Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
1
DANH SÁCH NHÓM
1. Hoàng Khoa Anh
2. Lương Thị Ánh Hồng
3. Trần Thị Ngọc Huyền
4. Nguyễn Huỳnh Hạnh Phúc
5. Hà Lê Anh Phi
6. Thái Vũ Thu Trang
7. Lê Ngọc Minh Tú
8. Lê Thị Thúy Vy
TCTD. Thông tư này sẽ có hiệu lực từ 01/10/2010. Llộ trình thực hiện các quy định của
thông tư này đồng thời với quá trình tăng vốn lên 3000 tỷ đồng đang tạo ra những khó
khăn nhất định cho các NHTM. Tỷ lệ cho vay không vượt quá 80% vốn huy động (Đáng
chú ý vốn huy động theo quy định mới này sẽ không còn bao gồm: Vốn tiền gửi không
kỳ hạn của tổ chức, vốn tự có của NHTM, vốn đầu tư của tổ chức)Tỷ lệ cho vay không
vượt quá 80% vốn huy động trong đó nguồn vốn để cung ứng tín dụng tín dụng không
bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức, vốn tự có của NHTM, đầu tư của tổ chức sẽ
càng làm giảm khả năng mở rộng tín dụng. Chưa tính đến việc các khoản này chiếm
khoảng 15% vốn huy động, khiến cho quy định này thực chất đã giảm tỷ lệ cho vay so
với vốn huy động tổng thể xuống còn khoảng 60-65%, mà chỉ nói đến quy định tỷ lệ cho
vay không vượt quá 80% vốn huy động, thì riêng điều này đã tạo thêm một cái khóa nữa
cho ngân hàng trong nỗ lực tăng trưởng tín dụng
. Cùng lúc với việc thực hiện thông tư 13/TT-NHNN, các NH lại bị điều chỉnh bởi
quy định chỉ được huy động trên thị trường 2 tối đa 20% số vốn huy động thị trường 1.
Các Ngân hàng buộc phải tăng huy động từ dân nếu muốn tăng vay trên thị trường 2, điều
này khiến các ngân hàng phải cạnh tranh gay gắt trong việc lấy thị phần và nguồn huy
Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
3
động từ các chi nhánh mới. Do đó, lãi suất vẫn chưa thể hạ nhiệt trong khi cung vốn tín
dụng từ NHTM lại đang bị hạn chế.
Khó khăn cho việc tăng khả năng tạo tiền
Quy định tỷ lệ cho vay không vượt quá 80% vốn huy động là quy định chưa có
thông lệ trên thế giới. Có thể chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt trong các giai
đoạn mất an toàn. Quy định này làm giảm khả năng tạo tiền và số nhân tiền tệ của hệ
thống ngân hàng, vì một khoản tiền lớn huy động được sẽ không dành để cho vay mà có
thể nằm “chết” tại các NHTM.
Đồng thời làm giảm hiệu quả can thiệp giảm lãi suất của NHNN qua thị trường
mở, cho vay liên ngân hàng theo định hướng của NHNN. Thực chất, sự cạnh tranh tăng
lãi suất tiết kiệm vẫn lấn át định hướng giảm của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và
OMO nên sự hạ nhiệt chưa truyền tải tới lãi suất tín dụng doanh nghiệp. Vì vậy, mặt bằng
kiệm và đầu tư nên sẽ thuận lợi cho NHTM trong việc thu hút vốn từ nền kinh tế tăng
trong khi NHTM sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn.
1.1.3 Yếu tố chính trị
Một quốc gia có tình hình chính trị ổn định, an toàn sẽ tạo sự an tâm cho người
dân làm ăn sinh sống, do đó không phải tích lũy, dự trữ tiền nhiều cho những trường hợp
đặc biệt . Nhờ vậy mà NHTM có khả nănng huy động được nhiều vốn hơn. Trái lại, với
một quốc gia tình hình chính trị bất ổn như Thái lan, Campuchia… sẽ gây tâm lý hoang
mang lo sợ cho người dân, do vậy họ sẽ tích trữ nhiều của cải, tiền bạc bên người để
phòng trường hợp bất chắc nên sẽ hạn chế việc gửi tiền vào ngân hàng, từ đó khả năng
huy động vốn của NHTM giảm.
