Một số giải pháp nhằm hạn chế ùn tắc giao thông trên địa bàn Hà Nội - Pdf 26

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Hà Nội - Thủ đô nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là "Trung tâm
đầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo
dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước". Hà Nội nằm ở trung tâm Đồng bằng
Bắc Bộ với dân số khoảng 6,5 triệu người, diện tích khoảng 3.324,92 km2 gồm 1 thị
xã, 10 quận và 18 huyện ngoại thành. Hàng năm, Hà Nội thu hút hàng ngàn người
về học tập, làm việc, sinh sống và hưởng thụ dịch vụ. Thế nhưng, Hà Nội đang phải
đương đầu với các vấn đề về giao thông đô thị trong đó tình trạng ùn tắc giao thông
ngày càng trầm trọng.
Ùn tắc giao thông đô thị là một hiện tượng xã hội phản ánh sự quá tải về giao
thông vận tải ở đô thị. Sự quá tải này do mức độ phát triển của hệ thống giao thông
đô thị không đáp ứng kịp với tốc độ tăng dân số đô thị, không đáp ứng được nhu
cầu về giao thông vận tải của người dân. Ùn tắc giao thông với tần suất xảy ra
thường xuyên, liên tục và kéo dài triền miên đã gây ra rất nhiều vấn đề bức xúc như:
lãng phí thời gian, tiền bạc, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe
con người, giảm năng suất lao động, tai nạn giao thông, làm mất cảnh quan đô thị
và nhiều tệ nạn xã hội khác, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế và ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống người dân đô thị.
Ùn tắc giao thông ở Hà Nội hiện nay đã và đang là vấn đề cấp bách hàng
đầu, cần được giải quyết ngay, không chỉ trong ngắn hạn mà còn cần phải có tầm
nhìn dài hạn lâu dài. Vậy giải pháp nào cho vấn đề ùn tắc giao thông tại Hà Nội
hiện nay?
Dựa vào tình hình thực tế cùng những kiến thức đã thu được trong quá trình
học tập em đã quyết định chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm hạn chế ùn tắc giao
thông trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho đề án tốt nghiệp.
Qua đề tài, em mong muốn:
- Phân tích cơ sở khoa học về giao thông đô thị và ùn tắc giao thông đô thị.
- Tập trung tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng hệ thống giao thông đô thị và ùn
tắc giao thông đô thị tại Thành phố Hà Nội.
- Từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần hạn chế tình trạng ùn tắc giao

năng với nhau.
b. Phân loại hệ thống giao thông đô thị
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể về quy hoạch
và tổ chức giao thông phù hợp với nhiều lĩnh vực khác nhau của một chỉnh thể
thống nhất là đô thị, HTGTĐT được phân loại theo nhiều đặc trưng khác nhau.
b.1. Phân chia HTGTĐT theo mối quan hệ giữa giao thông với đô thị
Khi xem xét mối quan hệ giữa giao thông với đô thị, HTGTĐT được phân thành
hai mảng chính là giao thông đối ngoại và giao thông đối nội (hay còn gọi là giao
thông nội thị).
Giao thông đối ngoại gồm: các tuyến đường, các công trình đầu mối và những
phương tiện được sử dụng để đảm bảo sự liên hệ giữa đô thị với bên ngoài và từ bên
ngoài vào trong đô thị.
Giao thông nội thị gồm: các công trình, các tuyến đường và các phương tiện
nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển trong phạm vi của đô thị, đảm bảo nhu cầu liên
hệ giữa các bộ phận cấu thành của đô thị với nhau.
b.2. HTGTĐT còn có thể phân chia thành: Giao thông động, giao thông tĩnh
và phương tiện giao thông.
Hệ thống giao thông động có chức năng đảm bảo cho phương tiện và người di
3
chuyển giữa các khu vực. Hệ thống giao thông động gồm mạng lưới đường sá, các
công trình trên đường và các công trình khác.
Hệ thống giao thông tĩnh có chức năng phục vụ phương tiện và hành khách
(hoặc hàng hóa) trong thời gian không di chuyển. Nó gồm hệ thống các điểm đầu
mối giao thông của các phương thức vận tải khác nhau (các nhà ga đường sắt, các
bến cảng, ga hàng không, các bến vận tải đường bộ…), các bãi đỗ xe, các điểm đầu
- cuối, các điểm trung chuyển, các điểm dừng dọc tuyến.
Phương tiện giao thông được chia làm 2 nhóm là: Phương tiện giao thông công
cộng (gồm: ô tô bus, taxi, tàu điện cao tốc, tàu hỏa ngoại thành….) và phương tiện
giao thông cá nhân (xe ô tô cá nhân, xe đạp, xe máy…).
1.1.2. Vai trò của hệ thống giao thông đô thị

