Một số biện pháp
làm và sử dụng đồ dùng môn LQVT
A. Đặt vấn đề
Hởng ứng cuộc vận động Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh
thành tích trong giáo dục do Bộ Giáo dục & Đào tạo phát động và cuộc vận
động Mỗi thầy cô giáo là một tấm g ơng o c tự học và sáng tạo , là giáo
viên trực tiếp đứng lớp, chúng tôi đã thực hiện tốt phong trào đó bằng những việc
làm thiết thực trong hoạt động giáo dục. Năm 2010 - 2011 là năm tiếp tục đổi
mới cụng tỏc chm súc giỏo dc, v i mi hình thức dạy học. Nhất là môn
LQVT, bản thân tôi hiểu rằng: Thành công của mỗi tiết dạy cần đảm bảo nội
dung, yêu cầu và không thể thiếu đồ dùng dạy học. Bởi lứa tuổi mầm non với
đặc điểm tâm lý là t duy trực quan hình tợng, là trẻ phải đợc trực tiếp nhìn,
trực tiếp sờ, trực tiếp nghe Nên việc cho trẻ lĩnh hội các kiến thức, mở rộng sự
hiểu biết, phát triển trí thông minh t duy và tởng tợng, đồng thời phát triển ngôn
ngữ cho trẻ LQVT theo hớng đổi mới hình thức tổ chức giáo dục, đều đợc thông
qua việc trẻ sử dụng đồ dùng qua Học mà chơi và chơi với các đồ dùng đang
đợc học. Có thể nói đồ dùng chính là sách giáo khoa của trẻ, giúp trẻ phát
triển toàn tiện, tạo tâm thế cho trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị bớc vào lớp 1 phổ thông.
Chính vì hiểu rõ tầm quan trọng của việc chuẩn bị đủ đồ dùng dạy học,
cho nên ngay từ đầu năm học 2010 - 2011tôi đã lấy việc Làm và sử dụng đồ
dùng môn LQVT lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi làm sáng kiến cho năm học này.
B. nội dung
I. Cơ sở khoa học
Nh chúng ta đã biết, việc dạy trẻ LQVT ở Trờng Mầm non chỉ là hình
thành những biểu tợng sơ đẳng về toán cho trẻ. Nh đã nói ở phần đặt vấn đề, đặc
điểm tâm lý của trẻ là T duy trực quan hình tợng , do vậy việc trẻ đợc hoạt
động trực tiếp với các loại đồ dùng là điều tất yếu, và việc làm đồ dùng dạy toán
của cô chính là nhiệm vụ góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành nhiệm vụ
của một giáo viên đứng lớp. Tuy nhiên, đồ dùng đã có, cô giáo không nghiên cứu
cách sử dụng hợp lý sẽ bị vênh với việc dạy học. Chính vì vậy việc làm và sử
dụng đồ dùng của cô giáo trong dạy toán lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi là một nghệ
nhiên.
- Khả năng căn vẽ phác họa các mẫu đồ dùng của bản thân tội thực sự hạn
chế, cùng với thời gian làm đồ dùng còn rất ít, nên bản thân tôi đã có những lúc
rất ngại dạy môn toán vì phải chuẩn bị nhiều đồ dùng trong một tiết dạy.
- Cả trờng có một lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi, nên việc trao đổi kinh nghiệm
còn hạn chế.
3. Điều tra (khảo sát) tình hình thực tế về cơ sở vật chất và đồ dùng, đồ chơi.
Ngay từ đầu năm học tôi đợc nhà trờng phân công chủ nhiệm lớp mẫu
giáo 5 - 6 tuổi. Để đảm bảo có đủ đồ dùng và sắp xếp môi trờng cho trẻ làm quen
với toán theo hớng đổi mới hình thức tổ chức giáo dục đợc tốt, tôi đã tiến hành
điều tra cụ thể tình hình cơ sở vật chất thực tế của lớp. Qua việc điều tra này tôi
thấy các bộ chữ số dùng cho cô và trẻ đã có, nhng các đồ dùng khác còn thiếu
nhiều về các chủng loại. Một số đồ dùng đã có nhng đã quá cũ, màu sắc, kích th-
ớc không phù hợp với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Sau khi đã điều tra cơ sở vật chất, tôi tiến hành điều tra khả năng nhận
chức của trẻ về các khái niệm hình dạng, kích thớc, định hớng không gian và số
lợng. Tôi thấy đa số trẻ lớp tôi đếm vẹt rất tốt, nhng khả năng định hớng không
gian, kích thớc còn hạn chế. Với quá trình điều tra thực tế tôi đã thu đợc một số
kết quả sau đây:
4. Phân tích kết quả điều tra:
- Về cơ sở vật chất: Tôi đã phân các loại đồ dùng theo các chủng loại khác
nhau để dạy trẻ nhận biết về số lợng, hình dạng, kích thớc, không gian nh bộ đồ
dùng: Hoa - Bớm; Thỏ - Ô; Thỏ - Cà rốt và các loại hình khối khác nhau.