1.1.4 Yếu tố văn hóa-xã hội-dân cư
Quy mô dân cư, chất lượng đời sống của người dân không chỉ là yếu tố ảnh hưởng
đến số lượng kết cấu các sản phẩm dịch vụ của NHTM mà nó còn là yếu tố rất quan trọng
để xây dựng và điều chỉnh hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Ví dụ như:
Khu vực thành thị như Hà nội, TP.Hồ chí minh… có quy mô dân cư đông đúc,
với mức sống cao, thu nhập cao hơn thì sẽ là khu vực với đối tượng khách hàng tiềm
năng hơn, vì vậy NHTM phải tập trung vào các khu vực đối tượng khách hàng tiềm năng
để thu hút vốn.
Ngược lại khu vực xa xôi hẻo lánh hoặc mức đời sống thấp thì khả năg họ tiếp
cận với những dịch vụ ngân hàng là ít hơn và khả năng có nguồn tiền nhàn rỗi cũng ít
hơn
Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
5
1.1.5 Yếu tố tâm lý và thói quen tiêu dùng
Yếu tố tâm lý:
Với những nền kinh tế chịu tình trạng Đola hóa cao như việt nam thì việc huy
động vốn từ người dân gặp nhiều khó khăn. Do người dân lo sợ sự mất giá của nội tệ, ưa
chuộng cất trữ ngoại tệ nên các NHTM sẽ khó mà huy động nguồn vốn bằng nội tệ.
Khi mức thu nhập của người dân tăng lên, họ cũng có tâm lý tăng tích lũy, do vậy sẽ tạo
điều kiện cho NHTM trong việc huy động thêm nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân cư.
các khách hàng cũng như nguồn vốn của họ vào ngân hàng. Đó chính là nguyênn nhân
dẫn đến cuộc chạy đua lãi suất giữa các NHTM cuối 2008. Ngay sau khi NHNN hủy bỏ
trần lãi suất huy động 12%/năm và thay bằng trần lãi suất cho vay 18%/năm (150% của
lãi suất cơ bản vừa được nâng lên 12%/năm), tất cả các NHTM, kể cả các NHTM quốc
doanh, đều đồng loạt tăng lãi suất huy động. Chỉ sau vài ngày chạy đua, lãi suất huy động
của các NHTM (lên đến 15%-16%/năm) đã cao hơn khá nhiều so với lãi suất tái cấp vốn
của NHNN (13%/năm) và lãi suất tái chiết khấu (11%/năm) mà NHNN cũng vừa nâng
lên. Các NHTM phải tăng lãi suất huy động cao như vậy vì toàn bộ hệ thống ngân hàng
đang gặp khó khăn về thanh khoản do chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN và đang
phải vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất rất cao (có lúc vượt
quá 20%/năm)
Các ngân hàng không ngừng nghiên cứu và cho ra đời các dịch vụ gia tăng thêm
cho khách hàng.
Ngân hàng ACB là Ngân hàng đầu tiên cho phép khách hàng sử dung thẻ ATM
có thể giử tiền thông qua cây rút tiền mà không phải đến trực tiếp các chi nhánh ngân
hàng.
Ngân hàng Vietcombank đầu tư hàng trăm tỷ mỗi năm để nghiên cứu và ra đời
sản phảm Máy đổi tiền lẻ tự động phục vụ nhu cầu đổi tiền lẻ của khách hàng.
Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
7
1.2.3 Chất lượng phục vụ, dịch vụ 1.2.4 Cơ sở vật chất, công nghệ hạ tầng:
Cơ sơ hạ tầng cũng quyết định một phần khả năng huy đong vốn của NHTM, với
những NHTM lớn, có tầm cỡ với hệ thống cơ sở hạ tằng đầy đủ, tiện nghi và hệ thống
mạng lới rộng khắp trên toàn đất nước thì sẽ tạo được lòng tin cho khách hàng cũng như
cung cấp cho khách hàng các dịch vụ một vụ một cách tốt nhất.
thương hiệu ngân hàng lớn nhất Việt Nam, được chứng nhận bảo hộ thương hiệu tại Mỹ,
nhận giải thưởng Sao vàng Đất Việt cho thương hiệu mạnh… và nhiều giải thưởng hàng
năm của các tổ chức, định chế tài chính trong và ngoài nước.
