I. DUY TÂN MẬU TUẤT VỚI VẤN ĐỀ CẢI CÁCH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO NHÂN TÀI
Trong chủ trương Duy tân của Khang Hữu Vi ta thấy ông đặc biệt chú ý
đến mặt cải cách giáo dục, đào tạo nhân tài, vấn đề nâng cao dân trí, bắt kịp với
thời đại. Khang Hữu Vi cùng với Lương Khải Siêu và những đại biểu Duy Tân
xem trọng vấn đề giáo dục, cải tạo tư duy; coi đó là cái nền cơ sở giúp cho sự tiến
bộ của Trung Quốc. Là đại biểu của kẻ sĩ, đại biểu của dân trí của kiến thức thời
đại, Khang Hữu Vi hiểu được vai trò tạo nên sự chuyển mình của một quốc gia.
Ông có câu nói nổi tiếng là “Thỏi tõy mạnh, cái gốc không phải là vũ khí kỹ thuật
mà là cách học của tri thức (kẻ sĩ) và tõn phỏp (tổ chức một xã hội mới). Ông
hướng tới Nhật với tâm gương tự cường có hiệu quả, đối với Trung Quốc dù là
đau lòng nhưng cũng sờ sờ ra đấy. Đó là cuộcchiến tranh Giáp Ngọ (1894-1895)
Nhật đánh bại Trung Quốc. Trung Quốc phải cắt đất Đài Loan. Bành Hồ và Liờu
Đụng cựng phải bồi thường đến 200.000.000 lạng bạc tương đương bằng hai năm
thu nhập quốc dân lúc bấy giờ. Người Nhật vì sao làm được điều đó? Khang Hữu
Vi cho rằng lý do chính là người Nhật biết học và biết thay đổi cách trị nước theo
Tõn phỏp. Họ đã mạnh lên.
Nhìn vào Trung Quốc, nhìn vào tầng lớp trí thức, tự chiêm nghiệm cách
học của chính bản thân với mục đích khoa cử, làm quan, ông buồn lo nghĩ tới cách
học giáo điều vô bổ của phong học Trung Quốc. Giưó lỳc Trung Quốc bị các
nước đế quốc xâu xé bắt nạt, Trung Quốc vẫn bảo thủ chủ quan, kiêu ngạo một
cách phi lý, các quốc gia phương Tây và ngay bên cạnh Trung Quốc, nước Nhật
Duy tân đã và đang phát triển càng mạnh mẽ, các sĩ phu Trung Quốc vẫn vùi đầu
trong những sách thánh kinh vô bổ. Ông đó cú kết luận thật sâu sắc, đầy tâm huyết
“Nghĩ đến thánh nhân mà buồn cười rơi lệ”, vì những lý thuyết đó quỏ lỗi thời.
Ông cho rằng cái lối học bảo thủ, giáo điều , vô bổ đã làm dân tộc Trung Quốc có
một quá khứ huy hoàng, không còn đủ sức mạnh chống lại các quốc gia dân tộc
phát triển Âu Mỹ. Dòng thác của thời đại đòi hỏi các dân tộc phải tuân theo quy
luật phát triển, phải đổi mới, phải học cái mới và muốn vậy phải đổi cả học phong.
Là người xuất thân trong gia đình quan lại, được đào luyện về Nho học một
cách nghiêm túc nhưng thời đại đã “biến”, định đề bất biến của tư tưởng phong
quả, để tạo nên lực đẩy phát triển dân giàu nước mạnh, “phú quốc cường binh”.
Khang Hữu Vi và đội ngũ các trí thức Duy tân Trung Quốc nhận thức rằng
muốn xây dựng và phát triển tư tưởng mới thì vấn đề đầu tiên là phải tấn công vào
lối sùng bái cách học cũ, sùng bái tư tưởng cũ chống lại khuôn giam cầm tư tưởng
của đội ngũ tri thức Trung Quốc. Cuộc tấn công đầu tiên là chống lại Hán học thời
Thanh chuyên đề cao Tống học.