Quy hoạch, tổ chức GTĐT phải gắn liền với các giải pháp bảo vệ môi trường.
Khi đô thị sử dụng các loại phương tiện giao thông hiện đại, không chiếm diện tích
đường hoặc phương tiện sử dụng năng lượng sạch sẽ giúp hạn chế mật độ xe lưu
thông trên đường, hạn chế được khối lượng lớn khí thải chứa nhiều chất độc hại có
ảnh hưởng tới môi trường sinh thái đô thị.
- Đảm bảo trật tự, ổn định xã hội
Hiệu quả của HTGTĐT trong lĩnh vực xã hội là hết sức to lớn và không thể tính
hết được. GTĐT với chức năng đảm bảo nhu cầu đi lại thường xuyên của người dân
đô thị như: đi làm, đi mua sắm, đi thăm viếng…Nếu công tác vận chuyển của
GTĐT bị ách tắc thì ngoài thiệt hại về mặt kinh tế còn ảnh hưởng tiêu cực đến tâm
lý, trật tự, an toàn xã hội….
- Vấn đề giá thành chi phí cho vận chuyển và đi lại trong đô thị
Giá thành có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân vì nhu cầu và số
lần đi lại trong ngày của người dân là rất lớn. Việc đi lại bằng phương tiện cá nhân
như: ô tô cá nhân, xe máy, xe đạp hay bằng các phương tiện công cộng có ảnh
hưởng đáng kể đến chi phí của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội.
Ngoài việc đảm bảo nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân, HTGTĐT còn
phải đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả thông qua việc giảm chi phí đầu tư và giảm
giá thành chi phí cho vận chuyển và đi lại trong đô thị.
- Ngoài ra HTGTĐT còn đóng vai trò làm trục bố cục đô thị và tổ chức không
gian thành phố. Thông thường việc bố cục quy hoạch chung đô thị đều xoay quanh
hệ thống giao thông. Đặc biệt những tuyến đường phố chính, quan trọng đóng vai
trò quyết định trong việc xác định vị trí các công trình trọng điểm, xác định các trục
bố cục kiến trúc chính và phụ của đô thị. Hơn nữa các tuyến chức năng trên đường
phố với các thiết bị giao thông, ánh sáng, cây xanh là một tổng thể mang tính nghệ
thuật cao, làm cho cảnh quan và môi trường trên đường phố thêm phong phú, bộ
mặt kiến trúc đường phố thêm sinh động.
5
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống giao thông đô thị
a. Nhân tố tự nhiên

