của học sinh, giúp giáo viên có cơ sở trong việc bồi
dưỡng để nâng cao chất lượng môn ngữ văn của nhà trường.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Nga Sơn , ngày 15/5/2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Hồ Thị Anh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status