Giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước ở Việt Nam - Pdf 25



MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM
SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC
NHÀ NƢỚC
1.1.1. Quyền lực nhà nƣớc và các loại giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc
1.1.2. Giám sát xã hội - Một loại giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc ở
Việt Nam
1.2. CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC
NHÀ NƢỚC
1.2.1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về giám sát xã
hội đối với quyền lực nhà nƣớc
1.2.2. Nội dung của pháp luật về giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc
1.3. KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN
LỰC NHÀ NƢỚC CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1. Giám sát xã hội ở một số nƣớc
1.3.2. Những kinh nghiệm có thể áp dụng cho giám sát xã hội ở Việt Nam

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN
LỰC NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM
2.1. THỰC TRẠNG CÁC CHỦ THỂ, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIÁM
SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
2.1.1. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
2.1.2. Giám sát của công dân

2.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
2.2.1. Đánh giá chung về hoạt động giám sát của các chủ thể giám sát xã hội
2.2.2. Những nguyên nhân và một số kinh nghiệm

Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG
GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
3.1. TĂNG CƢỜNG GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ
NƢỚC - YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1.1. Tăng cƣờng giám sát xã hội với mục tiêu xây dựng Nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
3.1.2. Tăng cƣờng giám sát xã hội nhằm kế thừa và phát huy ƣu điểm,
khắc phục những yếu kém trong thực tiễn giám sát xã hội đối với
quyền lực nhà nƣớc thời gian qua
3.1.3. Tăng cƣờng giám sát xã hội đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nƣớc
3.2. QUAN ĐIỂM VÀ PHƢƠNG HƢỚNG TĂNG CƢỜNG GIÁM SÁT XÃ
HỘI ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
3.2.1. Quan điểm
3.2.2. Những phƣơng hƣớng tăng cƣờng giám sát xã hội đối với quyền
lực nhà nƣớc
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI
VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
3.3.1. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế tổng thể về giám sát đối với
quyền lực nhà nƣớc

72
76
78


chức chính trị - xã hội.
3.3.3. Phát huy vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, các tập thể lao
động và các hình thức giám sát trực tiếp của công dân
3.3.4. Phát huy vai trò giám sát của các cơ quan thông tin đại chúng
3.3.5. Tăng cƣờng trách nhiệm của các cơ quan nhà nƣớc trong giám
sát xã hội

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
102

105
106

107

108
1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thực tế thời gian qua cho thấy: Phƣơng thức lãnh đạo của Đảng, tổ chức bộ
máy và cơ chế vận hành của Nhà nƣớc ta đã có nhiều đổi mới, trong đó, đã tổ chức
nghiên cứu, ban hành và đƣa vào thực hiện nhiều chủ trƣơng, nghị quyết, văn bản
pháp luật liên quan đến việc phát huy vai trò của giám sát xã hội đối với tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nƣớc. Cùng với sự tích cực và năng động của các chủ thể
giám sát, việc đa dạng hóa về hình thức, cụ thể hóa về nội dung, thẩm quyền, phạm
vi giám sát đã góp phần làm cho hiệu quả giám sát xã hội đối với quyền lực nhà
nƣớc ngày một tăng lên. Tuy vậy, xét trên bình diện chung, cơ chế vận hành của Nhà
nƣớc trong xã hội vẫn chƣa khắc phục đƣợc những khiếm khuyết ngày càng hiện rõ,
đó là: Hoạt động tổ chức và thực hiện quyền lực của các cơ quan nhà nƣớc chƣa thực
sự khoa học và hiệu quả; tệ quan liêu và tham nhũng ngày càng nghiêm trọng; một
bộ phận cơ quan, cán bộ, công chức nhà nƣớc thực thi Hiến pháp và pháp luật chƣa
thực sự nghiêm minh, chức năng còn chồng chéo hoặc có nhiệm vụ còn bỏ trống; có
hiện tƣợng “lấn sân”, vƣợt cấp, vƣợt quyền; dân chủ có lúc, có nơi bị vi phạm,…
Nguyên nhân của tình trạng trên có thể phân tích trên nhiều lĩnh vực song có
một thực tế rất rõ là giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc còn bị coi nhẹ. Một
mặt, về nhận thức cho rằng giám sát xã hội không có tính cƣỡng chế, không đem lại
những hậu quả pháp lý trực tiếp nên ít đƣợc coi trọng (cả về phía chủ thể của quyền
giám sát và phía đối tƣợng bị giám sát). Mặt khác, cũng còn thiếu những sự đầu tƣ
thực sự cả về cơ chế pháp lý và điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết để giám sát xã
hội trở thành quyền và trách nhiệm thiết thân đối với mỗi cơ quan, tổ chức, công dân
và các thiết chế xã hội khác. Việc nghiên cứu về bản chất, cơ chế pháp lý, các chủ
thể, phạm vi, nội dung, hình thức, hiệu lực, hiệu quả… của giám sát xã hội với tƣ
cách là một loại giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc chƣa đƣợc tiến hành đầy đủ.
Trong bối cảnh phải gấp rút hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO, chúng ta đã gặp không ít khó khăn, lúng túng
khi xử lý các vấn đề liên quan đến giám sát từ phía một xã hội đang trên đà phát triển
đối với một nhà nƣớc mới ở giai đoạn khởi đầu của việc xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền.
Chính vì lý do đó, cùng với tính chất công việc bản thân đang làm hiện nay,

