Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về chiến tranh nhân dân và kế thừa truyền thống chống giặc ngoại xâm
của tổ tiên, trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm
lược (1946 – 1954, Đảng ta đã phát động, lãnh đạo một cuộc chiến tranh
nhân dân rộng lớn, huy động được sức mạnh toàn dân đánh giặc với LLVT 3
thứ quân. Quát triệt tư tưởng cách mạng bạo lực trong kháng chiến chống
Pháp, Đảng ta đã khéo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang,
trong đó lấy đấu tranh vũ trang làm trọng tâm, lấy bạo lực cách mạng để
chống lại bạo lực phản cách mạng.
Trải qua 9 năm trường kì kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam, LLVT nhân dân ta đã chiến đấu vô cùng gan dạ, mưu trí,
dũng cảm trở thành lực lượng nồng cốt đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ
thù, đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi này có ý
nghĩa rất to lớn: “ Lần đầ tiên tro ng lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã
đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của
nhân dân Việt Nam, đồng thời là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình,
dân chủ và CNXH [ 32.13 ].
Trong cuộc chiến tranh đó, bên cạnh tác chiến chính quy của bộ đội
chủ lực thì LLVT địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng. Thắng lợi củ
dân tộc chính là sự chung lưng góp sức của các địa phương. Lịch sử địa
phương chính là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc, tri thức lịch sử địa
phương vừa phản ánh sinh động, trung thực những nét riêng biệt lịch sử từng
địa phương vừa là sự biểu hiện cụ thể, đa dạng lịch sử dân tộc, muốn tìm
hiểu lịch sử dân tộc không thể không tìm hiếu lịch sử địa phương.
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
1
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
2
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề LLVT Vĩnh Phúc trong kháng chiến chống Pháp được đề cập
đến trong một số cuốn sách với nhiều khía cạnh khác nhau:
Cuốn "Tổng kết chiến tranh du kích Vĩnh Phúc trong kháng chiến
chống thực dân Pháp" của Tỉnh đội Vĩnh Phúc xuất bản năm 1963 đã viết
một cách khái quát về lịch sử chiến tranh du kích của LLVT Vĩnh Phúc, của
nhân dân Vĩnh Phúc, nhưng chủ yếu là bộ phận DQDK.
Cuốn "Lịch sử kháng chiến thực dân Pháp của quân và dân Vĩnh
Phúc" (1945 - 1954) của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Phúc, xuất bản năm
1999 là công trình khoa học ghi lại sự kiện và tổng kết toàn bộ cuộc kháng
chiến chống thực dâm Pháp xâm lược trên địa bàn Vĩnh Phúc của nhân dân
Vĩnh Phúc nói chung, LLVT Vĩnh Phúc nói riêng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp,
toàn diện của Đảng bộ địa phương. Tuy nhiên, cuốn sách chưa đi sâu tìm
hiểu về hoạt động của LLVT Vĩnh Phúc thời kỳ này.
Cuốn "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc" (1930 - 2005), Nxb CTQG
Hà Nội, 2007 đã trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong đó có
giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) với những hoạt động của
nhân dân Vĩnh Phúc nói chung và LLVT Vĩnh Phúc nói riêng.
Cuốn "Quân khu II - 50 năm xây dựng chiến đấu, trưởng thành" (1946
- 1996) viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và
dân Quân khu II, trong đó có đề cập đến cuộc kháng chiến chống Pháp và
hoạt động của LLVT Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, đây chỉ là một cuốn thông sử về
cuộc kháng chiến chống Pháp quân dân quân khu II nên chưa trình bày được
sâu sắc và toàn diện về LLVT Vĩnh Phúc.
Cuốn "Quân khu II một số trận đánh trong chiến tranh giải phóng
nghĩa khoa học đối với đề tài.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài
3.1. Đối tượng
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về LLVT Vĩnh Phúc trong cuộc
kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954.
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
4
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian từ 1946 - 1954
- Không gian: trong tỉnh Vĩnh Phúc
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Dựa trên việc xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung
vào các nhiệm vụ sau:
- Khôi phục lại một cách có hệ thống theo tiến trình lịch sử những hoạt
động của LLVT Vĩnh Phúc trong kháng chiến chống Pháp trong các lĩnh
vực: hoạt động chiến đấu và xây dựng hậu phương.
