SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
TRỰC QUAN TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MÔN KHOA HỌC Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC”
I/ Tình hình giảng dạy môn khoa học ở trường tiểu học.
a. Thuận lợi:
Khoa học là môn học nghiên cứu về đời sống tự nhiên và cấu tạo của động thực vật, con
người. Là môn khoa học có tính chất thiết thực gắn liền với đời sống thực tế. Do vậy
những gì liên quan đến bộ môm khoa học thì đều gắn liền đến đời sống thực tế. Cho nên
khi giảng dạy ngoài tranh ảnh của SGK, tranh ảnh của bộ giáo dục cung cấp, giáo viên
còn phải có mẫu vật thực tế trong thế giới tự nhiên đầy sống động và hấp dẫn. Bên cạnh
đó ta còn được xem những tư liệu rất hay, rất đặc sắc về thế giới động thực vật. Đó là
những thuận lợi cơ bản cho việc vận dụng những phương pháp trực quan trong việc dạy
bộ môn khoa học. Vấn đề là phải vận dụng như thế nào để gây hứng thú cho học sinh
trong học tập để từ đó các em yêu thích môn học hơn và tìm cách khám phá những bí ẩn
trong thế giới động thực vật.
b. Tình hình chung về dạy môn khoa học hiện nay:
Hiện nay SGK đặc biệt là sách tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn khoa học
còn thiếu nhiều nhất là ở các trường vùng sâu, vùng xa. Đồ dùng dạy học và tranh ảnh
còn thiếu khiến học sinh không có để quan sát. Một số giáo viên lại chủ quan thiếu sự
chuẩn bị nên khi lên lớp không có vật mẫu, hoặc không dặn dò học sinh đem theo vật
mẫu. Từ đó dẫn đến giáo viên dạy chay, giờ học thiếu sự hấp dẫn, sinh động không cuốn
hút được học sinh trong việc tiếp thu bài. Từø đó các em đâm ra không thích môn học. Vì
thế mà việc vận dụng phương pháp trực quan nhằm gây hứng thú cho học sinh trong bộ
môn khoa học là điều bức thiết hiện nay.
II/ Biện pháp thực hiện.
a. Chuẩn bị giảng dạy.
- Giáo viên:
Giáo viên phải giữ vai trò chủ đạo trong giảng dạy, nghiên cứu, tìm hiểu thêm về sách
báo tài liệu có liên quan đến nội dung bài dạy, nhất là những mẫu vật sống động.
hành cho học sinh.
+ Vật mẫu phải chuẩn bị chu đáo và các phương tiện chuẩn bị cho tiết thực hành phải đầy
đủ và vệ sinh.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm, ghi lại kết quả và hiện tượng xảy
ra trong thí nghiệm. đó là tư liệu rất cần thiết. Từ các tư liệu đó học sinh biết phân tích,
tổng hợp, so sánh tìm mối quan hệ nhân quả, khái quát hoá rút ra kết luận, khắc sâu kiến
thức mới, lĩnh hội tri thức mới.
Ví dụ: Bài dạy: “ Không khí cần cho sự cháy”
Trước khi giảng dạy giáo viên phải thông báo cho học sinh chia lớp ra thành 4 nhóm,
chuẩn bị 3 cây nến và hai cái bình thuỷ tinh để đậy vào hai cây nến. Một cái bình to và
một cái bình nhỏ hơn. Để khi các em thực hành các em sẽ thấy được hiện tượng cháy cần
đến không khí như thế nào?
Khi dạy giáo viên chia lớp ra làm bốn nhóm. Mỗi nhóm cần có ba cây nến và hai bình
thuỷ tinh một to, một nhỏ. Hiệu lệnh cho các tổ thực hành với thời gian là ba phút.
Đầu tiên giáo viên cho các nhóm đốt cháy ba cây nến. sau đó lấy chiếc bình to đậy kín
cây nená thư hai, lấy chiếc bình nhỏ đậy kín cây nến thứ ba ( Lưu ý các bình không có lỗ
thông hơi). Sau đó cho học sinh quan sát.
Trong cùng một thời gian như nhau các em ghi lại các hiện tượng xảy ra khi quan sát
ngọn nến thứ ba cứ cháy mãi. Trong khi đó ngọn nến thứ ba tắt trước, ngọn nến thứ hai
tắt sau.
Giáo viên đưa ra câu hỏi:
. Vì sao ngọn nến thứ ba tắt trước?
. Ngọn nến thứ hai vì sao lại tắt sau ngọn nến thứ ba?
. Ngọn nến thư nhất không tắt vì sao?
Từ đó rút ra kết luận: Không khí rất cần cho sự cháy.
- Những tư liệu học sinh thu thập qua đời sống, qua quan sát các em sẽ thấy được vai trò
của quan trọng của không khí đối với cuộc sống con người.
+ Hoặc dạy về thực vật: Bài “Trồng cây bằng hạt”.
Giáo viên cho học sinh trồng vài hạt đậu, mướp, ngô, lúa vv vào chổ ẩm ướt và theo dõi
thường xuyên ghi lại kết quả mình quan sát được.