BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ NUÔI ONG ĐỐI VỚI
SINH KẾ HỘ NÔNG DÂN NGHÈO TỈNH GIA LAI
Họ và tên: LÊ THỊ MAI TRÂM
Khóa: 2010 - 2012
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số ngành: (cỡ
Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 12/2011Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 01 năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM
Em gửi cô đề cương bổ sung cơ bản những ý kiến đóng góp của Hội đồng hôm nay để sớm sửa lại
Bảng hỏi, riêng bổ sung phần Thực trạng nuôi ong (ảnh hưởng của dự án đến việc giảm nghèo) em
chưa biết phải phân tích thế nào.
Nhờ cô xem sửa giúp, nhất các chỉ tiêu phân tích các nguồn lực và 2 mô hình là thu nhập và % người
quyết định theo đuổi nghề nuôi ong (để hoàn thiện được bảng câu hỏi) .
Em cảm ơ
ii
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nghề nuôi ong là một ngành đặc biệt do chi phí thấp và những lợi ích mà ngành
nuôi ong mang lại là rất lớn . Hiện nay cả nước có khoảng 26.000 người nuôi ong ở 54
tỉnh, thành phố của cả nước (Trung tâm nghiên cứu và Phát triển ong, 2010). Hình
thức nuôi ong truyền thống là nuôi ong nội trong đõ có bánh tổ cố định hoặc thùng/đõ
có thanh xà. Hình thức nuôi cải tiến, thực hiện từ những năm 1960, là với ong ngoại
nuôi trong thùng hiện đại có khung cầu di động. Chăn nuôi ong không cần vốn đầu tư
nhiều, vì thức ăn chủ yếu của ong là mật hoa và phấn hoa của các loại cây trồng do
ong tự bay đi lấy về và chế tạo thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như mật ong,
phấn hoa, sáp ong và sữa ong chúa. Phát triển nuôi ong không chỉ thu được các sản
phẩm quý, có giá trị cao mà còn được xem là biện pháp tích cực giải quyết việc làm,
góp phần xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là tạo kỹ năng và công ăn việc làm cho nữ giới
(Margaret, 2003). Nuôi ong giúp tạo ra sinh kế bền vững, đây là một phương tiện hữu
ích của việc tăng cường sinh kế bởi nó sử dụng và tạo ra một loạt các tài sản. Tuy vậy
nuôi ong chỉ thành công khi hội đủ tất cả các nguồn vốn (Bradbear, 2004). Sinh kế bền
vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai. Một sinh kế chỉ bền vững khi nó
có khả năng liên tục duy trì hay củng cố mức sống ở hiện tại mà không làm huỷ hoại
cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Để có được điều này, sinh kế bền vững phải
có khả năng vượt qua và hồi phục sau các áp lực và sốc .
Tuy vậy, việc phát triển ngành nuôi ong gặp nhiều khó khăn do một bộ phận
người nuôi ong không qua đào tạo, trình độ về giống ong, quản lý bệnh và chất lượng
sản phẩm còn thấp. Người nuôi ong ít có cơ hội tiếp cận các nguồn tín dụng để đầu tư
tham gia là bao nhiêu?
Kết quả chuyển giao kỹ thuật nuôi ong có bền vững không? Nói cách khác là
người nghèo có chọn nghề nuôi ong làm kế sinh nhai lâu dài sau khi thoát nghèo
không ?
2
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc theo đuổi lâu dài nghề nuôi ong của
người nghèo?
Để trả lời các câu hỏi này, đề tài sẽ áp dụng giả thiết nghiên cứu:
- Tỷ lệ (%) người nghèo quyết định theo đuổi lâu dài nghề nuôi ong sẽ thấp hơn
% người không nghèo.
