THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DN BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM - Pdf 26

THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI CÁC DN BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát về hệ thống giám sát tài chính ở các DNBH TG (các nước phát triển)
Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đánh dấu
bằng sự kiện gia nhập thành công tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 7 tháng 11 năm
2006. Các ngành, lĩnh vực kinh tế của Việt Nam đòi hỏi phải có những chuyển đổi cũng
như bước phát triển mới trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Ngành Bảo hiểm Việt
Nam là một trong những ngành phải có những bước tiến mới trong thời kỳ hội nhập WTO.
Vì vậy, đòi hỏi ngành Bảo hiểm phải có những đổi mới hợp với xu thế kinh tế thế giới. Để
phát triển nhanh, mạnh và bền vững thì việc học hỏi kinh nghiệm phát triển của các nước
phát triển trong lĩnh vực bảo hiểm là điều cần thiết không thể thiếu.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan đang lôi kéo tất cả các quốc gia vào
vòng vận động của nó. Tuy nhiên, sân chơi quốc tế là một cuộc đọ sức không cân bằng và
việc hội nhập mang lại cả những thời cơ vận hội và những thách thức to lớn mà các quốc
gia đang phát triển và hội nhập muộn phải vượt qua. Việt Nam là một nước đang phát
triển và hội nhập muộn, quy mô và năng lực cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
Ngành Bảo hiểm Việt Nam có sự hình thành và phát triển chậm hơn so với các
nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Trong tiến trình vận động đi lên của cả nền
kinh tế để bắt kịp sự phát triển của thế giới nên ngành bảo hiểm cũng phải tự đặt ra cho
mình những lộ trình phát triển cụ thể.
Một trong những giải pháp thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của Ngành
Bảo hiểm Việt Nam đó là việc học hỏi kinh nghiệm phát triển của những nước đi trước.
Từ những bài học kinh nghiệm đó, chúng ta sẽ đúc rút ra những vấn đề trọng tâm để đẩy
nhanh tiến trình hội nhập của ngành bảo hiểm Việt Nam.
Hiện nay, các thị trường bảo hiểm phát triển đều áp dụng nguyên tắc dựa trên rủi ro
để tính toán nguồn vốn yêu cầu này, phổ biến nhất là mô hình RBC (Risk Based Capital)
và sắp tới có thể là Solvency II ở thị trường châu Âu. Vì vậy, việc tham khảo mô hình
RBC và Solvency II sẽ đưa ra những gợi ý nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng một hệ thống
giám sát mới hiệu quả hơn, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cho thị trường bảo hiểm
VN.
1.2 HệthốnggiámsátRBC

: Rủi ro kinh doanh, khai thác hợp đồng mới.
RBC sau khi được tính toán sẽđem so sánh với nguồn vốn khả dụng (bao gồm vốn
pháp định, thặng dư vốn, dự phòng giảm giá tài sản, bảo tức cam kết, v.v…). Căn cứ vào
tỷ lệ giữa tổng vốn khả dụng và RBC, các mức độ can thiệp được đưa ra như sau:
- Nếu trên 200%: không cần can thiệp;
- Từ 150 đến 200%: doanh nghiệp phải gửi báo cáo (cấp độ doanh nghiệp);
- Từ 100% đến 150%: doanh nghiệp phải gửi một kế hoạch hành động (cấp độ giám
sát);
- Từ 70% đến 100%: cơ quan quản lý có quyền điều hành doanh nghiệp (cấp độ ủy
quyền);
- Dưới 70%: cơ quan quản lý điều hành doanh nghiệp (cấp độ cưỡng chế bắt buộc).
Tuy nhiên, các kiểm tra xu hướng (trend test) cũng được áp dụng đối với các
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (có tỷ lệ 200%-250%), phi nhân thọ (có tỷ lệ 200%-
300%, tỷ lệ kết hợp trên 120%),bảo hiểm sức khỏe (có tỷ lệ từ 200%-300%, tỷ lệ kết
hợp trên 105%).