Hồng Thái; Vấn đề nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của hội đồng nhân dân của
TS. Vũ Thƣ, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ quản lý hành chính công với đề tài: Tăng
cường hoạt động giám sát của Quốc hội đối với cơ quan hành chính nhà nước ở

4

trung ương của ThS. Trƣơng Thị Mai (2004); các hội thảo khoa học do Văn phòng
Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội tổ chức. Một số tác giả nghiên cứu về giám sát
thông qua hoạt động của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nƣớc, nhƣ: Các bài viết
về Vấn đề giám sát của Chủ tịch nước của ThS. Đỗ Gia Thƣ, Vai trò của toà hành
chính trong việc kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lực nhà nước của ThS. Đặng
Xuân Đào và CN. Mai Văn Quang, Mấy nhận thức về cơ chế kiểm tra, giám sát của
Viện kiểm sát nhân dân của ThS. Phạm Văn Tỉnh;…
Về hoạt động giám sát của các chủ thể bên ngoài nhà nước cũng có một số
nhà khoa học đã đề cập đến. Đó là, viết về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong cuốn Sự hạn chế quyền lực nhà nước của PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung; giám
sát của Mặt trận, các tổ chức thành viên và công dân trong cuốn Đổi mới, hoàn thiện
bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay của PGS.TS. Bùi Xuân Đức, Nhân dân
giám sát các cơ quan quyền lực dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của TS.
Đặng Đình Tân (chủ biên); một số bài viết về nhà nƣớc pháp quyền, xã hội công dân
trên các tạp chí chuyên ngành của PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế; một số chuyên đề
nghiên cứu hằng năm về giám sát của Ban Dân chủ - Pháp luật thuộc Ủy ban Trung
ƣơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về
giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc dƣới góc độ chung và tƣơng đối hệ
thống. Những tài liệu nêu trên có giá trị tham khảo tốt để tác giả Luận văn nghiên
cứu và vận dụng trong đề tài nghiên cứu của mình.

3. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích của luận văn:

4.1. Phƣơng pháp luận:
Đề tài dựa trên phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh; những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong các nghị
quyết Trung ƣơng gần đây, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX,
X về phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau để rút ra những
nhận xét, kết luận phục vụ cho đề tài:

6

- Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết;
- Phƣơng pháp thống kê số liệu;
- Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh;
- Phƣơng pháp điều tra, phỏng vấn;
- Phƣơng pháp chuyên gia;
- Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm;

