Phân tích tác động của dự án phát triển nghề nuôi ong đối với việc giảm nghèo tại tỉnh Gia Lai - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN PHÁT TRIỂN NGHỀ
NUÔI ONG ĐỐI VỚI VIỆC GIẢM NGHÈO
TẠI TỈNH GIA LAI

Họ và tên: LÊ THỊ MAI TRÂM
Khóa: 2010 - 2012
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số ngành: (cỡ chữ 13)
Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 10/2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM KẾT QỦA NGHIÊN CỨU

Nghề nuôi ong là một ngành đặc biệt do chi phí thấp và những lợi ích mà
ngành nuôi ong mang lại là rất lớn . Hiện nay cả nước có khoảng 26.000 người nuôi
ong ở 54 tỉnh, thành phố của cả nước (Trung tâm nghiên cứu và Phát triển ong,
2010). Hình thức nuôi ong truyền thống là nuôi ong nội trong đõ có bánh tổ cố định
hoặc thùng/đõ có thanh xà. Hình thức nuôi cải tiến, thực hiện từ những năm 1960,
là với ong ngoại nuôi trong thùng hiện đại có khung cầu di động. Chăn nuôi ong
không cần vốn đầu tư nhiều, vì thức ăn chủ yếu của ong là mật hoa và phấn hoa của
các loại cây trồng do ong tự bay đi lấy về và chế tạo thành các sản phẩm có giá trị
kinh tế cao như mật ong, phấn hoa, sáp ong và sữa ong chúa. Phát triển nuôi ong
không chỉ thu được các sản phẩm quý, có giá trị cao mà còn được xem là biện pháp
tích cực giải quyết việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là tạo kỹ năng
và công ăn việc làm cho nữ giới (Margaret, 2003).
Tuy vậy, việc phát triển ngành nuôi ong gặp nhiều khó khăn do một bộ phận
người nuôi ong không qua đào tạo, trình độ về giống ong, quản lý bệnh và chất
lượng sản phẩm còn thấp. Người nuôi ong ít có cơ hội tiếp cận các nguồn tín dụng
để đầu tư phát triển sản xuất. Cộng đồng thường thiếu hiểu biết về vai trò của ong
mật trong thụ phấn cây trồng và hệ thực vật do vậy ở một số tỉnh rất nhiều trại ong
bị xua đuổi ra khỏi địa phương khi người nuôi ong chuyển ong đến khai thác
mật.Tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây chết ong, không cảnh báo trước
khi sử dụng, gây cho nghề nuôi ong gặp nhiều rủi ro. (Trung tâm nghiên cứu và
Phát triển ong, 2010). Ngành nuôi ong tuy đã tồn tài lâu đời tại Việt Nam nhưng
vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ về các khía cạnh kinh tế và xã hội về ngành
nấy.
Gia Lai là một tỉnh miền núi nghèo của Tây Nguyên. Toàn tỉnh có đến
79.417 hộ nghèo ở khắp 17 huyện thị, chiếm tỉ lệ tương đối cao 27,56% , xếp thứ 2
1
ở khu vực các tỉnh Tây Nguyên (Theo Cục Thống kê tỉnh Gia Lai, năm 2010). Phần
lớn số hộ đói nghèo là nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số. Hầu hết người nghèo
ở Gia Lai đều thiếu đất sản xuất. Do vậy mà dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng và
chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, khai thác, chế biến mật ong xuất khẩu tại tỉnh Gia