Tỷ lệ giữa vốn khả dụng và vốn yêu cầu theo rủi ro cũng được áp dụng tại
Singapore và Malaysia dưới tên gọi là tỷ lệ vốn tương thích (Capital Adequacy Ratio-
CAR). Tuy nhiên, có một vài khác biệt nhỏ trong việc xác định các nhân tố rủi ro
(Malaysia có 4 nhân tố, Singapore có 3 nhân tố) và cách tính toán nguồn vốn khả dụng
cũng như cấp độ can thiệp.
Hệ thống Solvency II
Các cơ quan quản lý bảo hiểm châu Âu đang phát triển một khung giám sát mới
(Solvency II) dự định áp dụng từ cuối năm 2012 để thay thế Solvency I đã được áp dụng
từ những năm 1970 cho toàn thị trường châu Âu. Theo đó, Solvency II sẽ dựa trên các
nguyên tắc kinh tế học để đánh giá các tài sản và các khoản nợ của doanh nghiệp bảo hiểm
và là một hệ thống dựa vào rủi ro để xác định yêu cầu vốn của doanh nghiệp bảo hiểm.
Mục tiêu của Solvency II nhằm hướng đến:
- Một hệ thống dựa vào định lượng rủi ro (các tính toán dựa trên rủi ro cụ thể);
- Một phương thức tích hợp cho dự phòng bảo hiểm và yêu cầu về vốn;
- Một khung giám sát hoàn chỉnh trong quản trị rủi ro;

Cáchoạtđộnggiámsátvàquản
trịrủironội bộ(địnhtính)
ThànhphầntrụcộtIII
Báocáovàcôngbố
-
Nhữngyêucầuvềvốnphản
ảnhđặctrưng
rủirocủadoanhnghiệpdựat
rên:
+Bảngcânđốidướigócn
hìnkinhtếhọc;
+Xemxéttoàndiệnđếncá
cyếutốrủiro.
-
Yêucầuvốntốithiểu(MCR
)đượctínhtoán
dựatrêncácyếutốrủiro;
-
Yêucầuvốnđảmbảokhảnă
ngthanhtoán (SCR) được
tính với VaR 99,5% kì
hạn 1 năm;
- SCR có thể được tính
-
Nhậndiệnnhữngrủirokhôngnằ
mtrong trụcộtI;
-Giámsátởquymôtậpđoàn;
-
Yêucầubổsungvốntùytrườngh
ợpcụ thể;

Chấtlượngcao Cấpđộ1(Tier1) Cấpđộ2(Tier2)
Chấtlượngvừa Cấpđộ2(Tier2) Cấpđộ3(Tier3)
Chấtlượngthấp Cấpđộ3(Tier3)
TÀI SẢN NƠ
Vốn thặng dư dư
MCR
Biên rủi ro
Nợ ước tính cao nhất
Biên khả năng thanh toán hữu dụng
Tài sản đảm bảo DPKT
SCR
Dự phòng kỹ thuật (DPKT)
Hnh 1. Mô hnh h thng Solvency II
Căn cứ vào việc so sánh giữa vốn khả dụng với SCR và MCR, có 3 khả năng can
thiệp như sau từ phía cơ quan quản lý nhà nước:
- Nếu vốn khả dụng lớn hơn
SCR: không có can thiệp;
- Nếu vốn khả dụng thấp hơn SCR: cơ quạn quản lý có những biện pháp nhằm khôi
phục tình hình tài chính của doanh nghiệp;
- Nếu vốn khả dụng thấp hơn MCR, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị thu hồi giấy
phép (phá sản hoặc chuyển giao cho doanh nghiệp bảo hiểm khác).