- Là niềm tự hào của các thế hệ CBNV và của ngành tài chính ngân hàng trong 50 năm
qua với nghề nghiệp truyền thống phục vụ đầu tư phát triển Đất nước.
Các ngân hàng có danh tiếng thì mức lãi suất huy động không cần cao cung có thể huy
động được nhiều người tiết kiệm nhưng nếu ngân hàng không có uy tín thì chỉ có một
Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
9
công cụ duy nhất để thu hút khách hàng là tăng lãi suất( đồng nghĩa với việc là giảm lợi
nhuận thu được). Ví dụ điển hình là trong cuộc chạy đua lãi suất cuối 2008, các NHTM
nhỏ chính là đầu têu tăng lãi suất và kéo theo cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng.
Dù trong cuộc chạy đua lãi suất làm ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của các NHTM nhỏ
nhưng cũng có những NHTM lớn lại kiếm được những mối hời từ việc cho các NHTM
nhỏ vay vốn trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất có khi lên đến 43%. Đó là do các
NHTM lớn có nguồn vốn dày và có uy tín, có khả năng huy động vốn lớn hơn nhiều so
với các NHTM nhỏ ít uy tín và nguồn vốn mỏng.
2. Giải pháp tăng cường huy động vốn
Để góp phần tăng trưởng nguồn vốn một cách ổn định, hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu
kinh doanh các ngân hàng cần thực hiện một số giải pháp sau:
2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách khách hàng.
- Xem xét phân loại khách hàng để có những chính sách đặc biệt đối với những khách
hàng có nguồn tiền gửi lớn.
- Chăm sóc khách hàng chiến lược, khách hàng có nguồn tiền gửi lớn tại CN.
- Tìm hiểu nguyên nhân của khách hàng ngừng giao dịch, rút tiền gửi chuyển sang ngân
hàng khác để có biện pháp thích hợp nhằm khôi phục lại và duy trì quan hệ tốt với khách
hàng.
- Đánh giá chất lượng phục vụ khách hàng.
- Cử cán bộ nghiệp vụ giỏi, đạo đức tốt có khả năng giao tiếp tốt để giao dịch, chăm sóc
khách hàng có số dư tiền gửi lớn, sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng. Thành lập tổ chuyên
nhiều người nước ngoài tới …để mở các cơ sở chấp nhận thẻ Visa, Master, Cash Card
Khuyến khích sử dụng séc cá nhân
Tăng cường chi trả lương qua thẻ ATM.
2.5 Tận dụng nguồn tiền kiều hối
Tăng cường tiếp cận, hợp tác với các công ty xuất khẩu lao động trên địa bàn để
hướng dẫn cách thức chuyển tiền kiều hối, phân phát tờ rơi, thẻ chuyển tiền, giải đáp mọi
thắc mắc của khách hàng.
Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
11
Chủ động phối hợp với chính quyền địa phương nhằm quảng bá dịch vụ chi trả
kiều hối, viết thư giới thiệu dịch vụ tới người lao động của địa phương mình đang ở nước
ngoài.
Tổ chức tốt công tác chi trả kiều hối, tư vấn, hỗ trợ khách hàng, quảng bá và tiếp
thị dịch vụ này tại các điểm giao dịch và CN.
2.6 Nâng cao năng lực, đào tạo đội ngũ cán bộ
Quan tâm tới đội ngũ cán bộ làm công tác huy động vốn.
Kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh thường xuyên thái độ, tác phong giao dịch của cán
bộ ngân hàng.
Thường xuyên tổ chức học tập, trao đổi nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuyên
môn cho cán bộ giao dịch.
Hoàn thiện tác phong, lề lối làm việc, văn hoá giao dịch, quan tâm, chăm sóc
khách hàng có số dư tiền gửi tại CN, tích cực khai thác, tiếp thị các khách hàng có nguồn
tiền gửi lớn, nhằm tạo ra sự tăng trưởng ổn định của nguồn vốn huy động, góp phần hỗ
trợ tích cực cho hoạt động kinh doanh.