Mục tiêu cụ thể
1. Phân tích kết quả giảm nghèo sau khi thực hiện dự án ong:
2. Xác định khả năng theo đuổi nghề nuôi ong lâu dài của hộ tham gia dự
án:
3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc theo đuổi nghề nuôi ong lâu
dài:
Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho hộ nuôi
ong nghèo ở tỉnh Gia Lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những người tham gia dự án nuôi ong tại
Gia Lai.
Phạm vi nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu tại huyện Ia Grai và thành phố
Pleiku, tỉnh Gia Gia Lai. Nghiên cứu dữ liệu nuôi ong của các hộ nuôi ong trong
năm 2010. Và đề tài tập trung vào việc đánh giá tác động của nghề nuôi ong đến
sinh kế của hộ nông dân nghèo.
Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn gồm 5 chương. Chương I: Mở đầu. Chương II: Tổng quan
về nuôi ong và địa bàn nghiên cứu. Chương III: Cơ sở lý luận và phương pháp
nghiên cứu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương V: Kết luận và
kiến nghị. Kèm theo là Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.
Luận văn gồm có: Chương I - Mở đầu: trình bày sự cần thiết, mục tiêu, đối
tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương II - Tổng quan: trình bày tổng quát
3
về các tài liệu nghiên cứu và các thông tin có liên quan đến nuôi ong. Chương III -
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: trình bày những lý luận liên quan đến
vấn đề nghiên cứu, các khái niệm và phương pháp nghiên cứu mà luận văn sử dụng
để đạt được mục tiêu đề ra. Chương IV - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: trình
bày các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện luận văn và phân tích, thảo luận
những kết quả đạt được. Chương V - Kết luận và kiến nghị: trình bày ngắn gọn
những kết quả chính mà đề tài nghiên cứu đã đạt được, đề ra một số giải pháp có

1993).
1.1.2 Tổ chức, phương thức và kỹ thuật chăn nuôi ong:
 Tình hình giống ong:
Giống ong hiện đang nuôi ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là giống ong ngoại
và người nuôi ong ngoại chủ yếu là người nuôi ong chuyên nghiệp. Năng suất mật
của ong nội thấp hơn 2 lần so với ong ngoại. Năng suất ong nội đạt khoảng 12,2-
18,3 kg/đàn/năm, ong ngoại là 27,3-46,9 kg/đàn/năm. Giống ong của Việt Nam có
sức đẻ trứng không cao (ong ngoại trung bình gần 1000 trứng/ngày đêm, ong nội
dưới 500 trứng/ngày đêm) và tỷ lệ cận huyết cao (Cục Chăn nuôi, 2011). Tỷ lệ cận
huyết đối với giống ong ngoại từ 6 đến 9,4% ( trên 8,3% được coi là bị cận huyết
nặng). Năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong đã nhập một số giống
từ các nước Đức, Áo, Niu-Dilân và đưa thử nghiệm ở các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng.
Đây cũng là nguyên nhân làm tươi máu cho giống ong của các tỉnh khu vực phía
Nam, ngoài cải thiện về năng suất giống ong nhập về đã làm giảm tỷ lệ cận huyết
cho giống ong ngoại tại các tỉnh phía Nam (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
ong, 2010).
 Các phương thức nuôi ong:
Có ba phương thức nuôi ong: Nuôi ong chuyên nghiệp với quy mô từ 150
đến 3.000 đàn, nuôi ong di chuyển theo nguồn hoa. Nuôi ong bán chuyên nghiệp
với qui mô từ 50-149 đàn ong/chủ trại, chủ yếu đặt ong tại nhà nhưng di chuyển để
khai thác mật trong một số vụ mật chính hoặc khi nguồn hoa tại địa phương khan
hiếm. Và nuôi ong gia đình với quy mô từ 10 đến 49 đàn/hộ, thường nuôi ong nội
và đặt ong tại nhà, rất ít di chuyển theo nguồn hoa. (Trung tâm Nghiên cứu và Phát
triển ong, 2010). Quy mô trại nuôi ong ngoại cao hơn 2 lần so với trại nuôi ong nội
và quy mô các trại ong khu vực phía Nam cao gần gấp 2 lần so với khu vực phía
Bắc (Cục Chăn nuôi, 2011).
 Các vấn đề kỹ thuật trong nuôi ong hiện nay: Người nuôi ong đều có
những kỹ thuật cơ bản để quản lý trại ong như biết các kỹ thuật tạo chúa, nhân đàn,
quản lý ong theo mùa, phát hiện và điều trị bệnh dịch hại… nhưng kiến thức về
giống thì rất ít người biết (như đánh giá về sức đẻ trứng của ong chúa, tỷ lệ cận