3 KinhnghiệmpháttriểnbảohiểmởcácnướcChâuÂu
(A thấy phần này có thể bỏ hay lấy cũng được, Phước xem rồi chốt lun ha E. Nếu E lấy
thì E bỏ chữ A tô màu xanh ha)
CácnướcthuộcLiênminhChâuÂu(EU)có lịchsửrấtlâuđờivềpháttriểnbảohiểm. Những
đơnbảohiểmđầutiênđượctìmthấyởChâuÂu,vànhữngnghiệpvụbảohiểmđầutiên
cũngđượcrađờiởđây.Tínhđếnnay,quanhiều bướcpháttriểnthăng trầm,bảohiểmđãkhẳng
địnhvaitròquantrọngtrongnềnkinhtếnhiềunướcEU.Hàngnăm,doanhthutừphíbảohiểm
củacácnướcchiếmkhoảng8% GDP.Đểcóđượcsựpháttriểnmạnhmẽvàvữngchắcđó,vaitrò
củahệthốngphápluật cùngcáchoạtđộngquảnlý Nhànướcđóngmột vaitròrấtquantrọng.

sửdụnglaođộngđốivớingườilàmcông, bảohiểmtráchnhiệmnghềnghiệpcũnglàbắtbuộc. Thông
thường,phíbảohiểmbắtbuộcchịusựkiểmsoátcủacơquanquảnlýbảohiểm.
KinhnghiệmpháttriểnbảohiểmởTrungQuốc.
Trongnhữngnămqua,ngànhbảohiểmTrungQuốcđãcónhững bướcpháttriểnrất nhanh
chóng vàmạnh mẽ.Theo Ủy ban giám sát quản lý bảo hiểm Trung Quốc, trong thời gian
qua, các công ty bảo hiểm trong nước của Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ rất tốt.
Theo dự đoán của nhiều chuyên gia, trong 5 năm tới, nhịp độ tăng trưởng của ngành bảo
hiểm Trung Quốc có thể đạt tới 20 - 30%, và xu thế này có thể kéo dài trong 15 - 20 năm.
Đến năm 2010, tổng doanh thu phí bảo hiểm thương nghiệp của Trung Quốc sẽ đạt hơn
5.000 tỷ NDT, chiếm hơn 12% GDP, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ sẽ đạt
hơn 3.000 tỷ NDT, chiếm khoảng 6,8% GDP, sẽ vượt qua Anh, Đức, Pháp, về tổng doanh
thu phí sẽ đứng thứ 5 thế giới.
Sự ra đời của Công ty bảo hiểm Tân Cương vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX
và hàng loạt các công ty bảo hiểm mới cùng với sự tham gia của các tập đoàn bảo hiểm
nước ngoài đã xoá bỏ tình trạng độc quyền của Công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc
(PICC), tạo môi trường cạnh tranh mới. Hệ thống thị trường bảo hiểm được xây dựng,
trong đó không chỉ có sự tham gia của người bảo hiểm, người được bảo hiểm mà còn có
các cơ quan môi giới bảo hiểm. Hiệp hội bảo hiểm Trung Quốc được thành lập với tính
chất là một bộ máy tổ chức toàn quốc có tính tự nguyện. Hội những người tiêu dùng cũng
được hình thành nhằm nâng cao hiểu biết, bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm. Hệ
thống pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm chuyên nghiệp được xây dựng với Luật bảo
hiểm và Ủy ban giám sát, quản lý bảo hiểm có chi nhánh ở các địa phương trong nước.
Sau khi đã kiện toàn về pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm Trung Quốc mới tiến hành thị
trường hoá tỷ lệ phí bảo hiểm để tránh gây rối loạn thị trường.
