LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung
thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thuý Dung
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Các bảng,
sơ đồ
Mục
lục
Nội dung Trang
Bảng 2.1 2.1.3
Kết quả hoạt động kinh doanh của MHB Hà Nội
2005 - 2009
38
Bảng 2.2 2.2.1
Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn của MHB
Hà Nội 2006 - 2009
39
Bảng 2.3 2.2.1
Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề kinh doanh
2006 - 2009
41
Bảng 2.4 2.2.2 Phân loại nợ theo nhóm 2006 - 2009 47
Bảng 2.5 2.2.2 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn 2006 - 2009 49
Bảng 2.6 2.2.2
Nợ quá hạn phân theo từng loại hình cho vay
2006 - 2009
51
kinh tế thị trường, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) lâu năm, có kinh
nghiệm nhưng cũng đã từng bị những hậu quả lớn do rủi ro tín dụng (RRTD)
gây nên, do đó việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đang là mối quan
tâm hàng đầu của các NHTM. Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu
Long chi nhánh Hà nội (MHB Hà Nội) là ngân hàng mới còn non trẻ so với
nhiều NHTM khác, kinh nghiệm thực tế còn ít ỏi, dự nợ không lớn nhưng tốc
độ phát triển nhanh, đồng thời tốc độ nợ quá hạn qua các năm gần đây có chiều
hướng tăng cao, nên việc cần phải học các bài học kinh nghiệm của các ngân
hàng bạn, tránh những hậu quả lớn đã xảy ra tương tự như các ngân hàng bạn
là rất cần thiết. Vì vậy, tìm kiếm các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại
chi nhánh Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông cửu Long chi nhánh Hà
Nội là một vấn đề cấp thiết đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về RRTD và hạn chế RRTD của
NHTM.
Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại MHB Hà Nội.
Đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại MHB Hà Nội.
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: nghiên cứu về rủi ro tín dụng và
hạn chế rủi ro tín dụng nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra trong hoạt
động tín dụng tại MHB Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu về RRTD tại MHB Hà
Nội trong thời gian từ 2007-2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như phương pháp thống kê, diễn giải, phân tích.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày theo các nội dung sau:
Chương 1: Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận;
+ Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
tổ chức tín dụng nước ngoài;
+ Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo qui định tại khoản 1 Điều 30 Luật
ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Các hình thức huy động vốn khác theo qui định của NHNN.
- Hoạt động tín dụng: NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân
dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của
NHNN.
+ Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình
thức: Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, đời sống; cho vay trung hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
+ Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng
khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo
lãnh theo qui định của NHNN.
+ Chiết khấu: NHTM được:
Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với
các tổ chức, cá nhân;
Tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối
với các tổ chức tín dụng khác.
+ Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng
phải thành lập công ty cho thuê tài chính. Việc thành lập, tổ chức và hoạt
4
động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của chính phủ về
tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
loại hình nào cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
* Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người
cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả và có lãi suất. Bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán.
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín
dụng đối với khách hàng (QĐ 1627 của NHNN) “Cho vay là một hình thức
cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Căn cứ theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng thì “Hoạt động tín dụng là
việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”
Căn cứ theo Điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì TCTD được cấp
tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức
khác theo quy định của NHNN.
* Các hình thức tín dụng ngân hàng:
Việc nghiên cứu các hình thức tín dụng có thể theo các tiêu thức phân
loại khác nhau. Thực tế các nhà kinh tế học thường phân loại TD theo các tiêu
thức sau:
6
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Tùy theo mỗi quốc gia khác nhau mà
quy định thời hạn tín dụng có thể khác nhau. Theo cách phân loại này, ở Việt
nam có thể chia tín dụng thành 3 loại:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, nhằm đáp
ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh
toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
cá nhân.
bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không cần có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà hoàn toàn dựa trên uy tín của khách hàng.
- Căn cứ vào mức độ rủi ro.
Cách phân loại này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị
ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn
thất kịp thời. Theo cách phân loại này, tín dụng được phân thành:
+ TD lành mạnh: Là các khoản TD an toàn, có khả năng thu hồi vốn cao.
+ Tín dụng có vấn đề: Là những khoản tín dụng đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn.
