Đề tài: bạn hãy cho biết những vấn đề xã hội bức xúc ở việt nâm
hiện nay là gì? phân tích thực trạng một số vấn đề tiêu biểu.
Bài làm:
Phần mở đầu
Các vấn đề xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó
ảnh hưởng đến mọi cá nhân, mọi dân tộc, mọi quốc gia. Giải quyết
các vấn đề xã hội luôn là một bài toán lớn mà mỗi quốc gia dân tộc
không thể tự mình giải quyết trong một sớm một chiều được. Đặc
biệt trong bối cảnh hiện nay, khi xu thể đô thị hóa lan ra toàn cầu
thi theo đó là vô số những vấn đề xã hội nảy sinh. Việt Nam cũng
không nằm ngoài quy luật đó, chính vì thế giải quyết tốt các vấn đề
xã hội là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta. Do đó để
tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay tôi xin
nghiên cứu tiểu luận : “ những vấn đề xã hội bức xúc của việt nam
hiện nay là gì? Phân tích thực trạng của một số vấn đề tiêu biểu”.
Nội dung chính
I/ Cơ sở lí luận:.
Giải quyết các vấn đề trong xã hội vẫn luôn là một mục quan trọng
trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong suốt
quá trình đổi mới của nước ta từ xưa đến nay. Qua các văn kiện
đảng từ đại hội VI đến đại hội XI đều nêu ra những thành tựu, hạn
chế cũng như giải pháp cho các vấn đề bức xúc ở Việt Nam hiện
nay như: xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, môi trường, giao
thông, dân số và kế hoạch hóa gia đình,lao động và việc làm. Đây
đều là những vấn đề nóng bỏng, gây nhiều bức xúc trong dư luận
từ xưa đến nay nhưng việc thực hiện không phải một sớm một
chiều mà hoàn thành được mà cần có một lộ trình lâu dài. Mới
nhất trong văn kiện đại hội đảng XI khi nói về chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội 2011-2020 đã nêu rõ nhiệm vụ cho việc giải
quyết các vấn đề xã hội:
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát
nông thôn tí lệ đói nghèo giảm chậm hơn so với thành thị nhưng
tương đối ổn định từ 45,5%(1998) xuống 21,2%(2010). Khu vực
đồng bào thiểu số tốc độ giảm nghèo được cải thiện đáng kể do
chương trình 135 của chính phủ từ75,2%(1998) xuông
28,8%(2010). Sự phân bố hộ nghèo các vùng, các miền còn chưa
đều. Bên cạnh tỷ lệ nghèo còn 6,1% của vùng Đông Nam Bộ và tỷ
lệ nghèo còn 12,9% của vùng đồng bằng sông Hồng, thì vùng Tây
Bắc vẫn còn tới 46,1%, tức là còn gần một nửa; vùng Bắc Trung
Bộ và vùng Tây Nguyên tuy giảm nhanh nhưng vẫn còn gần một
phần ba; vùng Đông Bắc vẫn còn 23,2%; vùng Duyên hải Nam
Trung Bộ vẫn còn 21,3%; ngay cả vùng ĐBSCL một vựa lúa của
cả nước cũng vẫn còn 15,3%.
Ta có thể thấy rằng mặc dù việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã
cải thiện đáng kể so với trước đây song bên cạnh đó còn nhiều bất
cập, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao, số hộ cận kề chuẩn nghèo
còn đông, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu.
2. Giáo dục và đào tạo:
Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển,
nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa
chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải
quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao
chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người. Trong khi qua đợt cải cách
lại nền giáo dục ta có thể thấy khối lượng kiến thức đối với các em
học sinh không những không được giảm đi mà còn tăng lên về
khối lượng vậy mà được bộ giáo dục gán cho mác “ giảm tải”,
trong khi đó khối lượng kiến thức vẫn còn nặng về lí thuyết nhiều,
các em không có điều kiện để vận dụng những điều đã học vào
thực tế chính vì thế học sinh cảm thấy nhàm chán, thiếu thưc tế.
Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới
chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề
có hiện tượng một số bộ phận nhân viên thôi việc ở các doanh
nghiệp, nhà nước trong nước để đi làm việc cho các công ty nước
ngoài. Hoạt động đưa người việt nam đi xuất khẩu lao động ở nước
ngoài còn nhiều bất cập trong chất lượng cũng như hiệu quả. Thứ
nhất, thị trường lao động của chúng ta chủ yếu tập trung vào
một số thị trường cũ như Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc…;
trong đó một loạt các thị trường tiềm năng có thu nhập cao
khác như Mỹ, Anh, Pháp thì chúng ta vẫn chưa chạm tới
được. Nếu có thì cũng chỉ là một vài doanh nghiệp ký kết
hợp đồng trực tiếp, còn thực tế thì Việt Nam chưa có một
cung chính thức nào. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta mới
chỉ đang tìm hiểu các thị trường đó một cách dè dặt, chưa
có những chính sách mang tính chiến lược, bứt phá… Thứ
hai, lao động của chúng ta xuất khẩu chủ yếu là lao động thủ
công, tay nghề chưa cao. Theo báo cáo của Cục Quản lý lao
động ngoài nước, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo xuất khẩu đi
các nước của nước ta chỉ đạt 15%. Tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lao
động, nguồn thu cho ngân sách và cho chính bản thân
người lao động. Ngành nghề mà chúng ta có sử dụng nhiều
lao động xuất khẩu cũng chỉ hạn chế như ngành xây dựng,
vận tải biển, khán hộ công và giúp việc gia đình, thuyền viên
tàu cá, dệt may…; trong khi đó các ngành nghề đòi hỏi tay
nghề và trình độ như các ngành công nghệ thông tin, tài
chính, ngân hàng…thì số lượng lao động của Việt Nam còn
khiêm tốn. Một bộ phận người lao động chưa tiếp cận đến
các kênh thông tin chính thức, không nắm rõ các thông tin
cần thiết như địa chỉ liên hệ ở nước ngoài khi cần giúp đỡ,
vấn đề thanh lý hợp đồng khi về nước.Nhiều trường hợp
người lao động không thể giao tiếp do bất đồng ngôn ngữ.
vùng, đông đúc ở đồng bằng và thưa thớt ở miền núi, trung du.
Chính sách kế hoạch hóa gia đình vẫn chưa phát huy được hết tác
dụng của mình, tí lệ sinh con thứ ba vẫn còn cao.
5. Môi trường:
Hiện nay tình hình môi trường việt nam đang báo động. Việt Nam
xếp hạng thứ năm khu vực châu á thái bình dương về mức độ ô
nhiễm khói bụi ở thành phố đông dân, nồng độ khí thải tăng cao và
nhanh, hiện tượng những dòng sông cục bộ chết, việc xuất hiện các
làng ung thư… Con người việt nam còn thiếu ý thức trong việc bảo
vệ môi trường, ví dụ như đơn giản việc vứt rác bừa bãi. Điển hình
ta có thể thấy rõ điều này sau đợt đại lễ 1000 năm thăng long, sau
mỗi sự kiện trôi qua thì để lại ven đường là những bãi rác chất
đống trải khắp con đường, cây cối bị giẫm nát thật là một cảnh
tượng hãi hùng. Các cánh rừng đầu nguồn, cây quý hiếm, động vật
quý hiếm bị khai thác, bắt giữ ngày càng nhiều. Thoái hóa đất là xu
thế phổ biến từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Thực tế cho
thấy các loại đất bị thoái hóa chiếm hơn 50% diện tích tự nhiên của
cả nước. Đất có độ dốc lớn và đất trống đồi núi trọc, đặc biệt là ỏ
tây nguyên và tây bắc dễ bị xói mòn khi có mưa lớn. Nhiễm phèn
và nhiễm mặn đã xảy ra nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông cửu
long. Việc sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp như phân hóa
học và thuốc trừ sâu tuy thấp nhưng không đúng kĩ thuật là nguyên
nhân gây ra ô nhiễm môi trường cục bộ ở một số địa phương và có
xu hướng ngày càng gia tăng. Môi trường nước ở việt nam ngày
càng ô nhiễm trầm trọng. Nguyên nhân là do hầu hết nước thải
sinh hoạt ở các đô thị và 90% nước thải từ các cơ sở công nghiệp
chưa được xử lí xả trực tiếp vào môi trường gây ô nhiễm nghiêm
trọng môi trường nước ở một số địa phương. Vùng hạ lưu các con
sông hầu hết đều bị ô nhiễm ví dụ như sông cấm, sông đồng nai,,
… Nước biển ven bờ đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm. Hàm lượng
xúc trong dư luận đó chính là không nghiêm minh trong việc xử
phạt và mức phạt chưa đủ mạnh đã làm cho người tham gia GT
không chấp hành tốt luật GT. Và bản thân cánh sát GT cũng không
muốn xử phạt nghiêm minh, bởi làm như vậy ngươì tham gia GT
sẽ cố gắng học luật cho tốt và chấp hành tốt luật trong khi tham gia
GT và như vậy cảnh sát GT sẽ hết cửa để kiếm chác qua những vụ
vi phạm luật GT và TNGT. Trên thực tế và tính toán hiện nay mỗi
tuần kho bạc Nhà nước thu từ 6 đến 7 tỷ đồng tiền phạt từ các lỗi
GT của người tham gia GT, thì cũng có đến 12 đến 14 tỷ đồng
ngoài khoản tiền phạt đó rơi vào túi cảnh sát GT ở các cấp. Được
biết các cảnh sát viên được bố trí vào các điểm chốt, các cung
đường để thực hiện việc giám sát và xử phạt đều phải có giá của
nó, theo các cảnh sát viên cho biết họ phải mất hàng chục triệu
đồng cho đến hàng trăm triệu động đút lót cho cấp trên có thẩm
quyền để được phân bổ về các chốt, các cung đường, giá của mỗi
chốt và cung đường tuỳ theo các vị trí. Bởi vậy, nên họ phải cố
gắng bằng mọi cách để thu lại số vốn của mình đã bỏ ra và cống
nộp cho cấp trên của họ, nên mới có tình trạng mãi lộ cảnh sát GT
như bấy lâu. Một thực tế đã qua, tình trạng thu giữ phương tiện của
người vi phạm luật GT đã gây ra không ít bức xúc cho người dân,