Nguyên nhân đầu tiên để phái Duy tân chống lại Tống học là do: chính
Tống học đẻ ra từ mục đích chính trị bảo thủ của nhà Thanh. Nhà Mãn Thanh đặc
biệt là từ thời của Càn Long đề cao việc giải thích, khảo cứu, chú thích các tác
phẩm Hán cổ đại, nhằm chuyển sự chú ý bàn về vấn đề chính trị thời cuộc. Càn
Long công khai nói “Bản triều có ý nghiên cứu Tống học, đề xướng thuyết văn, do
đó thuận cổ, chống sự tìm nghĩa lý, Cao Tụng Thỳõn Hoàng đế ghét người nói đến
chính trị. Một thời học phong thuyết văn rất thịnh”
2
Ở thời Thanh chủ trương khuyến khích văn, gần như khuyến khích học
thuật vị nghệ thuật trong khuynh hướng bàn việc chính sự triều đình. Tri thức bị
tách khỏi cuộc sống hiện thực, biến học thành những con mọt sách. Mãn Thanh
cũng đã thông qua chính sách văn tự ngục, đả kích một cách mạnh mẽ một số học
giả dám bàn về chính sách triều đình.
Trong hoàn cảnh như vậy đội ngũ trí thức thời MónThanh, vỡ lợi ích dân
tộc và cũng là muốn tránh cho cá nhân bị rầy rà, thậm chí bị hãm hại đã đua nhau
đem chút thông minh có hạn của mình chuyển sang lĩnh vực khảo cứu hiệu đớnh,
khảo cứu, huấn cổ, đắm chìm trong những vấn đề vụn vặt và xa thực tế. Thời kỳ
Càn Long chính sách này đã thành công, trí thức không dám bàn việc chính sự,
không dám quan tâm tới xã hội hiện thực, không dám nói thực.
2
Nam Hải sư thừa ký I Khang Hữu Vi toàn tập II. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã,
1990, tr.470. Dẫn theo: Nguyễn Văn Hồng, Mấy vấn đề về lịch sử châu Á và lịch sử
Việt nam một cách nhìn, NXB Văn Hoá Dân tộc, H.2001, tr.64.
Khang Hữu Vi nhận định nguyên nhân sâu xa dẫn đến mối nguy hôm nay
cách nhìn, NXB Văn Hoá Dân tộc, H.2001, tr.267.
rộng lớn”. Như vậy rõ ràng ngay từ đầu Khang Hữu Vi đã tuân theo cách học của
nước ngoài trên cơ sở truyền thống yêu nước, đạo đức, nắm hiểu biết lịch sử nước
nhà, sau đó mới học tri thức mới, rộng lớn của phương Tây.
Bằng phương pháp đú, ông chống lại Hán học giáo điều, và ông chống lại
triết học của Trình Chi và đặc biệt chống lại quan điểm duy tâm “Lý có trước khí”.
Ở đõy nhận thức của Khang Hữu Vi đã đi đến nhận thức tồn tại có trước lý (tư
duy, tư tưởng). Đõy cũng là vấn đề tồn tại lâu dài trong lịch sử nhận thức triết học
Trung Hoa.
Khang Hữu Vi cũn cú tư tưởng chống lại tư tưởng Nho giáo truyền thống,
chống lại tư tưởng của Chu Hy “Tồn thiên lý, diệt nhân dục”, trói buộc con người
phải bằng lòng với khổ hạnh, sống với “lý tưởng” thanh cao. Ông cho rằng ham
muốn của cuộc sống của con người là chính đáng “nhân sinh chi hữu dục, thiên
chi tính tai” (người ta sinh ra có ham muốn, khát vọng. Đó là tính trời phú). Con
người ta có quyền truy cầu cuộc sống tốt đẹp. Hơn nữa chính là nhờ theo đuổi
cuộc sống tốt đẹp, xã hội mới có thể phát triển tiến bộ. Con người ta phấn đấu
không ngừng đi tỡm cái đẹp hoàn thiện. Khang Hữu Vi đi đến kết luận đú chính là
nhận thức tri thế khác với cổ xưa và điều đó làm cho Trung Quốc tiến bộ không
biến thành “DI”. Đến thánh nhân cũng nên thuận lẽ trời để sống “thuận thiên chi
lý, dĩ dưỡng sinh mệnh”.