5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài Mục lục, Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp luật về giám sát xã hội đối với quyền lực
nhà nƣớc
Chƣơng 2: Thực trạng giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc ở Việt Nam
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng giám sát xã hội đối với quyền
lực nhà nƣớc

những quyền năng cụ thể, bao gồm: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tƣ
pháp. Các quốc gia trên thế giới ngày nay có cách tổ chức, phân công thực hiện 3
quyền trong quyền lực nhà nƣớc khác nhau. Có nƣớc phân chia 3 quyền độc lập, chế
ƣớc lẫn nhau; có nƣớc thực hiện quyền lực nhà nƣớc thống nhất. Ở nƣớc ta, quyền
lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp.
Về bản chất, toàn bộ quyền lực nhà nƣớc là thuộc về nhân dân. Nhân dân có
vai trò “là chủ” quyền lực nhà nƣớc đồng thời có khả năng và điều kiện “làm chủ”
quyền lực nhà nƣớc. Hai phƣơng thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nƣớc là:
trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện.
Phƣơng thức nhân dân thực hiện quyền lực trực tiếp là việc những ngƣời dân
trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội, tham gia thảo luận
dự thảo Hiến pháp, pháp luật, trực tiếp thể hiện ý chí của mình khi có trƣng cầu dân
ý, … Phƣơng thức này có ƣu điểm là ý chí của nhân dân đƣợc bày tỏ một cách trực
tiếp, sinh động, phản ánh sát thực với những nhu cầu và lợi ích của ngƣời dân. Tuy

8

nhiên, hạn chế cơ bản của phƣơng thức này là không phải mọi việc của xã hội đều có
thể lấy ý kiến của toàn thể nhân dân, không phải ngƣời dân nào cũng đủ năng lực
tham gia vào công việc quản lý chung do sự phân công lao động khác nhau, sự giới
hạn của phƣơng tiện thông tin và đòi hỏi tính kịp thời của những quyết định quản lý.
Những hạn chế của phƣơng thức thực hiện quyền lực trực tiếp đƣợc khắc
phục bằng phƣơng thức nhân dân thực hiện quyền lực thông qua các cơ quan đại
diện. Đây là phƣơng thức chủ yếu, phổ biến ở Việt Nam và nhiều nƣớc khác trên thế
giới hiện nay. Nhân dân thông qua cuộc phổ thông đầu phiếu bầu ra cơ quan đại
diện, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực và quản lý xã hội. Thông qua phương
thức đại diện, quyền lực nhà nước được thực hiện bằng hoạt động của các cơ quan
nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước thuộc các cơ quan đó.
Phƣơng thức đại diện có ƣu điểm là những cá nhân ƣu tú đƣợc bầu vào những

điểm khác nhau:
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện
đúng những điều quy định không”.
Theo nghĩa dịch từ Từ điển Tiếng Nga, “Giám sát là một nhóm hoặc một tổ
chức để theo dõi người, việc nào đấy”.
Theo Từ điển Hán - Việt do Đào Duy Anh chủ biên thì: “Giám sát là theo dõi
và đàn hạch”.
Theo Khoản 1, Điều 2, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội: “Giám sát
(trong Luật này - TG) là việc Quốc hội, Ủy ban thƣờng vụ quốc hội, Hội đồng dân
tộc, ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi,
xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong
việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban thƣờng vụ Quốc hội”.
Theo quan điểm của khoa Hành chính học thì giám sát dùng để chỉ hoạt động
của các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, tòa án, các tổ chức xã hội và công dân nhằm
đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý xã hội. Giám sát là sự tác
động quyền lực nhằm chấn chỉnh những lệch lạc, trái pháp luật, sai trái mục tiêu của
một hệ thống đối với một hệ thống khác, nằm ngoài quan hệ trực thuộc theo chiều
dọc [22, tr.506].
Theo GS.TSKH. Đào Trí Úc, để một cơ chế đƣợc coi là giám sát thì cơ chế đó
phải đáp ứng các yêu cầu nhƣ: “Có khả năng giám sát đƣợc toàn bộ hệ thống quyền