Trước thách thức cạnh tranh của hàng chục công ty bảo hiểm nước ngoài thâm nhập
vào thị trường, Trung Quốc cũng đã tham khảo, học tập các kinh nghiệm thành công và
các biện pháp quản lý tiên tiến của các công ty bảo hiểm nước ngoài để đổi mới các công
ty bảo hiểm trong nước. Trung Quốc đã tiến hành cải cách mô hình tổ chức ở các công ty
bảo hiểm và thực hiện những biện pháp quản lý mới. Cách thức tổ chức theo kiểu cũ với
hình thức quản lý, phân cấp theo hệ thống dọc đã được thay thế bằng mô hình tổ chức mới

 Chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường
 Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm
 Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp
 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận đầu tư
 Chỉ tiêu công nợ trên tài sản có tính thanh khoản
 Chỉ tiêu nợ phí trên nguồn vốn, quỹ
 Chỉ tiêu dự phòng bồi thường trên phí bảo hiểm thuần được hưởng
• Các chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
 Chỉ tiêu thay đổi về nguồn vốn, quỹ
 Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm
 Chỉ tiêu tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm
 Chỉ tiêu tỷ lệ trả tiền bảo hiểm
 Chỉ tiêu tỷ lệ duy trì hợp đồng
 Chỉ tiêu thay đổi cơ cấu sản phẩm bảo hiểm
 Chỉ tiêu thay đổi cơ cấu tài sản
 Chỉ tiêu thay đổi về dự phòng
 Chỉ tiêu thanh khoản
 Chỉ tiêu tỷ lệ đầu tư vào các công ty liên kết
 Chỉ tiêu khả năng thanh toán
 Chỉ tiêu nguồn vốn, quỹ điều chỉnh trên tổng công nợ
 Chỉ tiêu lợi nhuận
 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận đầu tư tài sản
Các doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm tính toán các chỉ tiêu giám sát và gửi
kết quả cho Bộ Tài chính vào thời điểm nộp báo cáo tài chính hàng năm theo quy định.
Trường hợp kết quả tính toán của các chỉ tiêu có những biến động bất thường, các doanh
nghiệp bảo hiểm phải báo cáo ngay và giải trình những yếu tố gây nên biến động đó với
Bộ Tài chính và có những biện pháp điều chỉnh, khắc phục kịp thời. Vụ Bảo hiểm có trách
nhiệm phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm thông qua Hệ
thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm và tiến hành các biện pháp kiểm tra, giám
sát theo quy định của pháp luật.

khoản
137.27% 67.65% 270.55% 341.82%
Theo Cục QLBH, việc quản lý giám sát được thực hiện qua 2 hình thức là giám sát
từ xa và kiểm tra tại chỗ. Tuy nhiên, Cục mới chỉ tập trung giám sát việc tuân thủ các quy
định pháp luật, chứ chưa thực hiện giám sát trên cơ sở đánh giá rủi ro đối với DN. Hoạt
động giám sát từ xa còn thụ động, chủ yếu dựa trên báo cáo do DN cung cấp. Do vậy,
phần lớn vụ việc được phát hiện trong quá trình thanh kiểm tra DN hoặc nhờ vào nguồn
tin khác.
Trong khi đó, mặc dù hầu hết cán bộ quản lý đã đáp ứng được yêu cầu, nhưng để có
thể soi xét tường tận hoạt động của các DN đa năng tài chính – ngân hàng – bảo hiểm, cán
bộ quản lý phải có kiến thức, kinh nghiệm sâu rộng thì không có nhiều người làm được.
Theo quy định, hiện có 12 chỉ tiêu giám sát DN bảo hiểm phi nhân thọ và 14 chỉ
tiêu giám sát DN bảo hiểm nhân thọ. Các chỉ tiêu này tập trung đánh giá những thay đổi
về vốn, quy mô kinh doanh, khả năng tài chính, khả năng thanh toán, việc trích lập dự
phòng nghiệp vụ và tính thanh khoản trong hoạt động kinh doanh, nguy cơ rủi ro, khả
năng giải quyết rủi ro… Tuy nhiên, các chỉ tiêu này được nghiên cứu từ các chỉ tiêu giám
sát IRIS (Hoa Kỳ) nên còn một vài bất cập.