- Tỷ lệ người nghèo quyết định theo đuổi lâu dài nghề nuôi ong sẽ thấp hơn so
với người không nghèo là do các người nghèo bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn
lực sinh kế
Mục tiêu cụ thể
1. Phân tích kết quả giảm nghèo sau khi thực hiện dự án ong:
2. Xác định khả năng theo đuổi nghề nuôi ong lâu dài của hộ tham gia dự án:
3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc theo đuổi nghề nuôi ong lâu dài:
Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho hộ nuôi ong
nghèo ở tỉnh Gia Lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những người tham gia dự án nuôi ong tại Gia
Lai.
Phạm vi nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu tại huyện Ia Grai và thành phố Pleiku,
tỉnh Gia Gia Lai. Nghiên cứu dữ liệu nuôi ong của các hộ nuôi ong trong năm 2010.
Và đề tài tập trung vào việc đánh giá tác động của nghề nuôi ong đến sinh kế của hộ
nông dân nghèo.
Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn gồm 5 chương. Chương I: Mở đầu. Chương II: Tổng quan
về nuôi ong và địa bàn nghiên cứu. Chương III: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên
cứu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương V: Kết luận và kiến nghị.
William Mew ở Anh đã làm một thùng ong bằng gỗ có nhiều tầng chồng lên nhau, và
khi tầng nào đầy mật thì có thể lấy cả tầng với toàn bộ bánh tổ mật ra được. Năm
1675, Gedde lại cải tiến thêm: Ở mỗi tầng lại có khung để ong gắn bánh tổ, và khi đầy
mật thì cắt cả bánh tổ ra. Kiểu thùng Stewwarton do Robin Ker ở Scotlan sáng tạo năm
1819 có xà cầu cố định. Tiến thêm một bước nữa, Augustus Munn ở Anh, năm 1844 là
một kiểu thùng hiều tầng và có khung cầu. Một tiến bộ sau cùng rất thiết thực, kết hợp
được cả khung cầu di động đặt trong thùng tầng đã ra đời năm 1851 do L.L.Langstroth
ở Hoa Kỳ sáng tạo. Trong thùng có những khung chữ nhật để ong xây cầu, và cầu có
thể lấy ra đặt vào tuỳ ý, có thể thêm vào bớt ra thùng tầng dễ dàng. Đó là mẫu mực cho
những thùng ong có cầu di động mà ngày nay sử dụng phổ biến ở khắp nơi (Eva
Crane, 1993).
6
1.1.2 Tổ chức, phương thức và kỹ thuật chăn nuôi ong:
Tình hình giống ong:
Giống ong hiện đang nuôi ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là giống ong ngoại và
người nuôi ong ngoại chủ yếu là người nuôi ong chuyên nghiệp. Năng suất mật của
ong nội thấp hơn 2 lần so với ong ngoại. Năng suất ong nội đạt khoảng 12,2-18,3
kg/đàn/năm, ong ngoại là 27,3-46,9 kg/đàn/năm. Giống ong của Việt Nam có sức đẻ
trứng không cao (ong ngoại trung bình gần 1000 trứng/ngày đêm, ong nội dưới 500
trứng/ngày đêm) và tỷ lệ cận huyết cao (Cục Chăn nuôi, 2011). Tỷ lệ cận huyết đối với
giống ong ngoại từ 6 đến 9,4% ( trên 8,3% được coi là bị cận huyết nặng). Năm 2001,
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong đã nhập một số giống từ các nước Đức, Áo,
Niu-Dilân và đưa thử nghiệm ở các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng. Đây cũng là nguyên nhân
làm tươi máu cho giống ong của các tỉnh khu vực phía Nam, ngoài cải thiện về năng
suất giống ong nhập về đã làm giảm tỷ lệ cận huyết cho giống ong ngoại tại các tỉnh
phía Nam (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ong, 2010).