10

lực”, “phải đứng ngoài mà nhìn nhận”, “phải có tính độc lập về mặt pháp lý và phải
đảm bảo đƣợc yêu cầu khách quan” [36].
Theo PGS.TS. Võ Khánh Vinh, giám sát theo nghĩa rộng là khái niệm để biểu
thị “tổng thể các cơ chế xã hội tác động đến hành vi của con ngƣời với mục đích
khắc phục các sai lệch khỏi các quy phạm mà xã hội tiếp nhận”. Xã hội loài ngƣời có
nhiều dạng giám sát khác nhau, trong đó, giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc là một

thống mà các bộ phận đó có tính độc lập tƣơng đối với nhau.
(6)- Giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc là sự tác động để quyền lực đó vận
hành trong giới hạn và những cơ chế ràng buộc một cách tự nhiên hoặc đƣợc quy
định bởi hiến pháp, pháp luật; nhằm làm cho các cơ quan mang quyền lực nhà nƣớc
hoạt động đúng giới hạn thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ. Giám sát đối với quyền
lực nhà nước thực chất là giám sát việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước
thông qua hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Để góp phần hiểu rõ về giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc, cần phân biệt
giám sát với những hoạt động khác trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước:
(1)- Giám sát khác với kiểm tra: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ
học xuất bản năm 2004, kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận
xét”. Do đó, so với giám sát thì kiểm tra là khái niệm bao hàm những thao tác có tính
xác định và tính cụ thể rõ hơn (đo, đếm, nhìn, sờ sự vật, hiện tƣợng, nghiên cứu tài
liệu, đối thoại, đối chất để thu thập thông tin, làm rõ sự việc); kiểm tra thƣờng đƣợc
dùng khi xem lại những sự việc, những sai phạm đã xảy ra. Kiểm tra có thể là bản
thân tự kiểm tra, cũng có thể là cấp trên trong cùng hệ thống kiểm tra, cũng có thể là
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đến kiểm tra. Trong thực tiễn, khái niệm kiểm tra
đƣợc sử dụng khá rộng rãi, có thể chỉ hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc
hay các chủ thể khác trong xã hội.
(2)- Giám sát khác với thanh tra: Thanh tra, theo Từ điển Tiếng Việt là “kiểm
tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phƣơng, cơ quan, xí nghiệp”. Trong khoa học
pháp lý, thanh tra là khái niệm chủ yếu đƣợc dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan,
tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền đƣợc xác định theo Luật thanh tra năm 2004.
Điều 4 Luật Thanh tra quy định: “Thanh tra nhà nƣớc là việc xem xét, đánh giá, xử lý
của cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc
quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật…”.

12



13

và vận hành của nhà nƣớc nói chung và các bộ phận cấu thành nhà nƣớc nói riêng;
góp phần đảm bảo sự phù hợp trong hoạt động của các cơ quan, cán bộ, nhân viên
nhà nƣớc với các quy định, nhiệm vụ đặt ra; khắc phục các sai lệch; nâng cao hiệu
quả hoạt động của quyền lực nhà nƣớc. Ở đâu có quyền lực nhà nƣớc tất yếu ở đó
phải có sự giám sát.
Giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc bao gồm giám sát đối với tổ chức và
giám sát thực thi quyền lực nhà nƣớc thông qua giám sát hoạt động của các cơ quan
nhà nƣớc. Trong đó, dù là giám sát tổ chức hay giám sát hoạt động của các cơ quan
nhà nƣớc thì căn cứ để đối chiếu, nhận xét, đánh giá hoạt động quyền lực ở đây chủ
yếu dựa vào hệ thống các quy định của pháp luật. Giám sát đối với quyền lực nhà
nƣớc là loại giám sát mang tính chất pháp lý. Giám sát, khi đƣợc pháp luật quy định,
trở thành quyền của chủ thể đối với đối tƣợng giám sát và khi đó khái niệm giám sát
cũng đƣợc hiểu là quyền giám sát.
1.1.1.3. Các loại giám sát đối với quyền lực nhà nước
Căn cứ vào các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu hay hoạt động thực tiễn cần
giải quyết mà có thể lấy các tiêu chí khác nhau làm cơ sở để phân loại hoạt động
giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc. Sự phân loại đó có thể dựa vào: (1) chủ thể; (2)
nhiệm vụ; (3) nội dung; (4) tính chất,… của hoạt động giám sát. Phổ biến nhất
trong khoa học pháp lý hiện nay là phân loại giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc
theo tiêu chí chủ thể.
Ở nƣớc ta hiện nay, lý luận và thực tiễn cho thấy có thể chia ra 6 chủ thể
chính thực hiện giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc. Đó là: Các cơ quan nhà nƣớc;
tổ chức chính trị; các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức xã hội; các tập thể lao
động và công dân. Tƣơng ứng với đó, có thể phân chia giám sát thành:
+ Giám sát của Nhà nƣớc;
+ Giám sát của tổ chức chính trị;
+ Giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội;