- Tìm hiểu những đóng góp chuủyếu của LLVT Vĩnh Phúc đối với
cuộc kháng chiến của cả dân tộc nói chung.
- Rút ra một số đặc điểm của LLVT Vĩnh Phúc, những điểm khác biệt
của LLVT tỉnh nhà đối với LLVT ở các địa phương khác trong cuộc kháng
chiến chống Pháp. Đồng thời rút ra được những bài học kinh nghiệm trong
đấu tranh của LLVT.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
- Các tác phẩm, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước như
Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh… về quân đội nhân dân, về
đấu tranh vũ trang và LLVT…
NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ VĨNH PHÚC VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VĨNH
PHÚC TRƯỚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH PHÚC
1.1.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý:
Vĩnh Phúc là một tỉnh ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng khoảng
giữa của miền Bắc Việt Nam, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng
bằng, vì vậy có 3 vùng sinh thái rõ rệt: Đồng bằng, trung du và miền núi.
Vùng núi nằm ở phía bắc tỉnh, tiếp giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Thái
Nguyên. Trong đó, có ba dãy núi nằm ở vị trí chiến lược quan trọng: dãy
Tam Đảo (ngọn cao nhất cao 159m), dãy Sóc Sơn cao từ 200m đến 500m và
dãy Sáng Sơn cao 633m.
Vùng đồng bằng nằm ở phía nam tỉnh gồm các huyện Đông Anh, Yên
Lãng, Yên Lạc …tiếp giáp thủ đô Hà Nội. Vùng gò đồi chủ yếu ở huyện Lập
Thạch liền một giải từ lưu vực sông Cầu đến sông Lô.
Do vị trí địa lý như vậy, Vĩnh Phúc từ rất sớm đã là địa bàn tập kết, trú
quân, khởi sự của nhiều cuộc đấu tranh yêu nước. Đó là thời kỳ các Vua
Hùng chống quân xâm lược Triệu Đà đã có thành Cổ Loa, đất Mê Linh –
Nơi khởi nghĩa Hai Bà Trưng và sau là Cố Đô: Tiếp đến là Hồ Điển Triệt
(Vùng Tứ Yên – Lập Thạch) căn cứ của Lý Bí chống quân nhà Lương thế
kỷ thứ 6; Thành Đền, thành Quận Hẻo gắn với khởi nghĩa Nguyễn Danh
Phương. Thời kỳ Pháp xâm lược nước ta, sau khi bình định xong các tỉnh
Bắc Kỳ, trong đó có Vĩnh Phúc, bọn thực dân đã xây dựng một số đồn binh ở
Lập Thạch như Bắc Bình, Liễn Sơn nhằm chống lại nghĩa quân ta ở dãy núi
Sáng Sơn. Những năm đầu thế kỷ 20, Đội Cấn và Đề Thám đã từng xây
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
7
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
8
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Để khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước ta thực
dân Pháp đã chú trọng xây dựng hệ thống giao thông từ những buổi đầu để
phục vụ cho việc khai thác đi lại thuận tiện hơn đối với chúng.Với vị trí
chuyển tiếp giữa các vùng đồng bằng sông Hồng với các vùng lân cận, Vĩnh
Phúc có hệ thống giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và
đường thuỷ. Trong tỉnh có hai đường quốc lộ chạy qua: Quốc lộ 2: Hà Nội,
Hà Giang chạy qua Vĩnh Phúc hơ 50 km, đương này chạy song song với
đường sắt Hà Nội – Lào Cai qua Vĩnh Phúc hơn 40km; Quốc lộ 3:qua Vĩnh
Phúc 16km, song song với đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên cũng chạy qua
Vĩnh Phúc 16km. Sông ngòi ở Vĩnh Phúc nhiều nên mạng lưới giao thông
đường thuỷ trên các sông: sông Lô, sông Hồng, sông Đáy, sông Cầu đi các
tỉnh miền Bắc thuận lợi cả bốn mùa.