Một số chỉ tiêu giám sát của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ 2011
CH_ TIÊU
BẢO
VIỆT
PVI
BẢO
MINH
PJICO PTI
Chỉ tiêu thay đổi về nguồn
vốn, quỹ
-2.65% 31.44% 6.53% 17.24% 9.65%
Chỉ tiêu nguồn vốn, quỹ
điều chỉnh trên tổng công nợ

việc hợp nhất các cơ quan quản lý và giám sát các ngân hàng, công ty chứng khoán và
công ty bảo hiểm. Có rất nhiều ý kiến ủng hộ cho phương thức cơ quan giám sát hợp nhất
nhưng cũng có không ít ý kiến phản đối mô hình này. Câu hỏi đặt ra là có phải hợp nhất sẽ
đi kèm với chất lượng giám sát hiệu quả hơn không? Liệu rằng mô hình CQGS hợp nhất
có phù hợp cho tất cả các quốc gia không?Và những khó khăn đằng sau nó là gì?
Xu hướng hợp nhất các cơ quan quản lý và giám sát thị trường tài chính (TTTC)
hay nói đúng hơn là sự chuyển hướng từ phương thức giám sát theo từng lĩnh vực riêng lẻ
sang hình thành một CQGS duy nhất, thực hiện giám sát toàn bộ hệ thống tài chính theo
các mục tiêu đề ra, đang trở nên rõ nét trên phạm vi toàn cầu bởi mô hình này mang lại
hiệu quả giám sát cao hơn và nhất quán hơn.
Nhìn lại lịch sử phát triển của TTTC có thể thấy rằng, một trong những sự phát
triển vượt bậc của TTTC cuối thế kỷ 20 là sự ra đời của các Tập đoàn tài chính lớn, kinh
doanh đan xen, đa ngành, đa lĩnh vực. Chỉ trong vòng 5 năm, từ năm 1995 đến năm 2000,
số lượng các Tập đoàn lớn được xếp vào danh sách 500 tổ chức tài chính lớn nhất thế giới
đã tăng trừ 42% lên 60%. Điều này đã gây khó khăn lớn cho các cơ quan quản lý và giám
sát khi phân chia giám sát theo lĩnh vực và đó cũng là lý do chủ yếu cho sự ra đời của mô
hình CQGS hợp nhất vì mô hình này có thể giám sát chéo giữa các lĩnh vực kinh doanh
khác nhau của cùng một Tập đoàn mà không tạo nên sự chồng chéo.
Đối với một CQGS hợp nhất, mục tiêu giám sát thận trọng là mục tiêu quan trọng
nhất trong giám sát và quản lý khu vực tài chính và nó bao gồm: giám sát ổn định vĩ mô:
đảm bảo tính an toàn cho cả hệ thống tài chính; giám sát ổn định vi mô: đảm bảo sự ổn
định cho mỗi thành viên tham gia thị trường; bảo vệ người tiêu dùng và chính sách cạnh
tranh nhằm phòng ngừa những thất bại của thị trường. Tuy vậy, trong nhiều báo cáo (kể cả
các báo cáo của IMF), các tác giả thường cho rằng, một CQGS được coi là hợp nhất hoàn
toàn (fully integrated) là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát thận trọng với ít nhất 3 mảng
thị trường: ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán. Những cơ quan này, đôi khi không chịu
trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng. Cũng bởi thế, trong mô hình giám sát hợp nhất còn có
“mô hình hợp nhất 2 đỉnh” (two peaks framework) - mô hình mà ở đó một cơ quan chịu
trách nhiệm giám sát thận trọng trong cả 3 lĩnh vực chính: ngân hàng, chứng khoán, bảo
hiểm và một cơ quan chịu trách nhiệm về giám sát hoạt động, bảo vệ người tiêu dùng và

Thứ tư, mô hình sẽ phát huy được lợi ích kinh tế nhờ quy mô.Cùng chia sẻ cơ sở hạ
tầng, cùng một bộ phận hành chính và hỗ trợ sẽ giảm đáng kể chi phí hành chính. Hơn
nữa, khi các số liệu được tập trung về một đầu mối, việc phân tích các số liệu trong báo
cáo sẽhiệu quả hơn và chính xác hơn, tránh được sự chồng chéo trong thu thập thông tin
và giảm được những thông tin sai lệch.