xã hội”. Cơ chế vận hành của hệ thống chính trị nƣớc ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà
nƣớc quản lý, nhân dân làm chủ”. Vì vậy giám sát của Đảng là giám sát của chủ thể
lãnh đạo đối với Nhà nƣớc và toàn xã hội thông qua các cán bộ, đảng viên do Đảng
giới thiệu, cử sang đảm nhận các cƣơng vị lãnh đạo trong bộ máy nhà nƣớc; thông qua
các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy đƣợc thành lập và giữ vai trò lãnh đạo trong
các cơ quan công quyền. Giám sát của Đảng đƣợc tiến hành cả trong quá trình lãnh

15

đạo chung và thông qua các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát của Đảng ở các cấp.
Trên thực tế còn một loại giám sát nữa đƣợc hình thành từ sự kết hợp của các
loại giám sát trên và có thể tạm gọi là giám sát phối hợp hay giám sát hỗn hợp. Đây
là loại hình giám sát có sự tham gia của các chủ thể thuộc hai hoặc cả ba loại giám
sát nêu trên (giám sát của Đảng, giám sát của Nhà nƣớc, giám sát của nhân dân) đối
với việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nƣớc.
1.1.2. Giám sát xã hội - Một loại giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc ở Việt
Nam
1.1.2.1. Khái niệm giám sát xã hội
Khái niệm giám sát xã hội gần đây thƣờng xuất hiện trong các tài liệu, sách
báo khoa học pháp lý ở nƣớc ta nhƣng cách thức sử dụng của mỗi tác giả là khác
nhau.
Theo nghĩa rộng, một số nhà khoa học pháp lý và xã hội học đã sử dụng khái
niệm giám sát xã hội để biểu thị cho tổng thể các cơ chế xã hội tác động một cách có
mục đích nhằm khắc phục các sai lệch khỏi các quy phạm, chuẩn mực mà xã hội tiếp
nhận; là một trong những yếu tố điều chỉnh đời sống xã hội và đƣợc hình thành trên
cơ sở của tồn tại xã hội nói chung; là chức năng thuộc về hệ thống tổ chức tự nhiên
của xã hội loài ngƣời.
Theo nghĩa này, giám sát xã hội bao trùm lên trên cả khái niệm giám sát nói
chung đối với quyền lực nhà nƣớc bởi hai lẽ: Thứ nhất, giám sát đối với quyền lực
nhà nƣớc là giám sát của tiểu hệ thống trong hệ thống rộng hơn là toàn xã hội và suy

Một đặc điểm trong hệ thống chính trị và xã hội ta là bộ phận lớn dân cƣ cả
nƣớc đƣợc tập hợp trong các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các tập thể
lao động phù hợp. Các tổ chức và tập thể đó hầu hết lại đƣợc liên hiệp lại trong Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, cùng với những cá nhân tiêu biểu đại diện cho mọi tầng lớp
dân cƣ. Điều đó làm cho Mặt trận Tổ quốc có cơ sở xã hội rộng rãi nhất mà không
một chủ thể xã hội nào có đƣợc. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành
viên, các tổ chức xã hội, các tập thể lao động và giám sát trực tiếp của công dân đối
với quyền lực nhà nƣớc là nội hàm trực tiếp của khái niệm giám sát xã hội - một cách
diễn đạt khác của “giám sát nhân dân” trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Xét về bản chất, giám sát xã hội ở nƣớc ta không phải là giám sát của lực
lƣợng kiềm chế, đối trọng hay tƣơng phản với Nhà nƣớc. Trong hoạt động giám sát