cuối tháng 11 đến tháng tháng 5 tại các tỉnh có nguồn hoa tập trung như Đồng Nai,
Đắc Lắc, Gia Lai, Bình Phước, Lâm Đồng. Các tỉnh Tây Nguyên rất đa dạng về
loại cây nguồn mật, cây nguồn phấn, có khả năng nuôi ong quanh năm nhưng mùa
vụ thuận lợi nhất cho nuôi ong từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau. Trước đây Đắc Lắc
và Gia Lai được coi là những tỉnh thuận lợi nhất với nghề nuôi ong của khu vực
phía Nam (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong, 2010).
Bảng 1.1: Danh mục các cây nguồn mật chính
Tên cây Thời gian thu hoạch Phân bố
Cà phê Tháng 11-T.3 năm sau Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Nai
Cao su Tháng 2 - Tháng 5. Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Đắk
Lắk, Gia Lai
Vải Tháng 4 - Tháng 5 Bắc Giang, Bắc Ninh
Chôm chôm Tháng 4 - Tháng 5 Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Nai
Nhãn Tháng 5 - Tháng 6 Tiền Giang, Vĩnh Long, Bà Rịa - Vũng
Tàu, Hưng Yên
Keo lá tràm Tháng 5 - Tháng 9 Đồng Nai, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Thừa Thiên Huế, Quãng Nam, Quảng Ngãi,
Nghệ An, Hà Tĩnh
Tràm mắm Tháng 7 - Tháng 9 Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng
Tháp
Điều Tháng 11-T.1 năm sau Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương
(Nguyễn Văn Long và ctv, 2004; DongNaiHoney, 2011).
1.1.4 Tình hình sản xuất, chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm ong
Giá trị sản xuất sản phẩm ong trong những năm gần đây có xu thế tăng dần
do tăng trưởng cả về số lượng đàn ong, năng suất mật ong và cả giá bán mật ong nội
địa cũng như xuất khẩu. Sản phẩm khai thác của ngành ong gồm có mật ong, phấn
hoa, sữa ong chúa, sáp ong, keo ong… Trong các loại sản phẩm ong thì mật ong là
sản phẩm có giá trị sản xuất cao nhất. Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu mật ong của
Việt Nam đạt 31 triệu USD (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong, 2010).
Mật ong của Việt Nam tiêu thụ chủ yếu nhờ xuất khẩu (những năm gần đây

Người nuôi ong ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn tín dụng để đầu tư phát
triển sản xuất. (Cục chăn nuôi, 2011).
1.1.6 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan:
Hiện đã có những nghiên cứu về các loài ong mật, hướng dẫn nuôi ong,
việc sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi ong, tỷ lệ nước trong mật ong, hiệu quả
kinh tế của giống ong, giảm nghèo bằng nuôi ong ở Việt Nam và các nước trên
thế giới.
Margaret (2003) nghiên cứu giảm hộ nghèo bằng nghề nuôi ong cho phụ nữ
nông thôn Uganda cho thấy nuôi ong tạo ra cơ hội tốt cho phụ nữ để góp phần giảm
đói nghèo cho hộ gia đình bởi nghề này không cần thiết phải cần có đất đai.Việc
thực hiện của chương trình Dịch vụ tư vấn nông nghiệp quốc gia thông qua việc tư
vấn sản xuất, kiến thức và kỹ năng cũng như tổ chức cho họ để tiếp thị sẽ đóng một
vai trò lớn trong việc hỗ trợ các nhóm phụ nữ tổ chức nuôi ong tốt hơn, xem mhư
một nghề có hiệu quả kinh tế.Việc xây dựng một chính sách quốc gia để định hướng
phát triển nghề nuôi ong tạo cho phụ nữ có cơ hội tốt để tăng khả năng đóng góp
của họ vào việc giảm đói nghèo hộ gia đình và cải thiện của thu nhập của các hộ gia
đình. Sự hình thành hội nuôi ong là một yêu cầu để đảm bảo rằng, các vấn đề về
chất lượng và tiếp thị của mật ong và các sản phẩm của ong được đưa lên hàng đầu
và mang lại lợi ích cho tất cả những người sản xuất kể cả phụ nữ. Các chương trình
NMOS (Dịch vụ tư vấn nông nghiệp cho người nghèo và phụ nữ) có thể hỗ trợ sự
tham gia của các nhóm phụ nữ như một hiệp hội. Các sáng kiến của Chính phủ cung
cấp sự hỗ trợ rất cần thiết cho phụ nữ để các đại lý thu mua sản phẩm ong tham gia
như một tổ chức tín dụng, để mở đường cho họ đầu tư vào công nghệ tăng năng suất
và nâng cao chất lượng nhằm mang lại lợi nhuận cho người nuôi ong.
Theo nghiên cứu của Trung tâm Đào tạo nghề Gokwe (2011) thì có thể phân
biệt được người nuôi ong thực thụ ở chỗ họ luôn có tinh thần ham học, say mê tìm
hiểu về lĩnh vực nuôi ong. Người nuôi ong là những người thực tế và do đó tự rút ra
nhiều kết luận từ những gì mà họ trải nghiệm trong nỗ lực học hỏi thêm của họ.
Võ Minh Châu (2008) nghiên cứu sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi ong
mật tại Bình Phước đã đưa ra kết quả: Tỷ lệ trại sử dụng kháng sinh trong chăn