chú trọng đầu tư về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao thông. Ngược lại nơi nào có
6
HTGT phát triển, thuận tiện đi lại và vận chuyển thì nơi đó sẽ được nhiều nhà đầu
tư quan tâm và kéo theo đó là sự phát triển của các ngành kinh tế khác.
b.3. Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị
Cơ sở hạ tầng giao thông là hệ thống xương sống giúp HTGTĐT hoạt động
thông suốt và hiệu quả. Sự di chuyển nhanh chóng, thuận tiện, sự khai thác và vận
hành tốt các phương tiện giao thông…chỉ có thể có được dựa trên nền tảng cơ sở hạ
tầng giao thông phát triển một cách khoa học. Dù cho công tác tổ chức giao thông
cũng như phương tiện giao thông được đầu tư, phát triển tốt thì nó cũng không thể
phát huy hiệu quả tối đa trên nền tảng cơ sở hạ tầng yếu kém. Nếu không được đầu
tư thích đáng, không đáp ứng kịp tốc độ phát triển của các yếu tố khác như phương
tiện giao thông, nhu cầu đi lại của người dân…thì cơ sở hạ tầng giao thông sẽ trở
thành lực cản cho sự phát triển của đô thị. Và đây cũng là nguyên nhân chính gây
ùn tắc giao thông đô thị.
b.4. Phương tiện giao thông đô thị
Loại hình và mật độ phương tiện giao thông có ảnh hưởng rất lớn đến HTGTĐT.
Số lượng phương tiện giao thông quá lớn, vượt quá sức chịu đựng của đường đô thị
tất sẽ dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông. Vì thế cần phải phát triển loại hình
phương tiện giao thông công cộng để có thể giảm được một lượng đáng kể phương
tiện cá nhân lưu thông trên đường. Tuy nhiên cũng cần có những biện pháp về mặt
tổ chức, quản lý để khắc phục những nhược điểm của loại hình vận tải này.
b.5. Trình độ quản lý và ý thức của người tham gia giao thông
Thực tế cho thấy ở nhiều nước trên thế giới dù mật độ dân số đô thị rất lớn (như
ở Tokyo – Nhật Bản có mật độ dân số là 5748 người/km2) nhưng cũng hiếm khi
xảy ra ùn tắc giao thông do ý thức của người tham gia giao thông rất tốt. Ngược
lại,khi ý thức của người tham gia giao thông kém, không chấp hành đúng luật lệ
giao thông, không nhường nhịn nhau, cứ chen lấn xô đẩy thì sẽ càng làm cho tính
trạng ùn tắc giao thông trở nên nghiêm trọng hơn.
Để HTGT hoạt động đạt hiệu quả cao, ngoài việc nâng cao ý thức người tham

Đồng Nai 13 vụ; Nghệ An 4 vụ Có thể thấy rằng tình hình UTGT càng ngày càng
diễn biến phức tạp, đặc biệt là tình trạng UTGT ở các tuyến đường huyết mạch, các
thành phố lớn ở nước ta có chiều hướng gia tăng và nghiêm trọng hơn.
1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến ùn tắc giao thông đô thị
Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng ùn tắc giao thông trong các đô thị hiện
nay:
- Dân số đô thị đông, mật độ dân số đô thị dày đặc và có xu hướng ngày càng
gia tăng tạo sức ép lớn cho HTGTĐT. Một khi mật độ dân số đô thị tăng vượt quá
mức chịu đựng của HTGT thì ùn tắc giao thông là điều tất yếu xảy ra.
8
- Tỷ lệ giao thông cơ giới ở đô thị ở mức quá cao: cùng với sự tăng lên không
ngừng về nhu cầu giao thông vận tải đô thị là sự tăng lên không ngừng của các
phương tiện giao thông, đặc biệt là phương tiện giao thông cá nhân cũng là nguyên
nhân dẫn đến ùn tắc giao thông.
- Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân: Cơ sở hạ
tầng yếu kém cộng với quỹ đất dành cho phát triển giao thông quá ít, không đáp
ứng kịp yêu cầu phát triển giao thông vận tải đô thị là nguyên nhân chính dẫn đến
ùn tắc giao thông hiện nay.
- Công tác quy hoạch, tổ chức, quản lý giao thông đô thị còn yếu kém cũng góp
phần làm tăng ùn tắc giao thông.
- Ngoài ra, ý thức của người tham gia giao thông còn thấp cũng là một trong
những nguyên nhân gây ùn tắc giao thông đô thị, hơn nữa, còn có thể làm trầm
trọng thêm tình trạng ùn tắc giao thông đô thị.
1.2.3. Ảnh hưởng của ùn tắc giao thông đến môi trường và các hoạt động kinh
tế - xã hội
a. UTGT gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế
Ùn tắc giao thông đô thị xảy ra thường xuyên và liên tục trên diện rộng đã và
đang gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng và khó có thể đo lường hết được.
Trước hết, UTGT gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế. UTGT kéo dài thời gian
di chuyển trên đường, tăng chi phí cả về thời gian và tiền bạc (lãng phí nhiên