+ Tín dụng quá hạn khó thu hồi: Là những khoản tín dụng quá hạn quá
lâu, khả năng trả nợ kém, tài sản thế chấp bị giảm giá hoặc mất giá…
Ngoài ra trong quá trình phân loại người ta còn phân chia tín dụng căn cứ
vào xuất xứ tín dụng, phương pháp hoàn trả và một số các căn cứ khác tuỳ
theo mục tiêu nghiên cứu.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy
trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng nhằm
mục đích giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
8
1.1.1.3 Quy trình tín dụng
* Khái niệm.
Quy trình tín dụng là trình tự các bước mà ngân hàng thực hiện cấp tín
dụng đối với khách hàng. Quy trình tín dụng phản ánh nguyên tắc tín dụng,
phương pháp, trình tự giải quyết các công việc, thủ tục hành chính và thẩm
quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng.
* Nội dung.
Sự mở rộng hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những rủi ro, vì vậy cần
phải có các biện pháp hạn chế và kiểm soát rủi ro. Một trong những biện pháp
đó là thiết lập một quy trình tín dụng chặt chẽ để hướng dẫn các nhân viên tín
dụng và các bộ phận có liên quan thực hiện việc cho vay đạt được hiệu quả
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là thu thập và xử lý thông tin liên
quan đến khách hàng như: Năng lực pháp lý, mục đích vay vốn, uy tín của
khách hàng, năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi của dự án xin vay,
tài sản đảm bảo…
Bước 3- Quyết định cấp tín dụng.
Kết quả của quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cấp tín
dụng. Trên cơ sở hồ của khách hàng và tờ trình của cán bộ tín dụng, cấp trên
xem xét kiểm tra lại xem có cấp tín dụng hay không. Nếu yêu cầu được chấp
thuận thì lãnh đạo ngân hàng được phân quyền cùng khách hàng tiến hành ký
kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Bước 4 - Giải ngân.
Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng
được cấp đã được phê duyệt. Cơ sở để ngân hàng thực hiện giải ngân là kế
hoạch sử dụng vốn tín dụng đã được nêu trong hợp đồng tín dụng Sau khi
HĐTD đã được ký kết ở bước 3, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân cho khách
hàng như đã thoả thuận.
Bước 5 - Giám sát và quản lý tín dụng
Giám sát và quản lý tín dụng được tiến hành từ khi tiền vay được phát ra
cho đến khi khoản vay được hoàn trả, nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện
đúng và đầy đủ những cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, phù
hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng và đặc điểm kinh doanh sử dụng
vốn của khách hàng.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết nợ gốc và lãi. Các
khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an
10
toàn. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp khách hàng không hoàn trả hoặc
hoàn trả không đúng hạn tiền gốc và lãi cho ngân hàng. Do đó một trong
những yếu tố nhằm đảm bảo an toàn vốn là ngân hàng phải xây dựng được
một quy trình tín dụng hợp lý, khoa học, đồng thời phải tuân thủ đầy đủ và
nghiêm túc các bước của quy trình tín dụng. Quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp
thuộc vào tỷ lệ mất vốn cao khi xảy ra rủi ro.
Rủi ro tập trung tín dụng có thể được phân chia thành 2 loại: rủi ro tập
trung tín dụng thông thường - xảy ra khi tín dụng tập trung quá nhiều vào một
khách hàng, một nhóm khách hàng, một ngành hoặc một lĩnh vực (ví dụ như
bất động sản, xây dựng cơ bản ) và rủi ro tập trung tín dụng - do sự liên hệ
qua lại các yếu tố có liên quan nhiều đến các yếu tố đặc thù, chỉ có thể phát
hiện qua phân tích. Ví dụ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ ở châu Á
năm 1997 do sự liên hệ giữa RRTD, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản đã
tạo các khoản lỗ/mất vốn rộng khắp.
+ Quy trình tín dụng.
Các vấn đề trong qui trình cấp tín dụng là nguyên nhân gây ra RRTD,
trong đó chủ yếu liên quan đến quá trình thẩm định và theo dõi, giám sát tín
dụng. Có rất nhiều ngân hàng khó thực hiện một quá trình đánh giá tín dụng
một cách chuyên sâu bởi áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng
tăng. Cũng chính do áp lực này mà nhiều ngân hàng có xu hướng dựa vào một
số chỉ tiêu đơn giản để cấp tín dụng. Điều này chỉ có thể được hạn chế khi các
ngân hàng đưa ra một số bước bắt buộc phải thực hiện trong quá trình thẩm
định tín dụng.