- Về chất lợng nhận thức của trẻ:
Tổng số trẻ đợc điều tra: 23/23
Trong đó:
+ Có 9/23 trẻ có khả năng đếm vẹt tốt, chiếm 39,1%
+ Có 8/23 trẻ có khả năng nhận biết, phân biệt hình dạng, kích thớc
tốt, chiếm 34,8%
+ Có 6/23 trẻ còn nhầm lẫn trong việc nhận biết các khái niệm
tay trẻ nhỏ, nhuộm màu để trẻ chơi xâu vòng, xâu xong cho trẻ đếm và so sánh
số hạt vòng để so sánh to - nhỏ, dài - ngắn; lấy cuống rạ khô, cuộng rau muống
mang đến lớp cho trẻ ngồi cắt thành đoạn ngắn và trẻ xâu thành vòng; rồi cuộng
lá sắn để tết thành những ngôi nhà to - nhỏ, cao - thấp, hoặc dùng những cuồng
lá sắn này bẻ từng đoạn, tớc ngắn gắn liền với vỏ ngoài của cuống lá để làm dây
vòng, đồ trang sức, có thể cùng làm theo cô và đếm số lợng sản phẩm trẻ làm
ra
Ngoài những thứ trên tôi còn tận dụng cả những cuộng rơm khô, tớc sạch
vỏ ngoài để tết tạo dáng búp bê, làm thêm các chi tiết mắt, tóc, sau đó dùng
những búp bê này cho trẻ đếm bộ phận trên ngời búp bê, phân biệt phía phải -
trái - trớc - sau và cho trẻ nhận biêt, phân biệt các khái niệm cao - thấp; to -
nhỏ
Ngoài ra còn có thể sử dụng cả những lá cây để làm đồ dùng nữa, nh: lá
chuối làm đồng hồ, làm kèn, gấp con mèo; lá nhãn làm con bớm; lá mít làm con
trâu, nghé, gáo múc nớc. Trong quá trình thực hiện tôi hớng dẫn để trẻ đợc làm
những đồ chơi từ lá cây này. Tất cả những đồ chơi làm bằng lá này, sau khi hớng
dẫn cho trẻ cách tự làm đồ chơi tự tạo, tôi đã khéo léo vận dụng để trẻ sử dụng
các đồ chơi này so sánh đồng hồ to - nhỏ; kèn ngắn - dài .
Trong quá trình thực hiện việc tận dụng các nguyên liệu tự nhiên cũng đợc
tôi tận dụng nhiều để làm đồ dùng cho trẻ LQVT từ các loại hoa nh: xâu vòng
bằng hoa bởi, hoa rau khoai lang, rau muống, hoa dâm bụt, hoa trâm bầu, hoa
đại, hoa mớp để trẻ phân biệt màu sắc, kích th ớc; hoặc từ cái hoa chuối sau khi
bẻ đề vài ngày cho khô nhựa, dùng cho trẻ chơi bán hàng bằng những quả chuối
con đó, còn bẹ hoa cho trẻ chơi thả thuyền, đồng thời cho trẻ đếm số lợng thuyền
về bến qua trò chơi với nớc và cát của trẻ. Ngoài ra tôi còn tranh thủ kết hợp
cùng phụ huynh su tầm các loại sỏi, hột, hạt, vỏ hến, các nút chai, cúc áo các
màu, để bổ sung vào đồ chơi cho trẻ
* Kết quả:
Từ việc tranh thủ thời gian ngoài giờ để su tầm nguyên liệu sẵn có trong
thiên nhiên tôi đã su tầm đợc rất nhiều những viên sỏi nhỏ, nhiều loại cúc áo, nút
dán giấy các màu để trẻ nhận biết, phân biệt màu, viết các chữ số từ 1 đến 10 và
các chấm tròn tơng ứng ra phía ngoài của ống tre, vỏ lon Cắt ngắn các ống chít
(que tre) thành đoạn thẳng cao hơn ống, rồi cho trẻ cắm số que vào ống có đúng
số lợng chấm tròn và số đã ghi ở ngoài, yêu cầu trẻ đếm số quy đã cắm ở mỗi
ống. Với hình thức này tôi thấy trẻ rất hứng thú chơi và nhớ bài sâu sắc hơn.