vào cơ thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người. Ví dụ như khí CO
khi xâm nhập vào cơ thể sẽ liên kết với hemoglobin trong máu, cản trở việc tiếp
nhận oxi, gây nghẹt thở. UTGT còn gây lãng phí thời gian, làm giảm năng suất lao
động và cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán của người dân bên đường.
Hình ảnh UTGT cũng gây ảnh hưởng xấu đến mĩ quan đô thị.
10
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÙN TẮC GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội nằm ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnh con sông
Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam tương đối
thuận tiện. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện
nay có diện tích 3.324,92 km², gồm 1 thị xã, 10 quận và 18 huyện ngoại thành.
Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả
quốc gia. Năm 2009, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng khoảng 6,67%, tổng
thu ngân sách khoảng 70.054 tỷ đồng. Hà Nội cũng là một trung tâm văn hóa, giáo
dục với các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền
thông cấp quốc gia và các trường đại học lớn.
Song việc tăng dân số quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch tốt
đã khiến Hà Nội trở nên chật chội, ô nhiễm và giao thông nội ô thường xuyên ùn
tắc. Nhiều di sản kiến trúc đang dần biến mất, thay vào đó là những ngôi nhà ống
nằm lộn xộn trên các con phố. Hà Nội còn là một thành phố phát triển không đồng
đều với giữa các khu vực như giữa các quận nội thành và huyện ngoại thành, nhiều
nơi người dân vẫn chưa có được những điều kiện sinh hoạt thiết yếu. Các nhà quản
lý, các cấp chính quyền cần phải nhanh chóng đưa ra những hướng giải quyết nhằm
giảm thiểu những hạn chế trên để Hà Nội có thể phát triển một cách nhanh, mạnh,
đồng bộ và bền vững.
2.2. Thực trạng hệ thống giao thông của Thành phố Hà Nội
2.2.1. Hệ thống giao thông động
GTĐT có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với một thành phố. Trong những năm

- Tỷ lệ cơ giới hóa các phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh, đặc biệt là
tỷ lệ sử dụng phương tiện giao thông cá nhân cao đã tạo nên sức ép rất lớn, gây quá
tải đối với mạng lưới giao thông đô thị ở Hà Nội. Trong giờ cao điểm, trên các
đường trục hệ số sử dụng lòng đường đã vượt quá 1 – 3 lần so với tiêu chuẩn. Vấn
đề ùn tắc giao thông và tai nạn; mất an toàn giao thông đã và đang trở thành vấn đề
hết sức bức xúc tại Hà Nội.
- Hệ thống đường vành đai còn thiếu hoàn chỉnh, ngắt quãng nên hạn chế tác
dụng, đặc biệt đối với giao thông quá cảnh từ các tỉnh chạy theo hướng Bắc – Nam,
Đông – Tây.
- …….
Nhìn chung, so với mạng lưới giao thông liên kết Hà Nội với bên ngoài thì mạng
lưới giao thông đô thị của Hà Nôi hiện nay có nhiều vấn đề bất cập và yếu kém hơn.
12
2.2.2. Hệ thống giao thông tĩnh
Hiện tại Thành phố Hà Nội gồm 5 bến xe: Giáp Bát, Gia Lâm, Mỹ Đình, Lương
Yên, Nước Ngầm là nơi các xe chở khách liên tỉnh tỏa đi khắp quốc gia theo các
quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam, quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà
Giang; quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5A đi Hải Phòng, Quảng
Ninh; quốc lộ 6 đi Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu; quốc lộ 32 đi Phú Thọ….
Với tốc độ gia tăng phương tiện theo cấp số nhân như hiện nay, nội thành Hà
Nội đang rơi vào tình trạng thiếu điểm đỗ xe trầm trọng. Thống kê tại 10 quận nội
thành chỉ có 548 điểm, bãi đỗ ô tô được cấp phép, trong đó quận Hoàn Kiếm, Hai
Bà Trưng, Đống Đa và Ba Đình có mật độ điểm đỗ cao nhất. Do quá thiếu điểm đỗ
nên tình trạng xe ô tô đỗ dừng bừa bãi gây ùn tắc giao thông thường xuyên xảy ra.
Theo đánh giá của đơn vị tư vấn, khu vực 10 quận nội thành nhu cầu điểm đỗ xe
rất cao nhưng khả năng đáp ứng rất thấp nên xuất hiện các điểm đỗ xe không phép
bên cạnh những điểm có phép. Hiện hệ thống bãi đỗ xe công cộng của thành phố
mới chỉ đáp ứng được 8-10% nhu cầu điểm đỗ trên tổng số phương tiện hiện có. Số
phương tiện còn lại đỗ ở bãi xe chung cư, khu đô thị, cơ quan, công sở, nhà riêng.
Đặc biệt có tới 12% đỗ trên lòng đường, vỉa hè, ngõ cụt, sân trường.