đàn theo dõi. Ong Ý có số cầu bình quân/đàn đạt 9,84 cầu cao hơn so với ong nội
(5,18 cầu), năng suất của mật ong Ý cao hơn 2,96 lần so với ong nội. Mật ong Ý có
chất lượng tốt hơn so với ong nội thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ nước thấp hơn
(22,12 - 24,72% so với 23,72 - 29,80%), độ axit thấp hơn (11,13 – 50,22 mN/kg so
với 18,08 – 55,14 mN/kg), tỷ lệ hydrometyla furfurala thấp hơn (35,12 – 38,84
mg/kg so với 37,87 – 39,18 mg/kg). Tỷ lệ nước của cả mật ong nội và mật ong Ý
trong thí nghiệm đều cao hơn so với tiêu chuẩn (>21%), do vậy chưa đủ tiêu chuẩn
để xuất khẩu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình sơ chế đến hoạt tính chống oxy hóa của
phấn hoa của Lê Minh Hoàng, Nguyễn Minh Nam, Nguyễn Anh Khoa, Lê Văn Huy
(2009) cho kết quả : Quá trình sơ chế phấn hoa có ảnh hưởng tới hoạt tính chống
oxy hóa của phấn hoa. Sơ chế phấn hoa bằng phương phơi nắng làm cho hoạt tính
chống oxy hóa của phấn hoa mất đi rất nhiều. Nhiệt độ sấy phấn hoa có ảnh hưởng
đến hoạt tính chống ôxy hóa của phấn hoa và nhiệt độ sấy tối ưu của phấn hoa
trongmấy sấy chân không là 37
0
C.
Tóm lại, nuôi ong có từ rất lâu và đã có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực kỹ
thuật nuôi ong nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu nào về tác động kinh tế - xã
hội của nghề nuôi ong, đặc biệt đối với vấn đề giảm nghèo.
1.2 Tổng quan về địa bàn tỉnh Gia Lai
1.2.1 Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế liên quan đến việc phát triển ngành ong
Gia Lai là tỉnh cao nguyên miền núi. Địa hình cao nguyên chiếm gần 1/3
diện tích tự nhiên của tỉnh. Khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, phân chia làm 2
mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa bắt đầu tư tháng 5-6 đến tháng 10-11. .
Nhiệt độ trung bình từ 21-23
0
C và giảm dần theo độ cao. Do đặc điểm của địa hình
và khí hậu, nên Gia Lai có nhiều vùng sinh thái khác nhau, đây là thế mạnh để phát
triển kinh tế nông lâm nghiệp tổng hợp, đa dạng và phong phú, đồng thời rất phù