12
Chính sách tín dụng không hợp lý, ví dụ như quá nhấn mạnh vào lợi
nhuận ngân hàng mà đơn giản hoá việc phân tích đánh giá khách hàng, nên
khi cho vay đã quá chú trọng về lợi tức, đặt mong ước về lợi tức cao hơn các
khoản cho vay lành mạnh, hoặc do áp lực cạnh tranh mà các ngân hàng có
chủ trương đơn giản hoá việc phân tích đánh giá khách hàng nhằm thu hút
được nhiều khách hàng đến với ngân hàng nhưng trong số đó có một số khách
hàng không có năng lực thanh toán. Ngoài ra, trong thể lệ cho vay có những
sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng.
- Đội ngũ cán bộ: Phẩm chất đạo đức và năng lực trình độ chuyên môn
của cán bộ quản trị và cán bộ tác nghiệp không đạt yêu cầu, nên trong công
tác thẩm định khách hàng không đánh giá chính xác, cụ thể như:
vay sai mục đích khác với hồ sơ, rủi ro cao, dễ thua lỗ, không trả được nợ cho
ngân hàng. Mặt khác có trường hợp cho dù công việc kinh doanh có lãi nhưng
họ vẫn chây ỳ không trả nợ ngân hàng, mục đích để chiếm dụng vốn ngân
hàng quay vòng trong hoạt động kinh doanh.
- Năng lực điều hành của chủ doanh nghiệp (khách hàng vay) còn hạn
chế, thiếu thông tin từ thị trường và các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng đến
kế hoạch sản xuất kinh doanh. Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra
sản phẩm có tính cạnh tranh cao, khả năng thích ứng thị trường, sản xuất kinh
doanh còn thiếu linh hoạt, sản phẩm làm ra không đáp ứng được nhu cầu thị
trường dẫn đến tụt hậu trong cạnh tranh làm giảm khả năng trả nợ hay phát
sinh nợ có vấn đề.
* Nguyên nhân khác.
Ngoài những nguyên nhân từ ngân hàng và từ phía khách hàng còn có
các nguyên nhân khác như sau:
14
- Nguyên nhân từ môi trường chính trị pháp luật: Nền chính trị quốc gia
ổn định là điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, là điều kiện thuận lợi thu
hút, gọi vốn đầu tư. Ngược lại, môi trường chính trị kém ổn định, xảy ra xung
đột, chiến tranh tất yếu dẫn đến sản xuất ngừng trệ, doanh nghiệp không có
khả năng trả nợ ngân hàng, điều này khiến cho RRTD là rất cao.
Các yếu tố pháp lý có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của mọi chủ thể. Hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ, phù hợp với thông lệ
quốc tế tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp ngân hàng hoạt
động ân thủ đúng pháp lụât. Ngược lại luật pháp thường xuyên thay đổi,
không nhất quán, mâu thuẫn, không rõ ràng gây trở ngại rất lớn cho việc tuân
thủ pháp lụât dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật như trốn thuế, nhập lậu
hàng làm giảm khả năng trả nợ ngân hàng.
- Nguyên nhân từ môi trường kinh tế: Những chính sách kinh tế vĩ mô
của nhà nước như: chính sách tài khoá, đất đai, thuế, chính sách tiền tệ, xuất
nhập khẩu có tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi
đối nghịch” và ”rủi ro đạo đức”.
1.1.2.3 Đặc điểm của RRTD
Để giảm thiểu RRTD trong hoạt động kinh doanh việc nắm bắt đặc điểm
RRTD giúp các nhà quản trị ngân hàng có biện pháp quản trị rủi ro nhằm hạn
chế RRTD. Có thể thấy rằng RRTD thường có đặc điểm sau:
* Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp.
Tính chất đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự đa dạng
và phức tạp của nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu
quả do rủi ro tín dụng gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này khi thực
hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần áp dụng đồng bộ nhiều biện
16
pháp, không chủ quan với bát cứ một dấu hiệu rủi ro nào. Bên cạnh đó, trong
quá trình xử lý hậu quả rủi ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất
và hậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp.