Thủ đô của cả nước.
Có lẽ chính vì vậy mà 50% sinh viên trong cả nước tập trung về Hà Nội, người
lao động cũng ùn ùn đổ về thủ đô để kiếm cơ hội việc làm. Do Hà Nội có nhiều
bệnh viện lớn nên bệnh nhân từ khắp nơi cũng đổ về nhằm được hưởng dịch vụ
chăm sóc, khám chữa bệnh tốt nhất. Với bề dày truyền thống và lịch sử lâu đời hàng
năm Hà Nội cũng đón một số lượng lớn du khách đến tham quan, du lịch. Và Hà
Nội dần trở thành một cái “Chợ”, lúc nào cũng nườm nượp người từ tứ xứ đổ về.
Với nhu cầu đi lại ngày càng tăng cao mà cơ sở hạ tầng giao thông lại không thể
đáp ứng kịp thì ùn tắc là điều hiển nhiên.
2.4.2. Dân số đông, mật độ dân số cao kéo theo nhu cầu về giao thông ngày
càng tăng cao
Do sức hút của quá trình phát triển kinh tế, Hà Nội trở thành nơi hội tụ của các
dòng di cư tự do, đặc biệt sức hút của quá trình đô thị hóa đã tạo ra các dòng di dân,
người ở tỉnh ngoài về Hà Nội kiếm việc làm, khiến tốc độ đô thị hóa bị thúc ép tăng
nhanh hơn tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ quản lý đô thị. Điều
này tạo ra sức ép lớn về mọi mặt cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô,
14
bao gồm cả hệ thống giao thông vận tải đô thị. Dòng dân di cư đến Hà Nôi bao gồm
nhiều thành phần khác nhau. Họ bị thu hút bởi cơ hội tìm việc làm, mức sức và thu
nhập cao hơn. Trước hết phải kể đến các sinh viên, học sinh từ khắp các tỉnh thành
đến học tập rồi sau khi ra trường ở lại Hà Nội kiếm việc làm. Tiếp đến là những
người nông dân trong thời kì nông nhàn, ra Hà Nôi kiếm việc làm thêm, tăng thu
nhập, thường ở tạm là chủ yếu. Hơn nữa, Hà Nội cung cấp cho họ những dịch vụ tốt
hơn như: dịch vụ y tế, giáo dục, ngân hàng, cơ sở hạ tầng….Điều này kéo theo nhu
cầu đi lại của người dân không ngừng tăng, nhu cầu về phương tiện giao thông (đặc
biệt là phương tiện giao thông cá nhân) càng tăng và lưu lượng tham gia giao thông
càng lớn.
2.4.3. Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị yếu kém, quỹ đất dành cho phát triển
giao thông còn ít
Cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân của sự ùn tắc giao