17

có chỉ ra cái đúng, cái sai, có đồng tình, có phản đối, có chấp nhận và có bổ sung
nhƣng giữa giám sát xã hội và quyền lực nhà nƣớc ở nƣớc ta đều thống nhất với nhau
ở lợi ích của nhân dân, ở bản chất nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân. Giám sát xã hội
dù cho chủ thể nào thực hiện cũng mang bản chất của chế độ chính trị, nhằm mục
tiêu phát huy tính ƣu việt của dân chủ xã hội chủ nghĩa, dƣới sự lãnh đạo của Đảng
và đặc biệt là đều phải tuân theo những quy định của pháp luật trong xu hƣớng xây
dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Giám sát xã hội cũng nhƣ giám sát nói chung đối với quyền lực nhà nƣớc ở
nƣớc ta phải bảo đảm để quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, đồng thời có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tƣ pháp; bảo đảm để mỗi cơ quan trong hệ thống quyền lực nhà
nƣớc luôn thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, hạn chế thấp nhất sự lạm quyền xảy
ra.
Nhƣ vậy, căn cứ vào những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc cũng
nhƣ thực tế tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nƣớc ta hiện nay thì giám sát

+ Các tổ chức xã hội: Tổ chức xã hội là tên gọi chung để chỉ các tổ chức tự
nguyện của quần chúng nhƣng không phải là 5 tổ chức chính trị xã hội nêu trên.
Trong thực tế, các tổ chức xã hội mang nhiều tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp các
hội, hội liên hiệp, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội,… và đều có những đặc điểm chung,
nhƣ: là tổ chức tự nguyện của quần chúng; tập hợp đông đảo ngƣời cùng ngành nghề,
hoặc cùng giới, cùng sở thích,… cùng góp kiến thức, sức lực và hành động một cách
thƣờng xuyên để đạt mục đích nào đó. Tổ chức và hoạt động của hội không đƣợc trái
với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của Tổ quốc, của chế độ và đƣợc pháp luật
công nhận. Đa số các hội có điều lệ và nhiều hội có tƣ cách pháp nhân.
+ Các tập thể lao động: Là những tập hợp ngƣời trong những không gian, thời
gian hay quan hệ ràng buộc nhất định tạo thành những nhóm (chính thức, phi chính
thức) để nói tiếng nói của mình. Các tập thể lao động có thể là: Các doanh nghiệp,
hợp tác xã, các tổ, đội, nhóm sản xuất,…;
+ Công dân: Là những ngƣời dân trong mối quan hệ quốc tịch với một nhà
nƣớc nhất định, bao gồm những ngƣời có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
theo quy định của pháp luật.
Ngày nay, sự tham gia ngày càng nhiều của dƣ luận xã hội với tƣ cách là một
định chế xã hội vào hoạt động giám sát đã chứng tỏ phạm vi chủ thể của giám sát xã

19

hội đối với quyền lực nhà nƣớc có xu thế ngày càng rộng mở. Dƣ luận xã hội tồn tại
có tính chất độc lập so với các thiết chế xã hội khác trong hoạt động giám sát đối với
quyền lực nhà nƣớc, thông qua vai trò rất lớn của các cơ quan thông tin đại chúng
(báo chí) và các phƣơng tiện truyền tin (viễn thông, Internet,…) góp phần làm hoàn
thiện và phong phú thêm cho kênh giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nƣớc ở
nƣớc ta.
Do bản chất và vị trí khác nhau trong hệ thống chính trị nên nhìn chung mỗi
chủ thể nêu trên tham gia giám sát đối với quyền lực nhà nƣớc ở mức độ khác nhau.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức có tính chất xã hội rộng rãi nhất, là nơi tập

pháp luật để đề xuất, kiến nghị với các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền áp dụng
những biện pháp loại trừ những nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật và kỷ
cƣơng, kỷ luật nhà nƣớc
d) Về đối tượng và khách thể: Giám sát của các cơ quan nhà nƣớc thƣờng
đƣợc quy định cụ thể về đối tƣợng chịu sự giám sát gắn với thẩm quyền giám sát của
từng chủ thể nhất định (Ví dụ: Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội giám sát cơ
quan hành chính nhà nƣớc ở trung ƣơng; Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của
Ủy ban nhân dân cùng cấp,…). Theo đó, khách thể trong quan hệ giám sát do các cơ
quan nhà nƣớc thực hiện cũng thƣờng có tính cụ thể (là những trạng thái hoạt động
bình thƣờng, đúng pháp luật của các cơ quan mang quyền lực nhà nƣớc chịu sự giám
sát). Ngược lại, giám sát xã hội đƣợc thực hiện đối với toàn bộ hoạt động tổ chức và
thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Các chủ thể xã hội có quyền giám sát đối với tất cả
các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc, trên cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tƣ
pháp. Giám sát xã hội có thể từ lúc bắt đầu lập ra các cơ quan nhà nƣớc (ví dụ: giám
sát trong quá trình bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng nhân dân, giám sát trong quá
trình tham gia bổ nhiệm Thẩm phán, bầu Hội thẩm nhân dân…) đến khi các cơ quan
đó đã hình thành và hoạt động. So với giám sát của nhà nƣớc, giám sát xã hội có
khách thể ở tầm khái quát chung hơn và phạm vi đối tƣợng rộng hơn.
Giám sát xã hội thực hiện ở tất cả các tầng nấc của bộ máy nhà nƣớc trong đó
giám sát ở mỗi tầng nấc có tác động và ý nghĩa khác nhau, hỗ trợ và bổ sung cho
nhau. Giám sát ở cấp cao có ý nghĩa điều chỉnh vĩ mô đối với cơ chế tổ chức và thực
hiện quyền lực; giám sát ở cơ sở có tác động trực tiếp đến việc thực thi quyền lực
một cách đúng đắn của cơ quan công quyền, nhất là đối với những vấn đề liên quan
đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Tuy nhiên, do đặc thù mối quan hệ

21

Nhà nƣớc với nhân dân chủ yếu thông qua hoạt động tại các cơ sở (xã, phƣờng, thị
trấn, cơ quan, doanh nghiệp,…); cơ sở là nơi tiếp cận và giải quyết các công việc cho
dân hàng ngày, do đó giám sát xã hội đƣợc thực hiện một cách trực tiếp và cụ thể

của từng cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc (ví dụ: Hội đồng nhân dân giám sát Ủy ban
nhân dân trong hoạt động chấp hành và điều hành, tổ chức thực thi pháp luật ở địa
phƣơng). Ngƣợc lại, với vai trò chủ thể tối thƣợng của quyền lực nhà nƣớc, về
nguyên tắc, nhân dân có quyền giám sát đối với tất cả mọi nội dung của hoạt động
quyền lực nhà nƣớc. Nói cách khác, giám sát xã hội đƣợc áp dụng đối với tất cả các
quá trình và phạm vi thực hiện quyền lực nhà nƣớc, trên các lĩnh vực cơ bản nhƣ sau:
- Giám sát quá trình bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân và thành lập các cơ
quan khác của bộ máy nhà nƣớc.
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan đại diện quyền lực nhà nƣớc;
đây thực chất cũng là hệ thống cơ quan nắm giữ chủ yếu quyền lập pháp.
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan chấp hành - điều hành hay còn
gọi là hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc, nắm giữ quyền hành pháp trong nhà
nƣớc, trực tiếp quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tƣ pháp, nắm giữ quyền tƣ pháp
mà trọng tâm là hoạt động xét xử của các toà án nhân dân.
Từ 4 lĩnh vực cơ bản trên, giám sát thực hiện với những nội dung cụ thể sau:
- Giám sát việc thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, giới hạn thẩm
quyền của các cơ quan nhà nƣớc trong mối quan hệ với cơ quan khác và với nhân
dân.
- Giám sát đối với tính hợp hiến, hợp pháp và tính hợp lý của các quyết định,
hành vi mang tính quyền lực nhà nƣớc đƣợc ban hành.
- Giám sát việc tuân thủ và tổ chức thực hiện các văn bản mang tính quyền lực
nhà nƣớc đã đƣợc ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền.
- Giám sát đối với việc bảo đảm thực hiện các quyền tự do và các lợi ích của
công dân đƣợc pháp luật bảo vệ.
- Giám sát đối với đội ngũ cán bộ, công chức thực thi quyền lực.
- Giám sát hiệu quả thực hiện quyền lực nhà nƣớc, việc sử dụng hợp lý các
nguồn lực vật chất, tài chính, lao động và các nguồn lực khác trong việc tổ chức, lao
động, sử dụng các thành tựu mới trong hoạt động quyền lực của nhà nƣớc.
Điều cần lƣu ý là việc phân chia các nội dung nhƣ trên chỉ có tính chất tƣơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status