Khang Hữu Vi chỉ rõ quan niệm bảo thủ, phản tiến bộ của học thuyết Trình
Chu đối với phụ nữ “Đói chết là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn”. Ông cho rằng đó là
cách đầy đoạ tinh thần, thể xác, vi phạm chủ nghĩa nhân đạo. Quang Tự thứ 9, khu
vực Ngạc Lương lập “Hội bỏ tục bó chân”. Đõy là biểu hiện sự giải phóng đối với
phụ nữ Trung Quốc. Có ý nghĩa lớn đối với sự giải phóng xã hội. Hội có quy định
ai vào Hội là không được bó chõn và tuyên truyền chống hủ tục bó chõn. Thực ra
đõy là hành động cách mạng kế thừa từ phong trào nông dõn Thái Bình Thiên
Quốc.
Muốn giáo dục phát triển, nâng cao nhận thức của quần chúng, Khang Hữu
Vi đã có ý thức chống lại những tư tưởng bảo thủ phong kiến, lồng nhốt phản
ụng, ụng cũng yêu cầu mọi người phải đọc sách phương Tây
Cỏi khác của Khang Hữu Vi là chủ trương học toàn diện, nhìn nhận được
những ưu thắng của phương Tây một cách tổng hoà đồng bộ.
Về bản chất, Khang Hữu Vi đại diện cho giai cấp tư sản dân tộc vừa ra đời
đã bắt đầu nhận thức ra con đường phát triển tất yếu của công thương nghiệp.
Cùng với sự phát triển của yếu tố tư bản chủ nghĩa đã nảy mầm và lớn lên qua thời
gian nửa thế kỷ, và trải qua những kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc Mục đích
của Khang Hữu Vi và các lãnh tụ Duy tân là học tập phương Tây để thực hành chế
độ quân chủ lập hiến, xây dựng chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo nên guồng máy mới
có khả năng, nhưng thận trọng cải tạo từng bước.
Khang Hữu Vi đã dùng phương pháp thác cổ, tô vẽ Khổng Tử như một
thánh nhõn cải chế, thậm chí ông cho rằng quan niệm dõn quyền, nghị viện, tuyển
cử, dõn chủ, bình đẳng đều là do Khổng Tử sáng tạo ra. Thậm chí tư tưởng Khổng
Tử đã thất lạc ra ngoài, người Tõy nhặt được (!). Ngày nay học phương Tõy chỉ là
trở về với sáng tạo của Thánh hiền thôi chứ không phải là Dụng Di biến Hạ. Gớa
trị của tư tưởng trong tác phẩm “Khổng Tử cải chế khảo” là dùng sự sùng bái
thánh nhõn để chống lại chớnh sự sùng bái thánh nhõn một cách “nhất thành bất
biến”.
Năm 1895, các sĩ tử liên hợp với nhau ký tên vào Vạn ngôn thư, là hành
động tuyên chiến đòi tự do của trí thức đối với chế độ phong kiến bảo thủ. Những
trí thức đã thành lập Cường học hội, và từ đõy lan toả toàn quốc lập các Học hội
khác, mục đích tập hợp hội là tỡm một nội dung mới, cách học mới và bàn nhau
học trả lời cõu hỏi thời đại đặt ra cho Trung Quốc. Học để làm cho Trung Quốc
giàu mạnh vì chỉ có giàu mạnh Trung Quốc mới có thể khỏi bị xỉ nhục vì thua kém
bị bắt nạt.