(Hình vẽ)
* Kết quả:
Với hình thức đổi mới nội dung giáo dục qua trò chơi này, tôi đã chuẩn bị
đợc rất nhiêu đồ chơi phục cho việc LQVT của trẻ, trẻ hứng thú học bài, nhớ bài
và hiểu bài sâu sắc.
Từ những phế liệu và tận dụng những đồ dùng gia đình tôi đã xây dựng đ-
ợc hàng loạt đồ chơi cho trẻ LQVT để củng cố các khái niệm về số lợng qua các
buổi chơi ngoài trời hoặc chơi với cát và nớc nh sau: Với mảnh xốp dùng dao sắc
cắt, tạo dáng các con thuyền, tàu thủy, dùng bút không phai viết các số lên mạn
thuyền (mạn tàu), dùng que chít (que tre gọt nhẵn) làm que đẩy cho trẻ chơi
Thuyền về bến , thuyền có số nào phải về đúng bến có số tơng ứng.
Qua trò chơi này tôi thấy trẻ rất hứng thú chơi, lại rèn cho trẻ kỹ năng
khéo léo, chính xác và chú ý ghi nhớ chủ định. Phát huy tính tò mò khám phá
của trẻ, trẻ về nhà khoe với những ngời thân của mình. Đây cũng là một giải
pháp rất quan trọng, một sự tác động lớn trong công tác tuyên truyền qua việc
làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ từ các phế liệu trong gia đình mà tôi đã tiến hành
bằng một số việc làm nh sau.
3. Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục
Để làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục mà chủ yếu là vận động phụ
huynh cùng tham gia làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. Trớc tiên tôi trng bày các đồ
dùng tự tạo tại góc tuyên truyền của lớp, để hàng ngày phụ huynh đa đón con
nhìn thấy, sau đó dùng thời gian ngoài giờ để trao đổi, trò chuyện với phụ huynh.
Mặt khác thông qua các buổi họp phụ huynh, qua các buổi dự giờ, thăm lớp, phụ
huynh đợc tận mắt nhìn thấy con mình đợc sử dụng các đồ dùng, đồ chơi tự tạo
do cô và trẻ cùng làm. Qua đó, phụ huynh không còn có quan điểm trẻ con biết
+ 10/23 cháu định hớng tốt về không gian, chiếm 43,4%
Bên cạnh đó, khắc phục đợc cho bản thân tôi bớt đợc nhiều thời
gian làm đồ dùng, để dành phần lớn thời gian cho việc ngiên cứu và nâng cao
chất lợng các giờ dạy.
Do vậy trong quá trình thực hiện tôi đã rút ra cho mình một số kinh
nghiệm sau:
1. Để bảo đảm đầy đủ đồ dùng, đồ chơi cho trẻ học các môn nói chung và
đủ đồ chơi phục vụ cho môn LQVT nói riêng. trớc hết cô giáo phải là ngời trực
tiếp điều tra tình hình thực tế về số lợng các đồ dùng, sau đó phân loại đồ dùng
theo từng chủng loại, sắp xếp các loại đồ dùng ở chỗ thấp vừa tầm với của trẻ,
giúp trẻ dễ lấy, dễ cất, có kế hoạch tu sửa những đồ dùng cũ, bổ sung những đồ
dùng còn thiếu vào các góc chơi cho trẻ.
2. Tích cực su tầm các nguyên liệu, phế liệu sẵn có trong thiên nhiên để tự
tạo mẫu đồ dùng, đồ vật cho trẻ học bằng cách tham khảo, su tầm các tranh ảnh,
sách báo, tập san có nội dung hớng dẫn làm đồ dùng tự tạo, vận dụng những hiểu
biết đã có của bản thân để tranh thủ thời gian làm các loại đồ dùng từ nguyên
liệu thiên nhiên cho trẻ.
3. Tận dụng các nguyên liệu, phế liệu trong sinh hoạt gia đình và các
loại đồ dùng không sử dụng của gia đình để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ, bằng
cách tranh thủ thời gian ngoài giờ su tầm các loại phế liệu và đồ dùng của gia
đình, và nghiên cứu, tởng tợng, sáng tạo các loại đồ dùng tự tạo sao cho hình
thức phù hợp, màu sắc và an toàn với trẻ.
4. Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục bằng cách tích cực trao đổi với
phụ huynh qua các giờ đón, trả trẻ, qua nội dung các buổi họp, để phụ huyh trực
tiếp thấy đợc tầm quan trọng của đồ dùng, đồ chơi với sự phát triển toàn diện của
trẻ
c. kết luận kiến nghị
Từ những kinh nghiệm trên tôi đã rút ra đợc kết luận và cũng xin có một
vài kiến nghị nh sau:
1. Kết luận: