Phần I MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
I.1.1 Cơ sở lý luận
Lúc sinh thời Bác Hồ kính yêu đã dạy:
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Sự nghiệp trồng người đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong đó
nghành giáo dục đào tạo giữ vai trò then chốt, chính vì vậy Đảng và nhà nước ta
đã có những đường lối chinh sách ưu tiên cho giáo dục phát triển. Đặc biệt trong
nghị quyết trung ương II đã nêu mục tiêu của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” để đáp ứng nền kinh tế của nước nhà trong giai
đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục Mầm Non có một vai trò
đặc biệt quan trọng là nền tảng, là cơ sở cho giáo dục các bậc học sau này. Vì vậy
chuẩn bị hành trang cho trẻ vào lớp 1, lớp học đầu tiên trong cuộc đời đi học của
trẻ đòi hỏi phải công phu để trẻ có được tâm thế vững vàng. Chính vì vậy mà mục
đích của giáo dục Mầm Non là nhằm hinh thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của
nhân cách con người mới XHCN Việt Nam như: Sự khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ
thể phát triển hài hòa cân đối, giáo dục cho trẻ giàu lòng yêu thương, biết quan
tâm nhường nhịn giúp đỡ những người gần gũi xung quanh, thật thà, lễ phép, hồn
nhiên, trẻ biết yêu cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và tạo ra cái đẹp ở xung quanh.
Đồng thời mục đích của giáo dục là nhằm phát triển ở trẻ trí thông minh, ham hiểu
biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ đẳng cần thiết để bước vào
trường phổ thông.
Tuy nhiên từ lúc lọt lòng mẹ đến lúc trưởng thành thì trẻ em phát triển qua
nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ này là sự tiếp theo của thời kỳ trước và
chuẩn bị cho thời kỳ sau. Trẻ Mầm Non ( 0-6 tuổi ) là thời kỳ đầu tiên của con
người phát triển rất đặc biệt với tốc độ phát triển rất nhanh về mọi mặt và là thời
kỳ có vị trí quan trọng. Là dặt tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách
mai sau. Chính vì vậy mà người lơn đặc biệt là người giáo viên mầm non và cũng
- 1 -
những lời nói không thôi chưa đủ, trẻ sẽ không thể nào nhận biết phân biệt được
- 2 -
những cái đúng, sai, tốt, xấu như người lớn. Thông qua những giờ văn học, những
bài thơ, câu chuyện, qua những hình ảnh, những tính cách nhân vật…Trẻ dần phân
biệt được những điều đó, nhưng để làm được điều đó thì trong các tiết dạy làm
quen chữ cái không chỉ có lời đọc, lời kể, lời nói của cô mà còn có sự góp phần
tích cực quan trọng của những đồ dùng dạy học. Đó chính là phương tiện cuốn hút
trẻ vào giờ học và là phương tiện giáo dục trực tiếp cho trẻ.
Qua những vấn đề trên tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng dạy học trong
các tiết dạy làm quen với chữ cái cho trẻ mẫu giáo có một vai trò hết sức quan
trọng. Chính vì vậy mà nhiệm vụ của người giáo viên là phải vận dụng và sử dụng
những đồ dùng dạy học một cách hợp lý, linh hoạt và sáng tạo đáp ứng được yêu
cầu của bài dạy và nhu cầu của trẻ.
Nhưng trên thực tế không phải địa phương nào, trường nào người giáo viên
nào cũng nhận thấy hết được tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng dạy học
trong các tiết làm quen chữ cái và đặc biệt là không phải người giáo viên nào
cũng có thể sử dụng các đồ dùng dạy học trong các tiết dạy một cách hợp lý hoặc
có thể nhận biết hoặc sử dụng được những đồ dùng dạy học thì lại còn phụ thuộc
vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, nếu nhà trường mà không có điều
kiện chưa trang bị đầy đủ đồ dùng dạy học cho các môn học nói chung và các tiết
dạy thơ, truyện , làm quen chữ cái nói riêng là không thể thực hiện được.
Nhưng mỗi trường hợp, mỗi giáo viên nhận thức hết được tầm quan trọng
của việc sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết dạy làm quen chữ cái cho trẻ thì
sẽ góp phần làm cho các giờ học đạt kết quả tố hơn, góp phần phát triển về mọi
mặt cho trẻ.
I.1.2 Cơ sở thực tiễn
Việc sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết dạy làm quen chữ cái có một
vai trò như vậy nên việc giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học một cách khoa học là
rất quan trọng.
Nhưng trên thực tế không phải địa phương nào, trường học nào, cô giáo
Giới hạn về phạm vi nghiên cứu của đề tài tìm hiểu thực trạng sử dụng đồ
dùng dạy học trong các tiết dạy “ Làm quen với chữ cái” cho trẻ mẫu giáo trường
mầm non Phong Dụ
I.3.3.2 Giới hạn về địa điểm nghiên cứu
- Trường mầm non Phong Dụ
I.3.3.3 Giới hạn về khách thể khảo sát.
- Là học sinh lớp mẫu giáo cơ sở Cao Lâm
I.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thống kê toán học
- Phương pháp nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm
Phần II NỘI DUNG
Chương I :
TỔNG QUAN
Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy trẻ làm quen với chữ cái
mẫu giáo5-6 tuổi trường mầm non Phong dụ.
II.1.1 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Từ trước tới nay có rất nhiều giáo trình tài liệu nói về các phương pháp sử
dụng đồ dùng dạy học trong các tiết học ở trường mầm non. Tuy nhiên ở những
tài liệu đó mới chỉ giới thiệu các loại đồ dùng và việc sử dụng đồ dùng nói chung
cũng như những hình thức, những phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học khi dạy
trẻ do đó việc nghiên cứu đối tượng cụ thể ở trường học là chưa có. Còn đề tài của
tôi là đi sâu vào việc nghiên cứu đề tài thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trong
các tiết dạy cho trẻ làm quen với chữ cái lớp mẫu giáo 5 -6 tuổi trường mầm non
Phong dụ.
II.1.2 Cơ sở lý luận.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục mầm non có một vai trò đặc
biệt quan trọng là nền tảng, là cơ sở giáo dục các bậc học cấp học sau này. Vì vậy
- 5 -
chuẩn bị hành trang cho trẻ mẫu giáo bước vào lớ 1, lớp học đầu tiên trong cuộc
- Bé làm quen với chữ cái
- Bé làm quen với môi trường xung quanh
- Tạo hình
- Âm nhạc
- Thể dục
- Bé làm quen với toán
Theo nội dung và phương pháp nhất định
Nhiều gia đình không coi trọng việc học chữ cái cho trẻ,mà họ nghĩ rằng
con em họ lớn lên sẽ tự biết đọc biết viết biết tính toán.
Nhiều bậc phụ huynh không động viên con em mình đến trường mà bắt con
ở nhà trông em, nhiều phụ huynh đã không đóng góp tiền cho con mua đồ dùng
học tập như: sách vở, bút mà còn ỷ lại cho cô giáo và nhà trường mua cho con
mình học.
*Nguyên nhân chủ quan:
Còn một số giáo viên chưa nhận thức được hết sự quan trọng của việc vận
dụng phương pháp trực quan cho trẻ là cần thiết, hoặc có một số giáo viên có nhận
thức được tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng thì trong lớp học lại không có
đồ dùng, có làm không đẹp, có đi mua để phục vụ cho bài dạy thì cũng chỉ mua
được một vài bộ về phục vụ cho tiết kiểm tra, thao giảng với lý do kinh phí hạn
hẹp.
Còn một số giáo viên không linh hoạt sáng tạo trong việc đưa đồ dùng trực
quan ra cho trẻ khi quan sát, chưa biết đưa vào lúc nào và sử dụng như thế nào là
hợp lý, không biết dùng các thủ thuật để lôi cuốn trẻ tập chung vào các đồ dùng
- 7 -
mà mình sắp đưa ra cho trẻ quan sát nên tiết học chưa đạt kết quả và phát huy hết
tính tích cực trong học tập của trẻ
*Về phía nhà trường:
Do điều kiện của nhà trường cũng còn khó khăn nên việc trang bị các đồ
dùng dạy học trong các tiết chữ cái còn hạn chế.
Chương III :
Tuyên truyền tới các bậc phụ huynh làm đồ dùng cùng cô, thu thập nguyên
vật liệu thiên nhiên như: ống tre, lọ nhựa… viết chữ cái vào đó để trẻ có thể phát
âm chữ cái ở mọi lúc mọi nơi, khi chơi trò chơi, chơi phân vai theo chủ đề.
* Biện pháp 3:
Nên để trẻ thường xuyên được sử dụng đồ dùng dạy học để trẻ cảm thấy
thích thú, chú ý động viên trẻ cắt dán chữ cái trong sách, dán vào một góc qui
định, hoặc dán vào vở của trẻ.