Tuy nhiên, theo số liệu thống kê cho thấy: Hệ số khai thác toàn mạng của xe
buýt của Hà Nội đạt trung bình 150%, giờ cao điểm đạt 200%. Có nghĩa là một xe
60 chỗ vào giờ cao điểm phải gánh 120 khách. Trong khi đó hệ số tiêu chuẩn của
thế giới là 70% và 150%. Chỉ nhìn vào con số đó đã thấy rõ chất lượng phục vụ như
thế nào.
Dù số lượng xe buýt đã tăng lên đáng kể nhưng vẫn không thể đáp ứng được
nhu cầu đi lại của người dân đang ngày càng tăng cao nên xảy ra hiện tượng quá tải
cũng là điều đương nhiên. Tình trạng chen lấn, chật trội trên xe buýt xảy ra thường
xuyên, đặc biệt là vào giờ cao điểm. Cũng vì quá tải nên hiện tượng xe buýt
bỏ điểm dừng có chiều hướng gia tăng, đôi khi hành khách chưng hửng, thất vọng.
Theo báo cáo của Transerco, trong 9/2008, Tổng Công ty đã xử lý 1.800 vụ vi phạm
của lái xe, bán vé, tăng 31% so với năm 2007. Trong đó, vi phạm về thái độ phục vụ
(88 trường hợp); vi phạm về dừng đỗ (267 trường hợp); vi phạm về gian lận doanh
thu (406 trường hợp); vi phạm khác (861 trường hợp). Một trong những nỗi khổ khi
đi xe buýt đó là việc hành khách thường phải đội mưa, đội nắng chờ xe. Trong số
trên 1.100 điểm dừng đỗ thì chỉ có khoảng 300 nhà chờ. Đặc biệt, với trên 800 xe
buýt hoạt động trên 60 tuyến nhưng tại Hà Nội chỉ có ba điểm trung chuyển là Cầu
Giấy, Long Biên và bến xe Kim Mã và duy nhất một đường dành riêng cho xe buýt
(trên đường Nguyễn Trãi).
Những yếu tố này đã đánh tụt chất lượng phục vụ của xe buýt và tạo ra một hình
ảnh không mấy đẹp cho bức tranh giao thông Hà Nội. Cuối cùng, mật độ phương
tiện giao thông cao, nhiều dự án triển khai chậm cũng ảnh hưởng đến khả năng vận
16
hành của xe buýt. Và không thể không nói đến đến nhận thức, thái độ phục vụ của
một số công nhân bán vé và lái xe buýt còn chưa cao.
Để hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ngày một phát triển
vững chắc về chất lượng, yếu tố đầu tư phải được đặt lên hàng đầu. Là phương tiện
tham gia giao thông, xe buýt chỉ có thể hoạt động hiệu quả và an toan khi hệ thống
hạ tầng được đầu tư và phát triển phù hợp, theo kịp với sự lớn lên của mạng lưới
buýt. Nếu được đầu tư đầy đủ, xe buýt sẽ không chỉ là một loại phương tiện đi lại

chưa được đề cao.

2.4.6. Tình trạng dân trí, ý thức tự giác của người tham gia giao thông chưa
cao
Ý thức tôn trọng và chấp hành luật lệ giao thông đô thị của người dân mặc dù có
tiến bộ nhưng vẫn còn kém văn minh và ở một số nơi công cộng còn rất tồi tệ. Tình
trạng đi không đúng luật, phóng nhanh, vượt ẩu, rẽ tắt,vượt đèn đỏ,chạy xe sau khi
uống rượu bia… vẫn còn xảy ra nhiều. Tình trạng chen lấn, xô đẩy, đi không đúng
làn đường trong giờ cao điểm diễn ra thường ngày, nếu không có sự xuất hiện của
cảnh sát giao thông thì có lẽ không ai có thể nhúc nhích được. Ý thức thấp kém của
một bộ phận người tham gia giao thông còn được thể hiện qua việc chống lại cảnh
sát giao thông khi thi hành công vụ. Đã có không ít trường hợp vi phạm luật giao
thông khi bị cảnh sát yêu cầu dừng lại đã phóng xe bỏ chạy, thậm chí còn cố tình
đâm thẳng vào cảnh sát giao thông, tấn công cảnh sát…
Nạn chiếm lòng đường, nề đường, chiếm dụng các cầu làm nơi buôn bán, họp
chợ khiến cho đường phố càng bị ùn tắc hơn. Nhất là vào giờ cao điểm, khi nhiều
người tan sở muốn tiết kiệm thời gian đã rẽ vào mua thực phẩm, hàng hóa ở các chợ
bất hợp pháp nói trên.
Ùn tắc giao thông còn thường xuyên xảy ra tại các cổng trường học. Điều này
phản ánh tình hình giáo dục luật giao thông của gia đình và nhà trường cho các em
học sinh, sinh viên còn hạn chế. Không những vậy chính các bậc phụ huynh khi đưa
đón con đi học đã đỗ xe tràn lan xuống lòng đường gây nên ùn tắc giao thông. Đây
cũng là hành động tắc trách đáng bị lên án.
18
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP GIẢM ÙN TẮC GIAO THÔNG CHO
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2050
3.1.1. Quan điểm quy hoạch
- Phù hợp với Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, Quy hoạch sử dụng đất và