Có kế hoạch phát triển, quy hoạch, đào tạo cán bộ chuyên sâu, chuyên nghiệp về
kỹ năng nghiệp vụ, đáp ứng điều kiện hiện đại, hội nhập, tác phong giao dịch, nghiêm
túc, văn minh, hiện đại, hướng dẫn chu đáo khách hàng.
Với thực trạng thị trường huy động vốn cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, các ngân hàng
cần đưa ra chiến lược lâu dài để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn, đảm bảo cân
đối vốn an toàn hiệu quả, tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, từ đó nâng cao vị thế
- Tiền gửi tiết kiệm.
Là loại tiền gửi để dành của các tầng lớp dân cư, được gửi vào ngân hàng để
được hưởng lãi, hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ. Là loại tiết
kiệm người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một sổ dùng để gửi tiền vào và rút tiền ra,
đồng thời nó còn xác nhận số tiền đã gửi.
Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
13
Ở Việt Nam, hình thức gửi tiền tiết kiệm phổ biến là:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại mà khách hàng có thể gửi nhiều lần
và rút ra bất cứ lúc nào.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được rút ra sau một thời gian
nhất định. Tuy nhiên, nếu khách hàng có nhu cầu rút trước hạn cũng có thể được đáp ứng
nhưng phải chịu lãi suất thấp.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Thường là hình thức tiết kiệm trung và dài
hạn, người tham gia ngoài việc được trả lãi còn được ngân hàng cấp tín dụng nhằm mục
đích bổ sung thêm vốn để mua sắm các phương tiện phục vụ nhu cầu tiêu dùng.
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch. Chúng có
cùng tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khoản không được phát hành séc.
1.2 Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốn trong đó xác
nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các
điều khoản cam kết khác giữa TCTD và người mua.
Một Giấy tờ có giá thường kèm theo các thuộc tính sau: Mệnh giá; thời hạn giấy tờ
có giá và lãi suất được hưởng. Ngân hàng chủ động phát hành kỳ phiếu ngân hàng để huy
động vốn nhằm thực hiện những những dự án đầu tư đã định. Việc huy động vốn dưới
hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng được thực hiện theo hai phương thức: Phát hành
theo mệnh giá (trả lãi sau, người mua trả tiền theo mệnh giá được ghi trên bề mặt kỳ
phiếu) và phát hành bằng hình thức chiết khấu (trả lãi trước, người mua sẽ trả một số tiền
bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng).
Căn cứ vào thời hạn, GTCG được chia thành 2 loại:
15
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động của BIDV theo sản phẩm
Môn học: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – chuyên đề 3
16
Câu 3: Thuận lợi - khó khăn trong huy động vốn của các NH hiện nay
1. Thuận lợi
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán, trái phiếu,… còn hạn hẹp, các NHTM vẫn
giữ vai trò chủ đạo trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Điều này đã góp phần đem lại
lợi thế so sánh cho NHTM trong việc huy động vốn.
Việc gửi nguồn tiền nhàn rỗi vào Ngân hàng vẫn là tâm lý, là suy nghĩ phổ biến
trong đông đảo dân cư hiện nay. Mặt khác, các NHTM còn cung cấp dịch vụ ngày càng
mở rộng và đa dạng, tạo tiện ích để thu hút khách hàng.
Những tháng đầu năm lạm phát tăng cao, các ngân hàng gặp khó khăn trong huy
động vốn, nguồn vốn huy động toàn hệ thống có xu hướng giảm. Tuy nhiên, sau khi có
các biện pháp hành chính của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), với việc xử lý nghiêm các
Ngân hàng vi phạm trần lãi suất huy động vốn, hầu hết các tổ chức tín dụng (TCTD) đã
nghiêm túc chấp hành, thực hiện đúng mức trần lãi suất huy động, hiện tượng chạy đua
lãi suất của các ngân hàng, khách hàng mặc cả lãi suất với ngân hàng trước đây, nhìn
chung đã giảm đáng kể, thị trường tiền tệ lập lại kỷ cương.
2. Khó khăn