địa phương.
Kết quả đạt được của Dự án: Đào tạo được 10 kỹ thuật viên chuyên về nuôi
ong ngoại và 05 kỹ thuật viên chuyên về tinh lọc, giảm thủy phần mật ong. Tổ chức
02 lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi ong ngoại, kỹ thuật tạo chúa, chia đàn, phòng trị
bệnh, khai thác và chế biến mật ong đạt chất lượng cao cho hơn 80 lượt người ở
huyện Ia Grai và thành phố Pleiku. Kết hợp với Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh
học và Công nghệ Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM tổ chức các
hội nghị, hội thảo và tham quan học hỏi các mô hình nuôi ong tiên tiến đã đạt hiệu
quả kinh tế cao cho các hộ nuôi ong. Thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo,
hội nghị, các hộ dân đã tiếp thu được các tiến bộ kỹ thuật để ứng dụng vào thực tế
sản xuất mang lại nhiều lợi ích cho chính họ và cho cộng đồng. Tổ chức chuyển
giao 06 quy trình công nghệ (04 quy trình công nghệ nuôi ong, khai thác, sơ chế,
bảo quản và kiểm tra kiểm soát chất lượng mật ong, phấn hoa và 02 quy trình phòng
trị bệnh) cho các kỹ thuật viên đồng thời phối hợp với người nuôi ong để tổ chức
thực hiện các mô hình ứng dụng các công nghệ này. Xây dựng được 06 mô hình
ứng dụng chuyển giao kỹ thuật nuôi ong tiên tiến và 01 mô hình ứng dụng và
chuyển giao công nghệ tinh lọc và giảm thủy phần mật ong, công suất đạt 1.000
tấn/năm. Xây dựng và triển khai 6 chuyên đề về kiến thức khoa học chăn nuôi ong
qua việc phát hành tài liệu và qua phương tiện thông tin đại chúng. Từ 300 đàn ong
giống (Apis mellifera carnica) được nhà nước hỗ trợ kinh phí năm 2007 cùng với
4.280 đàn ong Ý của các nông hộ tham gia mô hình, áp dụng quy trình công nghệ
tạo chúa, chia đàn, đến năm 2010 các kỹ thuật viên cùng các nông hộ đã nhân thêm
và chuyển đổi được 10.100 đàn ong ngoại có chất lượng tốt, thu được 336 tấn mật
ong đạt tiêu chuẩn Việt Nam và EU. Từ 06 hộ ban đầu tham gia mô hình ứng dụng
và chuyển giao kỹ thuật nuôi ong ngoại đến năm 2010 đã nhân rộng ra 120 hộ, trong
đó có 62 hộ nghèo. Mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ tinh lọc và giảm
thủy phần mật ong đã tinh lọc và giảm thủy phần được 940 tấn mật ong để cung ứng
cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Hỗ trợ thành lập một Công ty sản xuất kinh
doanh xuất nhập khẩu các sản phẩm ong mật.
CHƯƠNG 2

từ nhiều nguồn khác nhau như bán sản phẩm, việc làm…; Khả năng tiếp cận các
dịch vụ tài chính về tín dụng và tiết kiệm từ các nguồn chính thức (như ngân hàng)
và các nguồn phi chính thức (chủ nợ, họ hàng); Xem tiết kiệm và những dạng tích
luỹ khác do tiền bán các sản phẩm nông nghiệp, số lượng vàng được tích luỹ, số đất
đai, công cụ sản xuất Tùy từng loại nguồn thu nhập hay nghề nghiệp khác nhau
mà đem lại các mức thu nhập khác nhau cho một hộ trong khu vực. Hơn nữa, vốn
tài chính là một loại tài sản sinh kế mà người nghèo thường có ít nhất trong các vốn.
Nguồn vốn vật chất:
Đề cập đến tài sản do con người tạo nên và các dạng tài sản vật chất. Nguồn
vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản (đường giao thông công cộng và cầu
cống, nhà máy điện, nhà máy nước, các nguồn cung cấp thông tin như báo chí, vi
tính, và các tài liệu đọc nghe khác…) và công cụ sản xuất hàng hóa (xe tải, máy
thông khí, máy phát điện, thuyền…) cần thiết để hỗ trợ sinh kế.
Cơ sở hạ tầng được hiểu là một loại hàng hóa công cộng sử dụng mà không
cần trả phí trực tiếp, bao gồm những thay đổi trong môi trường vật chất mà chúng
giúp con người đáp ứng nhu cầu cơ bản của mình và đem lại nhiều lợi ích hơn.
Công cụ sản xuất hàng hóa là những công cụ và thiết bị mà con người sử dụng để
hoạt động mang lại năng suất cao hơn. Các công cụ đó có thể do một cá nhân hay
nhóm người sở hữu, cũng có thể thuê hoặc mua, phổ biến là đối với các thiết bị
phức tạp.
Nguồn vốn tự nhiên:
Là tư liệu sản xuất rất quan trọng đặc biệt là với hộ nông dân, nếu thiếu
nguồn vốn này sẽ khó khăn trong phát triển kinh tế kinh tế hộ. Nguồn lực tự nhiên
nếu xét trên phương diện một cộng đồng bao gồm các loại tài nguyên như đất đai,
tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học, tài nguyên nước, tài
nguyên khí hậu
Nguồn vốn xã hội:
Nguồn vốn xã hội là các tiềm lực xã hội mà con người vạch ra nhằm theo
đuổi các mục tiêu sinh kế của mình. Các mục tiêu này được phát triển thông qua các
mạng lưới và các mối liên kết với nhau, tính đoàn hội của các nhóm chính thức, mối