3.2.2. Đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ
Cơ sở hạ tầng giao thông thiếu và yếu kém, không đáp ứng kịp tốc độ phát triển
của nhu cầu giao thông đô thị, không đáp ứng kịp tôc độ tăng trưởng của lượng
phương tiện giao thông (đặc biệt là phương tiện giao thông cá nhân như: xe máy và
ô tô) là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng trầm
trọng trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông sao cho phù hợp với tốc độ phát triển
của hệ thống giao thông đô thị là rất quan trọng. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn phải có tầm nhìn dài hạn, đáp ứng được
cả nhu cầu phát triển trong tương lai (50 năm, có khi đến 100 năm). Đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng cần đảm bảo quy hoạch chung, quy hoạch tổng thể, quy hoạch
giao thông Thủ đô Hà Nội.
Nội dung đầu tư phát triên cơ sở hạ tầng gồm:
- Nâng cấp mặt đường và vỉa hè
- Nâng cấp hệ thống nút giao thông
- Nâng cấp hệ thống cầu vượt và đường hầm dành cho người đi bộ
- Nâng cấp hệ thống giao thồng tĩnh
3.2.3. Chú trọng phát triển hệ thống giao thông công cộng
Một trong những thách thức lớn nhất đối với hệ thống giao thông đô thị Thành
phố Hà Nội là sự bùng nổ các phương tiện giao thông cá nhân và thói quen sử dụng
các phương tiện này. Trước mắt, cần ưu tiên phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao
thông thích hợp cùng với mạng lưới vận tải công cộng thuận tiện, nhất là loại hình
vận tải có khối lượng trung bình góp phần giải quyết ách tắc giao thông, tai nạn
giao thông trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.
3.2.4. Hoàn thiện công tác tổ chức, quản lý phát triển giao thông đô thị
Hoàn thiện công tác quản lý phát triển giao thông đô thị gồm các công việc:
Hoàn chỉnh luật giao thông đô thị, Bãi bỏ hoặc chỉnh sửa những văn bản pháp luật
20
dành cho giao thông đô thị đã lạc hậu, xây dựng cơ chế phối hợp thực hiện quản lý
thống nhất giữa Nhà nước với các cơ sở vận tải…

21
nghiêm chỉnh luật giao thông đô thị đã ban hành – dù không có sự kiểm soát liên
tục của cảnh sát nhưng việc thực hiện luật giao thông đô thị vẫn được chấp hành
nghiêm túc.
Việc giáo dục luật giao thông đồng bộ và ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách
nhiệm, tinh thần phục vụ hành khách cho các lái xe chính, phụ xe buýt, taxi, cho
người tham gia giao thông…cần được đề cao. Giao dục luật giao thông cần được
thực hiện ngay từ đầu, kết hợp với giáo dục trong trường học, thực hiện thường
xuyên, liên tục và đầy đủ.
Tiến hành rà soát chất lượng và phương pháp giảng dạy của các trung tâm dạy
luật giao thông đường bộ cho người đi thi bằng lái xe, đảm bảo xây dựng một
chương trình dạy luật giao thông đầy đủ và hiệu quả.
Tổ chức tuyên truyền giao thông sâu rộng đến từng gia đình, cụm dân cư, trên
các phương tiện thông tin đại chúng. Tổ chức các lớp dạy luật giao thông cho những
người vi phạm luật giao thông. Tổ chức các lớp đào tạo, bổ túc cho đội ngũ lái xe,
vận hành xe buýt, xe chuyên dùng.
Biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành luật lệ giao thông có phạm vi
áp dụng rất rộng nhưng chuyển biến nhận thức của người dân thường chậm, đòi hỏi
quá trình thực hiện phải liên tục và kiên trì
22
KẾT LUẬN
Ùn tắc giao thông đã và đang gây ra những hậu quả không mong muốn đến tất
cả mọi lĩnh vực trong cuộc sống, đến các hoạt động kinh tế, xã hội của Hà Nội như:
gây lãng phí thời gian, tiền bạc, giảm năng suất lao động, gây thiệt hại hàng chục
ngàn tỷ đồng mỗi năm, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế; bên cạnh đó ùn tắc giao
thông còn gây ô nhiễm môi trường (ô nhiễm không khí do bụi và khí thải, ô nhiễm
tiếng ồn…),ảnh hưởng nguy hại đến sức khỏe người dân, ngày càng làm suy giảm
chất lượng cuộc sống của người dân đô thị.
Nguyên nhân chủ yếu của ùn tắc giao thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội chủ
yếu là do sự phát triển của cơ sở hạ tầng đô thị không đáp ứng kịp tốc độ phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status