Các phương thức nuôi ong:
Có ba phương thức nuôi ong: Nuôi ong chuyên nghiệp với quy mô từ 150 đến
3.000 đàn, nuôi ong di chuyển theo nguồn hoa. Nuôi ong bán chuyên nghiệp với qui
mô từ 50-149 đàn ong/chủ trại, chủ yếu đặt ong tại nhà nhưng di chuyển để khai thác
điều, chôm chôm. Trong đó diện tích cao su là lớn nhất, năm 2009 cả nước có 674.200
hecta cây cao su, 537.000 hecta cà phê và 398.100 hecta điều. So với năm 1999 thì
diện tích của 3 loại cây nguồn mật chính của Việt Nam đều tăng (cây cao su tăng
41,4% , cà phê là 11% và điều là 53,5%). Ngoài ra các cây keo, tràm, vải, chôm
chôm, mè đã trở thành nguồn mật lớn. Một số loại cây không cho mật như ngô, lúa,
trinh nữ nhưng lại là những cây trồng rất quan trong nghề nuôi ong vì nó cung cấp
phấn hoa cho đàn ong phát triển.
Người nuôi ong di chuyển đàn ong đến nguồn hoa thuận lợi để khai thác sản
phẩm hoặc nuôi dưỡng ong trong vụ khó khăn. Các tỉnh phía Nam có 1 vụ mật chính
rất dài từ cao su lá già, điều, cao su lá non, cà phê, chôm chôm và chãn từ cuối tháng
11 đến tháng tháng 5 tại các tỉnh có nguồn hoa tập trung như Đồng Nai, Đắc Lắc, Gia
Lai, Bình Phước, Lâm Đồng. Các tỉnh Tây Nguyên rất đa dạng về loại cây nguồn mật,
cây nguồn phấn, có khả năng nuôi ong quanh năm nhưng mùa vụ thuận lợi nhất cho
nuôi ong từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau. Trước đây Đắc Lắc và Gia Lai được coi là
8
những tỉnh thuận lợi nhất với nghề nuôi ong của khu vực phía Nam (Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển ong, 2010).
Bảng 1.1: Danh mục các cây nguồn mật chính
Tên cây Thời gian thu hoạch Phân bố
Cà phê Tháng 11-T.3 năm sau Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Nai
Cao su Tháng 2 - Tháng 5. Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Đắk
Lắk, Gia Lai
Vải Tháng 4 - Tháng 5 Bắc Giang, Bắc Ninh
Chôm chôm Tháng 4 - Tháng 5 Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Nai
Nhãn Tháng 5 - Tháng 6 Tiền Giang, Vĩnh Long, Bà Rịa - Vũng
Tàu, Hưng Yên
Keo lá tràm Tháng 5 - Tháng 9 Đồng Nai, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Thừa Thiên Huế, Quãng Nam, Quảng Ngãi,
Nghệ An, Hà Tĩnh
Tràm mắm Tháng 7 - Tháng 9 Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng
Một bộ phận người nuôi ong không qua đào tạo và trình độ về giống ong, quản
lý bệnh cũng như chất lượng sản phẩm còn thấp. Người nuôi ong sử dụng kinh nghiệm
là chính, kiến thức cơ bản còn thiếu và cơ hội được tiếp cận với các khóa tập huấn
không nhiều. Thông tin và các số liệu thống kê tin cậy về ngành ong từ địa phương
đến trung ương về cả cây nguồn mật, đàn ong, thị trường hiện còn thiếu
Cộng đồng thiếu hiểu biết về vai trò của ong mật trong thụ phấn cây trồng và hệ
thực vật. Do vậy ở một số tỉnh rất nhiều trại ong bị xua đuổi ra khỏi địa phương khi
người nuôi ong chuyển ong đến khai thác mật. Tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật gây chết ong, không cảnh báo trước khi sử dụng khiến cho nghề nuôi ong gặp
nhiều rủi ro.
Người nuôi ong ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn tín dụng để đầu tư phát triển
sản xuất. (Cục chăn nuôi, 2011).