Cường học hội và các tổ chức Học hội của tri thức thành lập chính là một
xu thế tạo nên một học phong mới. Ở Bắc Kinh là thủ đô, dinh luỹ bảo thủ của
phong kiến , sách báo phương tõy lại hkos mua nên Khang Hữu Vi quyết định mở,
phát triển Cường học hội ở Thượng Hải. Khang – Lương cũn coi Học hội như tổ
chức khuyến khích giúp đỡ nhau của tri thức để tạo nên một học phong mới để
Qua các tác phẩm của Tôn Trung Sơn đã chứng tỏ rất rõ điều này. Ông
quan tâm đến giáo dục không chỉ sau khi đã trở thành nhà cách mạng nổi tiếng mà
ngay từ thời trai trẻ chưa xuất chúng. Tư tưởng giáo dục của ông là một điểm sáng
đứng bên cạnh chủ nghĩa Tam dân hỗ trợ đắc lực cho chủ nghĩa dân quyền. Vì
theo ụng, dõn có giác ngộ, có hiểu biết mới nhận thức được các quyền của mình,
như thế bọn quan lại bên trên mới không dễ bề làm bậy. Tư tưởng giáo dục của
Tôn Trung Sơn trước hết thể hiện ở sự trọng dụng nhân tài. Trong bức thư gửi Lý
Hồng Chương năm 1894, ụng đó bộc lộ 4 chương trình hành động trị quốc:
- Phát huy hết tài sức của con người
- Phát huy hết lợi ích của đất đai
- Phát huy hết cách sử dụng của cải
- Phát huy hết sự lưu thông hàng hoá.
Ông coi đây là con đường giàu mạnh cho đất nước, là cái gốc của trị quốc.
Ở đây ụng đó đưa “phát huy hết tài sức của con người” lên hàng đầu trong bốn
chương trình hành động trị quốc.
Khi Tôn Trung Sơn đã trở thành nhà cách mạng thực thụ, ông lại càng thấu
hiểu tầm quan trọng của nhân tài. Chính vì thế rất chú trọng tuyên truyền tư tưởng
4
Nguyễn Văn Hồng, Mấy vấn đề về lịch sử châu Á và lịch sử Việt nam một cách nhìn,
NXB Văn Hoá Dân tộc, H.2001.
cách mạng trong tầng lớp lưu học sinh, sinh viên. Khi khảo sát các thành viên
Trung Quốc Đồng Minh hội thì thấy lưu học sinh chiếm một tỉ lệ lớn.
Khi nước Trung Hoa Dân Quốc vừa mới được thành lập, Tôn Trung Sơn đã
đưa việc bồi dưỡng nhân tài thành nhiệm vụ cấp thiết trước mắt. Một mặt, ông tìm
kiếm nhân tài để tổ chức chính phủ: Mời Thỏi Nguyờn Bồi, Trương Thỏi Viêm -
những nhân sĩ chưa hẳn đó cựng quan điểm với mình vào chính phủ mới. Ông còn
nhiều lần mời Dung Hùng - vị lưu học sinh Trung Quốc đầu tiên ở Mỹ về nước
giúp sức, lời mời của ông với lời lẽ khẩn thiết cảm động khiến Dung Hùng không
thể từ chối.
Một mặt, ông đề nghị khuyến khích du học để bồi dưỡng nhân tài. Ông cho
dụng làm doanh trại, sách vở tài sản của nhà trường bị huỷ hoại hay bị lấy mất. Để
bảo về nhà trường, sách vở, tài sản cho giáo dục Tôn Trung Sơn đã nhiều lần ban
bố những mệnh lệnh về vấn đề này. Chẳng hạn như, ngày 10-2-1912, ra lệnh cho
Đô đốc tỉnh An Huy kiểm tra sự tổn thất của trường tiểu học đang bị binh lĩnh phá
phách. Trong lệnh viết: “Nếu không làm rõ được việc này thì làm sao duy trì được
trật tự và bảo vệ được giáo dục”. Ông còn lệnh cho đô đốc kiểm tra tường tận
chấn chỉnh kỷ luật quân đội. Chỉ trong vòng hai thỏng, Tụn Trung Sơn đã ban bố
tới mấy điều lệnh về giáo dục. Sau các điều lệnh của ông nhiều trường học đã tiếp
tục mở cửa trở lại.