Thứ năm, mô hình này cũng góp phần nâng cao tính trách nhiệm. Khi chỉ có một
cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm giám sát, họ không thể đổ lỗi cho ai được nữa. Tuy
nhiên, để có được điều này, đòi hỏi phải đưa ra những mục tiêu rõ ràng và có sự phân
công, phân nhiệm hết sức cụ thể.
2.3.2.2. H[n chế
Thứ nhất,nếu các mục tiêu không được xác định rõ ràng và không quy định cụ thể
về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn thì hiệu quả của mô hình này thậm chí còn không
bằng mô hình CQGS theo lĩnh vực riêng lẻ.
Thứ hai, lợi ích kinh tế nhờ quy mô sẽ rất khó đạt được nếu các quy định giữa các
lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán cũng như các quy định có liên quan đến nhiều
lĩnh vực khác nhau không được hài hòa hóa khi hợp nhất. Khi đó, không những lợi ích
kinh tế nhờ quy mô không đạt được mà nó còn phản tác dụng vì sẽ rất khó quản lý được
một tổ chức có quy mô quá lớn và phạm vi ảnh hưởng quá rộng.
Thứ ba, rủi ro về đạo đức cũng là một vấn đề tiềm ẩn. Khi các thành viên tham gia
thị trường tin tưởng rằng tất cả các chủ nợ của các tổ chức đều được giám sát bởi CQGS
hợp nhất thì cũng có nghĩa là họ sẽ được bảo vệ như nhau. Chẳng hạn, chủ nợ của một tổ
chức tài chính có thể hy vọng và yêu cầu được bảo vệ như những người gửi tiền trong
ngân hàng khi có những vấn đề tài chính nảy sinh.Vấn đề chia sẻ thông tin cũng là một
trong những nguyên nhân của rủi ro đạo đức.
Thứ tư, quá trình hợp nhất thường nảy sinh rất nhiều rủi ro tiềm ẩn như: (1) việc
lựa chọn cơ chế giám sát được được thảo luận mở; vì thế, không thể đảm bảo cơ chế được
chọn là cơ chế tối ưu bởi lẽ, mô hình này có thể là tối ưu đối với nước này nhưng với nước
khác lại không phải là tối ưu; (2) hiệu quả của quá trình thay đổi có thể bị ảnh hưởng bởi
lợi ích riêng nào đó; (3) quá trình hợp nhất là không ngắn nên có thể mất một số cán bộ trụ
cột; (4) trong quá trình hợp nhất về mặt kỹ thuật, sự phát triển của thị trường có thể sẽ

vực năng lượng nguyên tử hạt nhân, bảo hiểm cho các cơ sở khám chữa bệnh, bảo hiểm
hưu trí nhằm đảm bảo cho kênh bảo hiểm ngày càng mở rộng, đảm bảo an sinh xã hội.
Ngoài ra, các DNBH phối hợp cùng các cơ quan quản lý NN tự chủ động chấn chỉnh các
hoạt động, khắc phục những khiếm khuyết của mình trong quá trình tự thanh tra, kiểm tra.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà nhận định tại Hội nghị ngành
Bảo hiểm năm 2013 do Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức sáng
2/4/2013 tại Hà Nội thì: "Vấn đề chínhcủa thị trường bảo hiểm hiện nay là do đầu tư
không hiệu quả nên dẫn tới tình trạng mất an toàn, đầu tư không thu hồi được vốn, do đó,
tới đây chúng ta phải xem xét phân loại đánh giá lại tiêu chí để có những biện pháp chấn
chỉnh và cải thiện xếp hạng của doanh nghiệp bảo hiểm".