Đối với nhà trường mở các hội thi làm đồ ding vào các ngày lễ lớn như
ngày 20/11,8/3… Mở nhiều chuyên đề về các tiết dạy: Bé làm quen với toán, với
chữ cái,,với văn học, với môi trường xung quanh, với âm nhạc
Mời phụ huynh đến dự các tiết học của trẻ qua đó phụ huynh biết được con
em mình đi học được tham gia đầy đủ vào các hoạt động, từ đó các bậc phụ huynh
sẽ tích cực giáo dục, đưa con em họ đi học chuyên cần và tham gia hỗ trợ cô giáo
làm đồ dùng đầy đủ
II.3.2. Kết quả thực nghiệm
Tôi đã áp dụng phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy làm
quen với chữ cái e, ê ở cả 2 lớp Cao Lâm và Tành Pò. Với sĩ số học sinh 5 tuổi
như nhau kết quả thu nghiệm được như sau:
- 9 -
Lớp MG Cao Lâm MG Tành Pò
Phương pháp Phương pháp thông thường Phương pháp đề xuất
Giỏi 5/10 (50%) 7/10 (66%)
Khá 3/10 (34%) 2/10 (25%)
Trung bình 2/10 (16%) 1/10 (9%)
II.3.3. Bài học kinh nghiệm
Đối với tiết học làm quen với chữ cái cần phải có đồ dùng trực quan và
phải biết cách sử dụng đồ dùng như thế nào cho thích hợp thì kết quả mới đạt hiệu
quả cao.
Muốn đạt kết quả như vậy giáo viên phải cần mẫn, tìm tòi nghiên cứu, thực
sự say mê với nghề, trong điều kiện vật chất nhà trường còn khó khăn và thiếu
Năm xuất
bản
1
Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho
trẻ dưới 6 tuổi
Nguyễn kim
Đức
NXB- ĐHQG
Hà Nội
2001
2
Các hoạt động phát
triển ngôn ngữ cho
trẻ mầm non
Hồ Lam Hồng NXB
Giáo Dục
2006
3
Chương trình chăm
sóc giáo dục mẫu
giáo
Trần Thị Trang NXB
Giáo Dục
1994
Chương trình 26 tuần
cho lớp mẫu giáo 5
- 11 -
4 tuổi Phạm Thị Sửu NXB
Giáo Dục
- 12 -
2. Địa điểm
- Trong lớp
3. Phương pháp
- Quan sát, đàm thoại, sử dụng đồ dùng, dạy trẻ làm quen chữ cái mới.
III/ Tổ chức hoạt động
Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ
1. Tổ chức lớp
Bắt nhịp cho lớp hát và vận động bài “con chuồn
chuồn”
? Vừa được hát bài hát gì ?
Con chuồn chuồn được gọi là côn trùng
? Ngoài con chuồn chuồn còn có loại côn trùng
nào ?
2. Giảng bài: Giới thiệu bài
- Giờ học hôm nay cô hướng dẫn nhóm bé tô màu
con côn trùng, nhóm lớn làm quen chữ cái e, ê.
- Chia nhóm
Cô hướng dẫn nhóm bé trước.
Nhóm lớn phát đồ dùng.
- Chơi trò chơi trời tối trời sáng
Trời tối: Treo tranh “con ve”
Trời sáng:
? Các chú gà nhìn tinh xem trên bảng có gì ?
? Bức tranh vẽ về gì ?
Hát vận động
Con chuồn chuồn
Trả lời
Chia nhóm
Thực hiện
Trả lời
1 nét ngang, 1 nét cong
tròn.
- 14 -
Đi theo hàng theo lối”
(đố biết con gì)
Treo tranh : Con kiến
Làm quen tương tự chữ e.
- So sánh chữ e và ê.
+ Giống nhau: có 1 nét ngang, 1 nét cong tròn
+ Khác nhau: chữ e không có mũ, chữ ê có mũ
• Trò chơi : Tìm chữ theo hiệu lệnh của cô
• Trò chơi: Gạch chân chữ e, ê trong bài thơ
- Tới nhóm bé xem các em tô được gì?
Cô nhận xét, tuyên dương nhóm bé
- Cùng chơi trò chơi về đúng nhà
3. Củng cố
? Nhóm lớn làm quen chữ gì ?
? Tô màu con gì ?
? Chơi trò chơi gì ?
- Giáo dục- nhận xét- tuyên dương.
4. Kết thúc
- Hát, ra chơi
Con kiến
So sánh
Trẻ chơi
Tới nhóm bé
Trẻ chơi
e, ê
Phần V NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC.
II.3.2. Kết quả thực nghiệm………………………………………………………9
II.3.3. Bài học kinh nghiệm………………………………………………………10
Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
III.1.Kết luận ………………………………………………………10
III.2.Kiến nghị ………………………………………………………11
Phần IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
IV.1. Danh mục tài liệu tham khảo ………………………………………………11
IV.2. Giáo án đề xuất ………………………………………………………12
Phần V NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC.
V.1. Nhận xét của hội đồng khoa học cấp trường …………… …………16
V.2. Nhận xét của hội đồng khoa học Phòng giáo dục….………………… …16
- 17 -