Trong tư tưởng giáo dục của Tôn Trung Sơn ta dễ nhận thấy ông rất chú
trọng tới phổ cập giáo dục. Ông nói: phải thực hiện giáo dục phổ cập để cho những
người dân thường có thể hưởng được nền giáo dục. Trong cương lĩnh của đại hội
đại biểu lần thứ nhất của Đảng, Tôn Trung Sơn chỉ ra: “Cố gắng phổ cập giáo
dục, toàn lực phát triển giáo dục nhi đồng, chỉnh đốn lại chế độ giáo dục, tăng
kinh phí cho giáo dục”. “Nhi đồng 10 tuổi trở xuống phải được đi học”. Phổ cập
giáo dục có nghĩa là mọi người được hưởng nền giáo dục bình đẳng. Theo Tôn
Trung Sơn, nền giáo dục bình đẳng có nghĩa là không phân biệt giàu nghèo, sang
hèn đều được hưởng quyền lợi giáo dục như nhau, con em các giai cấp trong xã
hội đều được quyền vào học trường công.
Tôn Trung Sơn còn đặc biệt chú ý tới việc học hành của giới nữ. Chính phủ
Trung Hoa Dân quốc vừa mới thành lập, ụng đó lệnh cho Bộ giáo dục mở trường
nữ học chuyên ngành tơ tằm. Tôn Trung Sơn đặc biệt chú trọng tới các khu vực tự
trị, ụng núi:”Những thanh thiếu niên ở các khu vực tự trị phải được hưởng các
quyền lợi giáo dục như học phí, sách vở, quần áo, ăn uống do nhà nước cấp”.
Tất nhiên trong quá trình cách mạng do những điều kiện về chính trị, kinh
tế, xã hội không cho phép nên chính sách giáo dục nghĩa vụ của Tôn Trung Sơn
chưa được thực hiện tốt. Nhưng những pháp lệnh giáo dục của ông là những di sản
quý báu trong thời kỳ đầu của đất nước Trung Hoa dân quốc, cung cấp những kinh
nghiệm thực tiễn cho nền giáo dục của đất nước Trung Hoa sau này.
Trong tư tưởng giáo dục phổ cập của Tôn Trung Sơn, ông rất chú trọng đến
Sơn đã từng được đào tạo tại trường này.
Tư tưởng giáo dục của Tôn Trung Sơn không chỉ có một ảnh hưởng sâu sắc
tới chính sách giáo dục của nhà nước cách mạng Trung Quốc sau này mà nó cũn
có ảnh hưởng to lớn đối với các nhà cách mạng Việt Nam, đặc biệt là đối với Hồ
Chí Minh. Hồ Chí Minh mặc dù là nhà cách mạng vô sản khác hệ tư tưởng với
Tôn Trung Sơn nhưng trong các biện pháp cách mạng cụ thuể Người đã chịu ảnh
hưởng rất nhiều của Tôn Trung Sơn, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục. Cũng như Tôn
Trung Sơn, Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng phát triển sự nghiệp giáo dục mà còn
coi trọng nội dung giáo dục, nhất là trong việc vận dụng Nho giáo một cách linh
hoạt để giáo dục đạo đức tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ, để cho các tầng lớp kế cận
không chỉ có tài năng mà còn phải có đạo đức phục vụ cách mạng.
KẾT LUẬN
Có thể nhận thấy rằng, Trung Quốc là một nước có nền văn minh lõu đời và
đạt được nhiều thành tự văn minh rực rỡ. Trong quá trình phát triển của nền văn
minh Trung Hoa đó, giáo dục luôn đóng góp một vai trò hết sức quan trọng và
quyết định đến sự duy trì cũng như sáng tạo các giá trị của nền văn minh vĩ đại ấy.
Tuỳ theo Mỗi thời đại lịch sử, mỗi hoàn cảnh lịch sử mà có sự khác nhau trong
phương thức giáo dục, đào tạo và sử dụng nhõn tài, nhưng dường như đã trở thành
quy luật, triều đại nào nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo nhõn
tài, đầu tư cho giáo dục, biết thay đổi hệ thống giáo dục phù hợp với tớnh chất và
sự phát triển của thời đại thì triều đại ấy được duy trì và thịnh trị lõu dài, và ngược
lại.