Và cũng như ông Trịnh Thanh Hoan, Cục trưởng Cục QL&GSBH (Bộ Tài chính)
đã thẳng thắn, qua công tác thanh kiểm tra phát hiện 100% DNBH đều vi phạm về hoa
hồng và bồi thường, cá biệt có lúc thị trường “rối loạn”.
Mặt khác, công tác quản lý rủi ro (rủi ro bảo hiểm, rủi ro hoạt động và các rủi ro
khác…) với quản trị doanh nghiệp còn chưa chú trọng đúng mức và chặt chẽ về các vấn đề
như: các phương pháp mô hình đo lường rủi ro, các phân tích về độ nhạy của lãi suất, xây
dựng kịch bản kiểm tra áp lực;kiểm soát chặt chẽ quy trình thủ tục phê duyệt tài sản mới
hoặc đưa ra nguyên tắc định giá, tái bảo hiểm và giám sát các vấn đề nảy sinh; hay như đa
dạng hóa theo loại loại hình sản phẩm và quyền lợi được bảo hiểm; thực hiện tái bảo hiểm
để chuyển giao một rủi ro của những hợp đồng lớn cho công ty tái bảo hiểm thông qua các
hợp đồng tái bảo hiểm cố định và tạm thời…
2.4.2. H[n chế về ho[t động giám sát tài chính các DNBH
2.4.2.1. Về phương pháp giám sát
Chỉ mới chú trọng đến khâu giám sát từ xa thông qua hệ thống báo cáo tài chính
của các doanh nghiệp gởi lên theo định kỳ mà chưa tổ chức kiểm tra thường xuyên và
giám sát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, văn phòng đại diện công ty
bảo hiểm nước ngoài tại cơ sở. Như ta đã biết, để giám sát có hiệu quả cần cả giám sát từ
xa qua các báo cáo tài chính và thanh tra tại chỗ. Người giám sát từ xa phân tích các báo
cáo định kỳ còn thanh tra tại chỗ xác định mức độ trung thực của các báo cáo này, đánh
giá chi tiết về những nguy cơ mà người giám sát từ xa không thể đánh giá được. Trong

đoàn tài chính có kinh doanh bảo hiểm – Kỳ 5: Thực tiễn giám sát hoạt động của các
tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm tại
Việt Nam”.
2. Đại học Ngoại thương, Bảo hiểm Việt Nam – “Thực trạng và giải pháp phát triển,
2003”.
3. Ths. Nguyễn Tiến Hùng và Ths. Võ Đình Trí (ĐH Kinh Tế Tài Chính TP. HCM) –
“Giám sát tài chính đối với các Doanh nghiệp bảo hiểm”.
4. Ts. Nguyễn Ngọc Định và Ths. Hồ Thị Thủy Tiên (ĐH Kinh Tế TP.HCM) – “Vấn đề
giám sát tài chính đối với các công ty bảo hiểm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế ở Việt Nam”.
5. Các văn bản pháp luật về bảo hiểm:
• Nghị định số 46/2007/NĐ- CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chế độ tài
chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;
• Quyết định số 153/2003/QĐ- BTC của Bộ Tài chính ban hành hệ thống chỉ tiêu
giám sát DNBH;
• Quyết định số 2330/QĐ-BTC
• Thông tư số 125/2012/TT-BTC
• Thông tư số 155/2007/TT-BTC
• Thông tư số 156/2007/TT-BTC
6. Các trang Web:
• http://www.avi.org.vn
• http://www.baohiem.pro.vn
• http://www.baohiemtoancau.com/chuyen-muc/3/Cam-nang-bao-hiem-nhan-
tho.html
• http://www.baohiem.pro.vn
• http://www.cafef.vn
• http://www.csdl.thutuchanhchinh.vn
• http://www.gso.gov.vn
• http://www.irt.mof.gov.vn
• http://www.swissre.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status