* Rủi ro tín dụng có tính tất yếu
Nói chung việc kinh doanh trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp đều
hiẻu rằng lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của một vấn đề, muốn có lợi nhuận
phải chấp nhận rủi ro, hoặc không chấp nhận rủi ro sẽ không bao giờ thu được
lợi nhuận. Chính vậy các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với rủi ro (trong đó
có RRTD).
Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng rủi ro (nhất là RRTD) luôn rình
rập ở mức cao hơn so với các lĩnh vực khác là do đối tượng kinh doanh của
ngân hàng là tiền tệ - loại hàng hoá đặc biệt này rất nhạy cảm với rủi ro.
Rủi ro là đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng, hay nói cách khác kinh
doanh ngân hàng luôn chứa đựng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các chuyên gia kinh tế
đều cho rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro (chủ
yếu là rủi ro tín dụng) ở mức độ phù hợp để đạt được mức lợi nhuận mong
muốn. Do đó người ta thường nói ngân hàng là ngành kinh doanh rủi ro (lớn
nhất là rủi ro tín dụng), hay nói cách khác rủi ro tín dụng là mang tính tất yếu.
1.1.2.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng
khắc phục được thì nguy cơ sẽ dẫn đến sự đổ vỡ của chính bản thân ngân
hàng. Uy tín của ngân hàng giảm có thể gây ra phản ứng dây chuyền trong
dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiền gửi và đến khi nguồn
vốn của chính ngân hàng cũng không đủ trả nợ, ngân hàng sẽ rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán thậm chí dễ đi đến phá sản. Do đó RRTD có
thể dẫn tới các rủi ro khác như: rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng …
18
* Đối với nền kinh tế
Như đã nói ở trên, vai trò của tín dụng ngân hàng rất quan trọng trong
việc điều hoà các nguồn vốn trong nền kinh tế, khi RRTD xảy ra, các nguồn
vốn trong xã hội sẽ không thể luân chuyển một cách liên tục, giảm khả năng
cung cấp vốn cho nền kinh tế. Nếu RRTD càng lớn nghĩa là nguồn vốn trong
nền kinh tế không được phân bổ hợp lý. Hiệu quả sử dụng vốn vì thế rất thấp,
ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
Hậu quả của rủi ro tín dụng đã ảnh hưởng rất nặng nề cho ngân hàng và
nền kinh tế do đó việc hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề cấp thiết cần phải
quan tâm đối với các nhà quản trị ngân hàng.
1.2 Hạn chế rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.1. Khái niệm hạn chế RRTD của NHTM
Hạn chế rủi ro tín dụng là sự ngăn ngừa khả năng xảy ra những tổn thất
do hoạt động tín dụng đưa lại và nếu RRTD xảy ra thì giảm thiểu tổn thất cho
ngân hàng. Là tổ hợp các biện pháp ngân hàng áp dụng nhằm giảm thiểu tối
đa những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Hạn chế rủi ro tín dụng nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao
mức độ an toàn cho kinh doanh của NHTM bằng các chính sách, các biện
pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ hạn chế RRTD của NHTM
1.2.2.1 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn: Là những khoản nợ mà khách hàng không trả được khi
đến hạn thanh toán đã thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ xấu đã được xoá nợ, và cho biết
mức độ tổn thất tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ được xoá
trong kỳ
=
Nợ được xoá trong kỳ
Tổng tài sản trong kỳ
X 100%
1.2.2.4 Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ quá hạn so với tổng tài sản, tỷ lệ này
càng cao mức độ rủi ro càng lớn.
Tỷ lệ NQH so tổng
tài sản trong kỳ
=
Nợ quá hạn trong kỳ
Tổng tài sản trong kỳ
X 100%
20
1.2.2.5 Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng so với tổng thu nhập
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu nhập về tín dụng so với tổng thu
nhập. Chỉ tiêu này thể hiện việc sử dụng vốn về hoạt động tín dụng có hiệu
quả hay không.
Tỷ trọng thu nhập từ
hoạt động TD trong kỳ
=
Thu nhập từ hoạt động TD trong kỳ
Tổng thu nhập trong kỳ
X 100%
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hạn chế rủi ro tín dụng của NHTM
1.3.1 Nhân tố chủ quan