1.1.6 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan:
10
Hiện đã có những nghiên cứu về các loài ong mật, hướng dẫn nuôi ong, việc
sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi ong, tỷ lệ nước trong mật ong, hiệu quả kinh tế
của giống ong, giảm nghèo bằng nuôi ong ở Việt Nam và các nước trên thế giới.
Margaret (2003) nghiên cứu giảm hộ nghèo bằng nghề nuôi ong cho phụ nữ
nông thôn Uganda cho thấy nuôi ong tạo ra cơ hội tốt cho phụ nữ để góp phần giảm
đói nghèo cho hộ gia đình bởi nghề này không cần thiết phải cần có đất đai.Việc
thực hiện của chương trình Dịch vụ tư vấn nông nghiệp quốc gia thông qua việc tư vấn
sản xuất, kiến thức và kỹ năng cũng như tổ chức cho họ để tiếp thị sẽ đóng một vai trò
lớn trong việc hỗ trợ các nhóm phụ nữ tổ chức nuôi ong tốt hơn, xem mhư một nghề
có hiệu quả kinh tế.Việc xây dựng một chính sách quốc gia để định hướng phát triển
nghề nuôi ong tạo cho phụ nữ có cơ hội tốt để tăng khả năng đóng góp của họ vào
việc giảm đói nghèo hộ gia đình và cải thiện của thu nhập của các hộ gia đình. Sự hình
thành hội nuôi ong là một yêu cầu để đảm bảo rằng, các vấn đề về chất lượng và tiếp
thị của mật ong và các sản phẩm của ong được đưa lên hàng đầu và mang lại lợi ích
cho tất cả những người sản xuất kể cả phụ nữ. Các chương trình NMOS (Dịch vụ tư
vấn nông nghiệp cho người nghèo và phụ nữ) có thể hỗ trợ sự tham gia của các nhóm
Apis cerana và Apis mellifera nuôi ở miền Bắc Việt Nam. Nghiên cứu đã tiến hành
theo dõi 1120 đàn ong nội apis cerana và 890 đàn ong Ý Apis Mellifera tại 3 tỉnh
Thái Nguyên, Phú Thọ Và Bắc Giang trong thời gian 2 năm. Kết quả nghiên cứu
cho thấy khả năng sinh sản của ong chúa A. mellifera nuôi ở miền Bắc Việt Nam cao
hơn hẳn so với ong nội A. cerana, thể hiện ở các chỉ tiêu: số trứng chúa đẻ ra/24h đạt
928,54 so với 412,13 của ong chúa nội, hệ số nhân đàn đạt 3,12 lần/năm so với 1,26
lần/năm của ong nội. Ngoài ra, ong A. mellifera còn có ưu điểm hơn ong nội như khối
lượng các cấp ong lớn, không bốc bay, tính tụ đàn cao, khả năng chịu lạnh tốt. Khả
năng chống chịu bệnh tật của ong nội (A. cerana) tốt hơn so với ong Ý (A. mellifera),
tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp của ong nội đạt 0 – 7,14%, trong khi ở ong Ý tỷ lệ mắc
các bệnh thường gặp phần lớn đều trên 5% số đàn theo dõi. Ong Ý có số cầu bình
quân/đàn đạt 9,84 cầu cao hơn so với ong nội (5,18 cầu), năng suất của mật ong Ý cao
hơn 2,96 lần so với ong nội. Mật ong Ý có chất lượng tốt hơn so với ong nội thông qua
các chỉ tiêu như tỷ lệ nước thấp hơn (22,12 - 24,72% so với 23,72 - 29,80%), độ axit
thấp hơn (11,13 – 50,22 mN/kg so với 18,08 – 55,14 mN/kg), tỷ lệ hydrometyla
furfurala thấp hơn (35,12 – 38,84 mg/kg so với 37,87 – 39,18 mg/kg). Tỷ lệ nước của
12
cả mật ong nội và mật ong Ý trong thí nghiệm đều cao hơn so với tiêu chuẩn (>21%),
do vậy chưa đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình sơ chế đến hoạt tính chống oxy hóa của
phấn hoa của Lê Minh Hoàng, Nguyễn Minh Nam, Nguyễn Anh Khoa, Lê Văn Huy
(2009) cho kết quả : Quá trình sơ chế phấn hoa có ảnh hưởng tới hoạt tính chống oxy
hóa của phấn hoa. Sơ chế phấn hoa bằng phương phơi nắng làm cho hoạt tính chống
oxy hóa của phấn hoa mất đi rất nhiều. Nhiệt độ sấy phấn hoa có ảnh hưởng đến hoạt
tính chống ôxy hóa của phấn hoa và nhiệt độ sấy tối ưu của phấn hoa trongmấy sấy
chân không là 37
0
C.