Lịch sử cổ đại Trung Quốc đã xuất hiện Khổng Tử, như là nhà giáo dục vĩ
đại nhất với những học thuyết mà trải qua hàng ngàn năm vẫn cũn nguyên những
giá trị thời đại, xứng đáng là “vạn thế sư biểu”, người thầy của muôn đời.
Lịch sử cận hiện đại của Trung Quốc cũng đã khẳng định tầm quan trọng
của giáo dục, đào tạo nhõn tài đối với sự phát triển của lịch sử đất nước này. Các
vĩ nhõn Trung Quốc từ Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu trong Duy tõn Mậu Tuất
1898, đến Tôn Trung Sơn trong Cách mạng Tõn Hợi 1911, và sau này là Đặng
Tiểu Bình trong công cuộc cải cách mở cửa cuối thế kỷ XX, tuy ở những thời đại
trên thế giới phù hợp với sự phát triển của thời đại, đồng thời phù hợp với bối cảnh
chung của lịch sử Trung Quốc. Với Khang Hữu Vi – Lương Khải Siêu đó là việc
tiếp thu tư tưởng Tõn Thư, Tõn Học tiến bộ từ Nhật bản; Khang Hữu Vi chủ
trương học công nghệ phương Tõy, kỹ thuật phương Tõy, học cả nghĩa lý con
đường đi để thực hành chế độ quõn chủ lập hiến, xõy dựng chủ nghĩa tư bản, đưa
Trung Quốc vào một guồng quay mới… Những tư tưởng tiến bộ của Khang Hữu
Vi và Lương Khải Siêu trong Duy Tõn Mậu Tuất do những hạn chế chủ quan và
khách quan đã chưa thể trở thành hiện thực. Tôn Trung Sơn là người đã kế thừa và
phát triển sự nghiệp của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, trong bối cảnh lịch sử
mới đã đưa những tư tưởng tiến bộ đó trở thành hiện thực trên mảnh đất Trung
Hoa rộng lớn, vĩ đại…
Một điều dễ nhận thấy là, trong tư tưởng giáo dục của các vĩ nhõn Trung
Quốc thời cận hiện đại, đều từ bỏ và đấu tranh chống lại tinh thần học tập theo lối
cổ xưa, học để thi phục vụ khoa cử, lối học “nghệ thuật vị nghệ thuật”, và tất cả
đều đề cao tinh thần thực học, học để phục vụ cuộc sống thực tại, học khoa học kỹ
thuật để áp dụng vào cuộc sống hiện tại…
Trong tư tưởng giáo dục của mình, các vĩ nhõn Trung Quốc từ Khang Hữu
Vi đến Tôn Trung Sơn đều có những tư tưởng tiến bộ đối với phụ nữ. Với Khang
Hữu Vi, ông đã chỉ rừ quan niệm bảo thủ của chế độ phong kiến đối với phụ nữ,
đã chủ trương thành lập hội bỏ tục bó chõn…Đến Tôn Trung Sơn, tư tưởng ấy
càng được mở rộng hơn, thông qua việc chú ý tới việc học của phụ nữ, thành lập
Trường nữ học chuyên ngành tơ tằm.
Sự kết hợp giữa các yếu tố giáo dục truyền thống với sự tiếp thu những giá
trị tinh hoa của nhõn loại phù hợp với đất nước Trung Quốc chớnh là một lý do
giải thích cho sự thành công của những tư tưởng giáo dục ở Trung Quốc thời cận
hiện đại, cũng như về những mốc lịch sử quan trọng của lịch sử cận hiện đại Trung
Quốc. Những tư tưởng tiến bộ của Khang Hữu Vi – Lương Khải Siêu và Tôn
Trung Sơn không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp tới lịch sử phát triển của cách mạng
Trung Quốc, mà nó cũn có tầm ảnh hưởng sõu rộng đến tư tưởng cách mạng và
giáo dục của nhiều tri thức và nhà cách mạng vĩ đại của Việt Nam như Phan Bội