Trong thời gian chống Pháp – Nhất câu kết cai trị nước ta chúng đặc
biệt chú ý việc xây dựng mạng lưới giao thông đường hàng không ở Vĩnh
Phúc.Chúng cho xây dựng một sân bay Hương Gia(thuộc huyện Kim Anh)
làm sân bay quận sự phục vụ cho nhu cầu chiến tranh của chúng.
Như vậy, Vĩnh Phúc trở thành địa bàn quan trọng cả về kinh tế, chính
trị và quân sự, do đó, đây là nơi giành giật quyết liệt giữa ta và địch trong
các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước từ thời cổ trung đại đến nay. Nhất
là bọn thực dân Pháp – một tên thực dân cáo già về bóc lột, đàn áp thuộc địa,
chúng đã coi Vĩnh Phúc là một kho người và của có thể thoả mãn nhu cầu
khai thác của chúng.
1.1.2 Lịch sử hành chính Vĩnh Phúc qua các thời kỳ lịch sử
Thời kỳ nước Văn Lang-Âu Lạc: Đất đai tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay
nằm trong bộ Văn Lang trong tổng số 15 bộ tương ứng với địa bàn cư trú của
3. Phủ Phú Bình:
- Huyện Bình Tuyền: 25 xã.
“Hồng Đức bản đồ” chỉ ghi vị trí sông, núi và các châu, huyện nen có
thể nhiều xã, thôn thuộc các huyện kể trên nay không thuộc Vĩnh Phúc.
Thời kỳ thuộc Pháp:
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
10
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Ngày 20-10-1890 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo
Vĩnh Yên gôm các huyện, phủ sau:
- Huyện Bình Xuyên tách từ phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên sang,
- Phủ Vĩnh Tường gồm 5 huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương,
Yên Lạc và Yên Lãng từ tỉnh Sơn Tây sang.
Đến ngày 12-4-1891, toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định bãi bỏ
đạo Vĩnh Yên, đưa đạo này trở về tỉnh Sơn Tây, kể cả huyện Bình Xuyên.
Hơn 8 năm sau, ngày 29-12-1899 toàn quyền Đông Dương Pôn -
Dume(Paul Moumé) ra nghị định số 1124 thành lập tỉnh Vĩnh Yên. Điều 2
ghi: “Tỉnh Vĩnh Yên bao gồm các huyên Bạch Hạc (trong đó có Vĩnh
Tường), Yên Lạc, Yên Lãng, Lập Thạch, Tam Dương và Bình Xuyên”
Như vậy tỉnh Vĩnh Yên được lập lại và đi vào hoạt động từ năm 1900.
Còn đối với tỉnh Vĩnh Yên, đến 1901 chính quyền thực dân nhập vào tỉnh
Phù Lỗ được thành lập theo nghị định của toàn Đông Dương ngày 6-10-
1901. Địa giới hành chính bao gồm địa bàn 3 huyện cắt từ Bắc Ninh là Đa
Phúc, Kim Anh, Xã Đông Khê (đến 1903 Đông Khê đổi tên là Đông Anh)
cùng phủ Yên Lãng như đã nói ở trên. Tỉnh lỵ đặt tại làng Phù Lỗ, nên gọi
tên tỉnh là tỉnh Phù Lỗ. Ngày 18 tháng 2 năm 1904 tỉnh lỵ dời lên làng Tháp
Miếu, tổng Bạch Trữ, phủ Yên Lãng và đặt tên là tỉnh Phúc Yên.
Ngày 7 tháng 3 năm 1913: Chính quyền thực dân đưa tỉnh Phúc Yên
Tháng 12-1978 huyện Lập Thạch tách khỏi Tam Đảo trở về đơn vị
huyện cũ Lập Thạch: huyện Bình Xuyên tách khỏi Mê Linh nhập với Tam
Dương thành đơn vị huyện Tam Đảo mới.
Tháng 3-1979: toàn bộ tỉnh Vĩnh Phúc gồm hai huyện Sóc Sơn và Mê
Linh chuyển về thành phố Hà Nội.
Tháng 10-1991: huyện Mê Linh lại tách khỏi Hà Nội trở về thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc.