chúng ta đều biết ô tô xe máy là phương tiện làm ăn sinh sống và
đi lại nó cũng là một tài sản lớn của công dân, vì khi vi phạm luật
hoặc do không chịu mãi lộ mà bị thu giữ thì coi như tàn bởi khi thu
giữ phương tiện, họ đưa về chất thành đống giữa trời mua nắng, họ
cho người đổi hoặc tháo các bộ phận quan trọng của xe….bởi vậy
khi không may bị vi phạm là bằng mọi cách bỏ tiền ra mãi lộ
CSGT để không phải bị thu xe mà thu xe coi như mất xe bởi các tệ
nạn trên. Đặc biệt, giao thông việt nam có nhiều bất cập như hiên
nay là do việc giáo dục ý thức người dân về luật lệ an toàn giao
thông kém. Chính vì vập người dân coi thường luật lệ giao thông.
nông thôn vùng núi. Phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tham gia công
cuộc xoá đói, giảm nghèo.
2. giáo dục và đào tạo:
Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng
giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp
dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý
tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý
thức trách nhiệm xã hội. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số
lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Đề cao trách nhiệm của gia
đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế
hệ trẻ. Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật cho
các cơ sở giáo dục, đào tạo. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng
một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn
hoá đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề. Đẩy mạnh
đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính
sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ
sở đào tạo. Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo
nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời chú trọng
đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi đất;
nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo. Quan tâm hơn tới phát triển
giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Bảo đảm
công bằng xã hội trong giáo dục; thực hiện tốt chính sách ưu đãi,
hỗ trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu
số, học sinh giỏi, học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, giáo viên
công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn.
đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị. Gắn tiền lương
của người lao động với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Chăm lo bảo hộ lao động; cải thiện điều kiện làm việc; hạn chế tai
nạn lao động; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi
phạm pháp luật lao động, đưa việc thi hành pháp luật lao động vào
nền nếp; xây dựng quan hệ lao động ổn định, hài hoà, tiến bộ.
4. dân số:
Thực hiện nghiêm chính sách và pháp luật về dân số, duy trì
mức sinh hợp lý, quy mô gia đình ít con. Có chính sách cụ thể
đảm bảo tỉ lệ cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức tuyên truyền
nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của toàn xã hội
vào công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình. Làm tốt công tác
chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, giảm
mạnh tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng
dân số.
5. môi trường:
Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước
hết là của cán bộ lãnh đạo các cấp về bảo vệ môi trường. Khẩn
trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; xây
dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi gây
ô nhiễm môi trường. Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy
rừng và tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi; xử lý nghiêm các
cơ sở gây ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường.
Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án
đầu tư. Các dự án, công trình đầu tư xây dựng mới bắt buộc phải
thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ môi trường. Quản lý, khai
thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cân bằng
sinh thái. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi
trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu
công nghiệp dược; quản lý chặt chẽ thị trường thuốc chữa bệnh.
Bảo đảm cho người có bảo hiểm y tế được khám, chữa bệnh thuận
lợi; mọi công dân khi có nhu cầu và khả năng đều được đáp ứng
dịch vụ y tế chất lượng cao. Tiếp tục kiềm chế và giảm mạnh lây
nhiễm HIV. Làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh. Hoàn thiện
hệ thống pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, tăng cường
thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm. Thực hiện tốt chính
sách khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo,
trẻ em và người dân tộc thiểu số, chăm sóc sức khoẻ người cao
tuổi.
Kết luận
Giải quyết các vấn đề xã hội luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng
xuyên suốt quá trình tiến lên xã hội chủ nghĩa của nước ta. Nó là
một nhiệm vụ mang tính chiến lược mà mỗi bản thân một người
phải tự ý thức và chung tay thực hiện với mọi người.
Tài liệu tham khảo:
1. văn kiện đại hội đảng XI
2. văn kiện đại hội đảng X
3. trang web tổng cục thống kê: www.gso.gov.vn
4. www.wattpad.com
5. www.tailieu.vn
6. www.vietbao.vn
7. giáo trình đường lối đảng cộng sản việt nam
8. www.laodong.com.vn