.
2.1.2 Nghèo
Nghèo là tình trạng một số bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa
nhận tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phương.
Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối
thiểu. Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mối
quan hệ với đường nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian.
Nghèo tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng
hóa khác, do vậy một đường nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh
nghèo đói.
Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/ hộ gia đình so với
mức sống trung bình đạt được. Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so
với mức thu nhập bình quân của dân cư, có quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập
bình quân, có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân.
Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái
niệm nghèo tương đối. Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng khái niệm
nghèo tuyệt đối. Cách chọn khái niệm tùy theo mục đích mà mình theo đuổi. Tuy
nhiên, cả hai khái niệm trên đều không hoàn toàn đầy đủ. Khái niệm nghèo tuyệt
đối không tính đến sự khác nhau về mức sống ở các nước. Khái niệm nghèo tương
đối, không tính đến sự diễn biến của bối cảnh kinh tế xã hội, do đó không tính đến
diễn biến của những nhu cầu.
Giảm nghèo hay (XĐGN) chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao
mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số
lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác, giảm nghèo là một quá trình
chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạnh khác,
giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy
đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
Chuẩn nghèo: Để xác định hộ nghèo thì cần xây dựng chuẩn nghèo (tiêu chí
nghèo). Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những người được

nó có thể tăng khả năng sản xuất.
c) Cuối cùng, chính người nghèo thường hiểu về họ và nhu cầu của
họ tốt nhất .
Có ba điểm cơ bản trong phương pháp sinh kế để giảm nghèo. Thứ nhất là
phương pháp chú trọng vào sinh kế của người nghèo, trong đó giảm nghèo phải là
mấu chốt. Thứ hai là loại bỏ cách tiếp cận theo bộ phận đầu vào (nông nghiệp, nước
sạch, hay y tế), thay vào đó là bắt đầu bằng việc phân tích các sinh kế hiện tại để
xác định các tác động phù hợp. Thứ ba là chú trọng sự tham gia của người nghèo
trong việc xác định các họat động phù hợp để triển khai (Lasse, 2001).
Phương pháp phân tích sinh kế bền vững: Sử dụng công cụ mang tên
“Khung sinh kế bền vững”. Khung sinh kế bền vững nêu lên những yếu tố chính
ảnh hưởng đến sinh kế người dân.
Bảng 2.1: Khung phân tích sinh kế của nông dân nghèo

Tự nhiên
Tài chính
Xã hội
Vật
chất
Con người
Bối cảnh
dễ tổn
thương
- Xu hướng
- Thời vụ
- Chấn động
(trong tự
nhiên và
môi trường,
thị trường,

- Đa dạng
-Sinh tồn
hoặc tính bền
vững
Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều hơn
-Cuộc sống thỏa
mãn hơn
-Giảm khả năng tổn
thương
-An ninh lương thực
được cải thiện
-Công bằng xã hội
được cải thiện
-Tăng tính bền vững
của tài nguyên thiên
nhiên
-Giá trị không sử
dụng của tự nhiên
được bảo vệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status