1-1-1996: huyện Yên Lạc được tách thành hai huyện Vĩnh Tường Và
huyện Yên Lạc.
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
12
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Tháng 11-1996: Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Nghị
quyết về việc cho tách một số tỉnh, trong đó co tỉnh Vĩnh Phú chia thành hai
tỉnh là tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ.
Sau gần 29 năm hợp nhất, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập và đi vào hoạt
động tư ngày 1-1-1997, có 7 đơn vị hành chính là: thị xã Vĩnh Yên và 6
huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên và Mê
Linh. Ngày 9-12-2003: Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 153/2003/ NĐ-
CP thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo mới.
Có thể nói, tính đến năm 2005, sau nhiều lần thay đổi về địa giới hành
chính tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính, trong đó có hai thị xã là thị xã
Vĩnh Yên và thị, Phúc Yên và bảy huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh
Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tm Đảo và Mê Linh. Toàn tỉnh có 152 xã,
phường, thị trấn, trong đó có hai huyện và 39 xã thuộc miền núi.
Trong phạm vi khoá luận này, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu trong
phạm vi địa bà tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp(1946-1954). Vì vậy phạm vi nghiên cứu bao gồm địa bàn tỉnh Vĩnh
1,863ha(riêng tên Rinê chiếm 1520ha). Ngoài ra, còn công ty điền thổ và
công ty địa ốc Ngân hàng Trung- Bắc Kỳ chiếm 1,082ha: địa chủ Hoa Kiều
chiếm 2,424ha [ 29.131 ]
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn thi hành một chính sách thuế khoá vô
cùng hà khắc. Chúng bắt nhân dân ta phải đóng rất nhiều thứ thuế: thuế thân,
thuế ruộng, thuế môn bài, thuế chợ, thuế đò…thậm chí cả thuế chó, thuế lợn,
trong đó thì thuế thân là loại thuế dã man nhất.
Về công nghiệp thực dân Pháp không chú ý phát triển công nghiệp
mà chỉ xây dựng những cơ sở thật cần thiết phục vụ bộ máy thống trị của
chúng, lệ thuộc vào kinh tế Pháp.
Thủ công nghiệp do chính sách thống trị của thực dân Pháp ở Đông
Dương chủ yếu là khai thác nguyên liệu, bán hàng hoá nên những hàng thủ
công bản địa không phát triển được.
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
14
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Thương nghiệp nước ta thời kỳ này cũng lệ thuộc nền kinh tế Pháp,
chúng độc quyền bán các mặt hàn chính như: muối, rượu. Hậu quả nghiêm
trọng của chính sách này là làm cho đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ:
“Dân Việt Nam bị một sự đói kém ghê gớm, họ bị bắt buộc phải hạn chế một
món ăn không thể nào không có: muối”[29.137]
Có thể nói, bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế Vĩnh Phúc thời kỳ
Pháp thuộc là nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc là chủ
yếu: công thương nhỏ yếu và lệ thuộc. Nằm trong bức tranh của nền kinh tế
toàn quốc, kinh tế Vĩnh phúc đàu thế kỷ XX có sự biến đổi quan trọng - đó là
nền kinh tế phong kiến dưới hình thức thực dân.
* Về văn hoá:
Vĩnh Phúc là một miền đất thuộc Nhà nước Cổ đại đầu tiên của Việt
chiếm đại bộ phận nhân dân, đời sống ngày càng cực khổ; giai cấp địa chủ
vẫn được tư bản thực dân nuôi dưỡng và phát triển; giai cấp tiểu tư sản vốn
là những buôn bán nhỏ, công chức, giáo viên. Trong bộ máy thực dân một số
tư sản đã hình thành chủ yếu là thương mại sống dựa vào đế quốc. Trong
lòng xã hội Vĩnh Phúc đã hình thành một bộ phận của giai cấp công nhân
Việt Nam, bị đế quốc đàn áp bóc lột, có mối quan hệ mật thiết với giai cấp
nông dân và có được tư tưởng của thời đại chỉ đạo nên giai cấp công nhân
Việt Nam có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng nước ta giành tắng lợi.
Với truyền thống yêu nước của dân tộc, với sự đói khổ và căm thù chủ
nghĩa thực dân Pháp thống trị, lại có một giai cấp tiên tiến lãnh đạo. Đó
chính là nguyên nhân dẫn đến phong trào cách mạng sôi nổi của nhân dân
Vĩnh Phúc trong những năm bị thực dân Pháp thống trị và đến Cách mạng
tháng 8 thành công.
1.3. DÂN CƯ VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CHỒNG NGOẠI XÂM
CẢU NHÂN DÂN VĨNH PHÚC
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
Việt Nam, Vĩnh Phúc được xem như là một vùng đất cổ sớm được người
Việt đến định cư và sinh sống. Bên cạnh người Việt (Kinh) sinh sống ở Vinh
Phúc còn có 3 dân tộc thiểu số là: Sán Dìu, Sán Chay nhóm Cao Lan và Dao.
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
16
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử đấu tranh chống thiên nhiên và giặc
ngoại xâm, từ thế hệ này đến thế hệ khác nhân dân các dân tộc ở Vĩnh Phúc
đã đem hết sức lực của mình đấu tranh để sinh tồn, để khai hoang lập địa
góp phần làm nên một nền “Văn minh sông Hồng” phát triển rực rỡ. Những
phẩm chất của cư dân nông nghiệp vùng đất cổ Văn Lang đã góp phần
xương máu đáng kể vào sự nghiệp 4000 năm giữ nước. Nói như cố Thủ
Ninh), góp phần cùng quân dân cả nước đánh tan quân Tống xâm lược.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ thứ VIII, nhân
dân Vĩnh Phúc đã tham gia nghĩa quân, chiến đấu kiên cường cùng quân đội
nhà Trần ở Bình Lệ Nguyên (Tam canh – Bình Xuyên), ở cầu Phù Lỗ thu
thắng lợi ròn rã. Những tên đất như Bãi Trận, cánh đồng Bình Lệ… dấu ấn
của bãi chiến trường xưa nay vẫn còn ở vùng Tam canh.
Sau đó tiếp đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đầu thế kỷ XV của Lê Lợi
đánh đuổi giặc Minh có hàng ngàn binh người Vĩnh Phúc tham gia do Trần
Nguyên Hãn chỉ huy, lập căn cứ luyện tập ở rừng Thần (vùng Xuân Lôi –
Lập Thạch) và sau này một số cùng Trần Nguyên Hãn vào tham gia trực tiếp
khởi nghĩa của Lê Lợi. Về sau ông được Vua Lê Thái Tổ phong tới chức Tả
Tướng Quốc.
Thời kỳ khởi nghĩa nông dân chống phong kiến, nhân dân Vĩnh Phúc
cũng ghi đậm trang sử vẻ vang của mình. Đó là khởi nghĩa Nguyễn Danh
Phương (tức Quận Hẻo) diễn ra vùng Hợp Thịnh, Tam Dương mà dấu tích
ngày nay còn như Quán Tiên, thành Quận Hẻo….
Khi Thực dân Pháp xâm lược nước ta, trên đất Vĩnh Phúc từ năm 1885
đến năm 1893, hưởng ứng phong trào Văn Thân, các thổ hào trong tỉnh đã
dấy binh nổi lên chống bọn thực dân được nhân dân các phủ, huyện tham gia
đông đảo. Nhân dân Vĩnh Phúc không hề tiếc của cải, xương máu đã cùng
nghĩa quân của các vị Văn Thân yêu nước đóng góp cho phong trào cứu
nước thủa đó.
Sau phong trào Văn Thân, nhân dân Vĩnh Phúc lại sôi nổi tham gia
hoạt động của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) từ vùng Yên Thế
chuyển về Tam Đảo
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
19
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Yên và Đông Thố, cơ sở cách mạng nhanh chóng lan rộng ra khắp các làng
ấp khác. Tổ chức nông hội hình thành, đội tự vệ ấp - tiền thân của LLVT tỉnh
được thành lập. Song song với các sự kiện ở đồn điền Đa Phúc là các hoạt
đông không kém phần hiệu quả của nông hội và tự vệ tá điền ở đồn điền
Tam Lộng - Vĩnh Yên. Một điều đáng lưu ý là tất cả các cuộc đấu tranh vùng
Đa Phúc và Tam Lộng của nông dân tá điền đều có sự phối hợp gây áp lực,
làm mâu thuẫn đấu tranh của tự vệ ấp. Điều đó cho thấy phong trào cách
mạng của quần chúng ở Vĩnh Yên- Phúc Yên ngay từ những năm 1933 đã có
được lực lượng bán vũ trang đầu tiên phối hợp.
Ngày 1-9-1939 Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở hai tỉnh
Vĩnh – Phúc Yên bị địch khủng bố dữ dội. Ngày 30-10-1939, địch tập trung
lực lượng một ngày khám xét tiến hành bắt bớ cán bộ, hội viên quần chúng ở
23 cơ sở ở các huyện và thị xã Phúc Yên. Cuối năm đó, cơ sở in báo “ Giải
phóng” của Xử uỷ đặt tại làng Cổ Loa (Đông Anh) bị chúng phá.Ở tỉnh Vĩnh
Yên hàng loạt cơ sở bị vở do địch khủng bố dã man.
Từ năm 1939, trọng tâm công tác được chuyển về nông thôn theo chỉ
thị của Đảng, biến nông thôn thành căn cứ địa rộng lớn của cách mạng. Với
chủ trương này cùng với bối cảnh và xu thế phù hợp, LLVT và đấu tranh vũ
trang Vĩnh Phúc có điều kiện dễ tiến hành tổ chức và xây dựng song song
với các hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa khác.
Tháng 11-1939, Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ VI đặt nhiệm
vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chủ trương “ Dự bị những điều kiện
bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”. Thi hành chủ trương
của Trung ương, hàng loạt cán bộ vừa của Xứ uỷ, của tỉnh khác đã về hoạt
động ở hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên. Cùng thời gian này, cơ quan Xứ uỷ
Bắc Kỳ và khu uỷ Đ đã về đóng ở tỉnh Vĩnh Yên và đội công tác Trung ương
về Phúc Yên xây dựng ATK. Trong điều kiện ấy, đoàn thể phản đế và tự vệ
cao trào kháng Nhật. Tự vệ, xích vệ đỏ, nếu như thời kỳ 1933-1934 chủ yếu
phát triển ở vùng xuôi - Vĩnh Yên và Phúc Yên -thì đến những năm 1940-
1941, đã dần đều ra cả 3 tỉnh.
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
21
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Phối hợp với phong trào cách mạng cả nước, tổ chức hoạt động quân
sự Vĩnh - Phúc Yên được phát triển gắn liền với công tác xây dưng Đảng,
mở rộng cơ sở quần chúng, các đoàn thể trong mặt trận Việt Minh; đẩy mạnh
đấu tranh chính trị và xây dựng lực lượng chính trị dưới sự chỉ đạo của tỉnh
uỷ bí mật, các ban cán sự và Xứ uỷ Bắc Kỳ, khu uỷ Đông.
Tuy vậy, phong trào cách mạng nói chung và việc xây dựng lực lượng
vũ trang ở Vĩnh Phúc chính trong thời gian này phải gặp những khó khăn
nghiêm trọng, bị đàn áp dữ dội. Mặc dù Đảng đã có những cố gắng lớn thời
gian cuối năm 1942 và giữa năm 1943, song phải từ năm 1944 trở đi, khi liên
lạc giữa địa phương với Trung ương và Xứ uỷ được nối lại và cán bộ được
tăng cường nhiều hơn thì công tác khôi phục cơ sở, xây dựng mặt trận Việt
Minh ở tỉnh Vĩnh Phúc mới thực sự có chuyển biến rõ rệt. Từ cuối năm
1941, Trung ương quyết định lấy Phúc Yên lam địa điểm xây dựng ẠK
chính thức. Nhiệm vụ chủ yếu đối với ATK là bảo vệ Ban thường vụ Trung
ương và các cơ quan trung ương. Trong địa bàn ATK đoàn thể Việt Minh,
đội tự vệ phát triển mạnh và vững vàng. Tên thực tế, tự vệ Phúc Yên đã thực
hiện phương diện cảnh vệ vũ trang trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Đó là
những hạt nhân của LLVT tập trung của địa bàn.
Như vậy, trước khi bước vào cao trào kháng Nhật, LLVT Vĩnh Phúc, với
hình thức tự vệ, xích vệ đã dần dần hình thành và phát triển. Mức độ của nó cao
hơn, rộng hơn so với các thời kỳ trước. Điều đó chứng tỏ rằng tinh thần phản
kháng, ý thức cách mạng của nhân dân đã lên tới trình độ mới và chủ trương
Các chiến khu trong tỉnh như vừa kể trên, trong những ngày trước
khởi nghĩa đã thực sự là những bàn đạp khởi động cho cao trào khởi nghĩa ở
mỗi tỉnh. Thực tế các vùng trong chiến khu và căn cứ du kích cùng với một
số xã phía Bắc huyện Lập Thạch, Tam Dương nằm trong khu giải phóng
Việt Bắc đã là những nơi thuộc về ta, do ta làm chủ từ cuối thán 6-1945.
Du kích quân các chiến khu kháng Nhật là lực lượng tập trung đầu tiên,
tuy chưa tách hẳn thành một cơ quan quân sự riêng song đó là bước gần nhất cho
sự ra đời chính thức của các đội vũ trang của tỉnh sau ngày 2 - 9-1945.
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
23
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ
Sự lớn mạnh của lực lượng chính trị và vũ trang Vĩnh Yên – Phúc Yên
trong cao trào toàn quốc đã làm cho các cuộc đấu tranh của cả tỉnh mãnh liệt
hơn, dồn đập hơn, từ đấu tranh chính trị két hợp với vũ trang tiến lên khởi
nghĩa vũ trang từng phàn ở nhiều nơi. Tháng 5 và tháng 6, tự vệ Nam Lý,
Đôn Nhân tước súng của lính bảo an đi tuần, tự vệ Lập Thạch và Đa Phúc
phối hợp với đơn vị tuyên truyền vũ trang do đội công tác Trung ương xây
dựng đã bao vây, bức dút đồn Liễn Sơn và đầu cầu Đa Phúc…Ngày 16 - 7,
trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái phối hợp với binh sĩ yêu nước
tiêu diệt gọn một tiểu đội Nhật ở Tam Đảo, giải phóng hơn 100 tù nhân gồm
cả người Pháp và người Việt. Chiến thắng đó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần
chống Nhật trong nhân dân, thôi thúc thanh niên địa phương tham gia quân
du kích.
Song song với các hoạt động trên, tự vệ, du kích chiến khu và địa phương
còn tiến hành liên tiếp các đợt trấn áp các đảng phái phản động, bộ máy chính
quyền của địch ở huyện, thôn, xã, trừng trị những tên tay sai phản động, ngăn
chặn hành động chống phá cách mạng của Đại Việt, Quốc dân đảng…
Sự khởi sắc mạnh mẽ của các hoạt động vũ trang kháng Nhật sự ra đời
nên từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng đó là nguyên
nhân về phương diện tổ chức lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang.
* Tiểu kết:
Là tỉnh đông bằng, nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Hà Nội, miền chuyển tiếp
– cầu nối giữa các tỉnh miền núi Việt Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng
Bắc Bộ, Vĩnh Phúc có vị trí dịa lý quan trọng, mạng lưới giao thông phát
triển khá hoàn chỉnh, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển đa dạng
các ngành kinh tế. Với những yếu tố đó,Vĩnh Phúc trở thành địa bàn quan
trọng về cả kinh tế, chính trị và quân sự, trong kháng chiến chông thực dân
Pháp, Vĩnh Phúc luôn giữ vai trò là địa bàn đấu tranh và hậu phương lớn
cung cấp sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến. Sống trên mảnh đất có
nền văn hoá lâu đời, đã hình thành nên trong những con người Vĩnh Phúc
nhiều phẩm chất tốt đẹp đó là truyền thống yêu nước, đoàn kết đấu tranh
cách mạng và truyền thống hiếu học. LLVT Vĩnh Phúc vì thế mà cũng sớm
Líp K54B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
25