Tóm lại,
Dân số của tỉnh Gia Lai khoảng 1.303 ngàn người, trong đó dân số làm nghề
nông chiếm 75%. Tổng số hộ dân cư của tỉnh là 288.141 hộ. Trong đó hộ nghèo chiếm
27,56% và hộ cận nghèo chiếm 5,91% (Cục Thống kê Gia Lai, 2011). Đây là nguồn
lao động khá dồi dào để có thể tham gia nuôi ong.
1.2.2 Dự án Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, khai
thác, chế biến mật ong xuất khẩu tại tỉnh Gia Lai
Dự án thuộc Chương trình Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa
học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi đến năm
2010. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai là đơn vị thực hiện. Dự án
được triển khai từ năm 2007 đến năm 2010.
Mục tiêu của Dự án: Khai thác hiệu quả tiềm năng về trữ lượng cây nguồn mật,
đồng thời tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm
nghèo, ổn định đời sống và an ninh xã hội ở địa phương. Phấn đấu đưa nghề nuôi ong
trở thành một ngành sản xuất hàng hóa mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và
môi trường cho tỉnh nhà. Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành ong, phổ cập các tiến bộ
kỹ thuật cho cán bộ quản lý cơ sở cũng như các hộ chăn nuôi, ứng dụng những công
nghệ tiên tiến phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Kết quả đạt được của Dự án: Đào tạo được 10 kỹ thuật viên chuyên về nuôi ong
ngoại và 05 kỹ thuật viên chuyên về tinh lọc, giảm thủy phần mật ong. Tổ chức 02 lớp
tập huấn về kỹ thuật nuôi ong ngoại, kỹ thuật tạo chúa, chia đàn, phòng trị bệnh, khai
thác và chế biến mật ong đạt chất lượng cao cho hơn 80 lượt người ở huyện Ia Grai và
thành phố Pleiku. Kết hợp với Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Công nghệ
Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM tổ chức các hội nghị, hội thảo và
tham quan học hỏi các mô hình nuôi ong tiên tiến đã đạt hiệu quả kinh tế cao cho các
hộ nuôi ong. Thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo, hội nghị, các hộ dân đã
tiếp thu được các tiến bộ kỹ thuật để ứng dụng vào thực tế sản xuất mang lại nhiều lợi
ích cho chính họ và cho cộng đồng. Tổ chức chuyển giao 06 quy trình công nghệ (04
quy trình công nghệ nuôi ong, khai thác, sơ chế, bảo quản và kiểm tra kiểm soát chất
lượng mật ong, phấn hoa và 02 quy trình phòng trị bệnh) cho các kỹ thuật viên đồng
14
những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình.
Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng
lao động sẵn có; yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kĩ năng lao
động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe, v.v…Vốn con người bao gồm tất cả các
yếu tố, khả năng của mỗi thành viên trong cộng đồng, hộ gia đình như: tuổi, giới tính,
kinh nghiệm sản xuất, mối quan hệ họ hàng, trình độ học vấn, khả năng ngôn ngữ
Nguồn vốn tài chính:
Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử
dụng thành công các yếu tố/tài sản khác. Nguồn tài chính nghĩa là các nguồn lực tài
chính (chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương) mà con người sử dụng
để đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Có hai nguồn tài chính cơ bản, đó là nguồn
vốn sẵn có và nguồn vốn vào thường xuyên. Nguồn vốn sẵn có: Thu nhập hàng năm
gồm tiền tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng, vật nuôi, khoản vay tín dụng…Nguồn vốn vào
thường xuyên: trợ cấp, các khoản tiền chuyển nhượng từ nhà nước hoặc các khoản tiền
gửi.
Tìm hiểu nguồn lực tài chính cần xem xét: Thu nhập tiền mặt thường xuyên từ
nhiều nguồn khác nhau như bán sản phẩm, việc làm…; Khả năng tiếp cận các dịch vụ
tài chính về tín dụng và tiết kiệm từ các nguồn chính thức (như ngân hàng) và các
nguồn phi chính thức (chủ nợ, họ hàng); Xem tiết kiệm và những dạng tích luỹ khác
do tiền bán các sản phẩm nông nghiệp, số lượng vàng được tích luỹ, số đất đai, công
cụ sản xuất Tùy từng loại nguồn thu nhập hay nghề nghiệp khác nhau mà đem lại các
mức thu nhập khác nhau cho một hộ trong khu vực. Hơn nữa, vốn tài chính là một loại
tài sản sinh kế mà người nghèo thường có ít nhất trong các vốn.
Nguồn vốn vật chất:
Đề cập đến tài sản do con người tạo nên và các dạng tài sản vật chất. Nguồn
vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản (đường giao thông công cộng và cầu cống,
nhà máy điện, nhà máy nước, các nguồn cung cấp thông tin như báo chí, vi tính, và
các tài liệu đọc nghe khác…) và công cụ sản xuất hàng hóa (xe tải, máy thông khí,
máy phát điện, thuyền…) cần thiết để hỗ trợ sinh kế.
Cơ sở hạ tầng được hiểu là một loại hàng hóa công cộng sử dụng mà không cần
Mạng lưới quan hệ họ hàng và láng giềng: Sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành
viên của gia đình về lao động và nguồn lực vẫn còn tồn tại. Chức năng chính của
mạng lưới gia đình và quan hệ họ hàng là nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em. Mối quan hệ
hàng xóm đã tồn tại bên trong mỗi thôn làng. Sự quan tâm và hỗ trợ của các thành viên
trong gia đình, họ hàng và hàng xóm có thể giúp người dân địa phương khắc phục khó
khăn của họ trong thời gian nguy khốn. Nguồn lực xã hội của một cộng đồng thể hiện
ở các mối quan hệ gíup đỡ lẫn nhau của người dân. Trong quy mô hộ gia đình, nguồn
lực xã hội thể hiện ở mức độ hiểu biết của các thành viên trong gia đìnhh về các
phương thức làm ăn, kinh nghiệm sản xuất, hay các mối quan hệ với người khác trong
và ngoài cộng đồng mà hộ sinh sống. Với những hộ gia đình các thành viên có nhiều
kinh nghiệm sản xuất, có trình độ hay các mối quan hệ xã hội tốt sẽ có rất nhiều thuận
lợi trong quá trình sản xuất, nhất là khi muốn vay tiền phát triển sinh kế hay cần sự
giúp đỡ khi gặp khó khăn. Mạng lưới xã hội được gắn thông qua láng giềng và họ
hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho quyết định đi
làm ăn xa của lao động nông thôn.
.
2.1.2 Nghèo
Nghèo là tình trạng một số bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận
tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phương.
Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối
thiểu. Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mối quan
hệ với đường nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian. Nghèo
tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng hóa khác,
do vậy một đường nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh nghèo đói.
Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/ hộ gia đình so với mức
sống trung bình đạt được. Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức
thu nhập bình quân của dân cư, có quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập bình quân,
có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân.
Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái