PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài :
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn,biết ngủ biết học hành là ngoan”
“ Hồ Chí Minh”
Trong mỗi chúng ta tôi chắc ai trong ngành Mầm non lại không thuộc câu
nói này. Song song với việc chăm sóc là việc nuôi dưỡng trẻ, ăn uống là một
nhu cầu không thể thiếu được của mỗi con người. Nấu ăn là một công việc
hết sức gần gũi và quen thuộc trong mỗi gia đình và trường lớp Mầm non.
Chúng ta ai cũng có thể nấu ăn được, nhưng nấu như thế nào để đảm bảo đầy
đủ chất dinh dưỡng, đủ lượng thức ăn bổ sung mà cơ thể cần và phù hợp với
kinh phí và phụ huynh đóng góp là điều không dễ, nó luôn đòi hỏi chúng ta
phải có những sáng kiến và hiểu biết về nấu ăn cho các cháu ở nhà trẻ và
mẫu giáo. Nếu trẻ em được nuôi dưỡng tốt sẽ có một sức khỏe tốt. Đó là tiền
đề cho sự phát triển của trẻ sau này. Vì vậy công tác nuôi dưỡng trong trường
mầm non là một việc hết sức quan trọng.
Là một nhóm trẻ thuộc vùng nông thôn kinh tế còn khó khăn, trẻ đa số là
con em nông thôn, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thể thấp còi còn nhiều, nguồn
kinh phí đóng góp cũng ít hơn so với mặt bằng chung các nhóm trẻ khác. Tuy
nhiên không vì điều đó mà trẻ của nhóm lớp tôi phụ trách ăn uống không đầy
đủ.
Trong quá trình xây dựng khẩu phần ăn cho trẻ tôi đã xây dựng thực đơn
hợp lý, đảm bảo calo, cân đối các tỷ lệ chất trong khẩu phần ăn, thay đổi và
tận dụng các nguồn thực phẩm phong phú sẵn có ở địa phương cùng với sự
giúp đỡ của cấp lãnh đạo, sự kết hợp của cô nuôi và giáo viên đứng lớp đã
mang lại những bữa ăn hàng ngày thật ngon miệng cho trẻ nên tôi mạnh dạn
chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng bữa ăn tại nhà trẻ Sao Vàng”.
2. Mục đích – Ý nghĩa của đề tài.
- Hiện nay khoa học dinh dưỡng đã xác định được nhu cầu về năng lượng
của con người.
1
12 – 27
Vitamin A (mcg)
Vitamin B1 (mg)
250
0,5
2
Canxi
Sắt
0,4 – 0,5
5 – 10
Vitamin B2 (mg)
Vitamin C (mg)
0,8
10
*.Chế độ ăn cháo cho trẻ từ 13 – 18 tháng :
Ngày ăn 5 bữa. Có thể sắp xếp như sau :
Sáng : Sữa đậu nành : 01 ly.
Trưa : Cháo thịt, rau 1 bát khoảng 250ml
Giữa trưa : 01 quả chuối.
Chiều : Cháo đậu xanh 01 bát
Tối : Cháo thịt đậu 01 bát.
Ta có thể biểu diễn dưới dạng hình vuông thực phẩm của cả ngày như sau:
Sữa mẹ hoặc sữa đậu nành : 300 ml+30g đường
Gluxit
Gạo : 100g
Cho cháo loãng 70 – 80g
Protit :
Thịt : 30 g
Trứng 01 quả
Hoặc đậu đỗ : 50g
6 – 12 tháng
12 – 18 tháng
18 – 24 tháng
24 - 36 tháng
Bú mẹ hoàn toàn
Bú mẹ - Ăn bột
Bú mẹ - Ăn cháo
Cơm nát
Cơm thường
Cơm thường
600 – 800 kcalo
800 – 900 kcalo
900 -1100 kcalo
1100 – 1300 kcalo
1100 – 1300 kcalo
1100 – 1300 kcalo
480 – 560
480 -720
600 -770
660 – 910
660 – 910
660 – 910
* Tổ chức bữa ăn tại nhà trẻ:
- Số bữa ăn : Tối thiểu 2 bữa chính – 1 bữa phụ
- Năng lượng phân phối cho một bữa ăn.
+ Bữa ăn buổi trưa chiếm 30 – 35 % năng lượng cả ngày.
+ Bữa ăn buổi chiều chiếm 25 – 30 % năng lượng cả ngày.
+ Bữa ăn buổi phụ chiếm khoảng 10% năng lượng cả ngày.
*Cách tính toán điều tra khẩu phần ăn của trẻ ở nhà trẻ và trường mẫu giáo.
Bước 1 : Tính theo nhu cầu cần đạt của trẻ theo lứa tuổi mà ta cần điều tra về
Rau cải
Trứng vịt
Dầu thực vật
Nước mắm
Chuối
Đường
…
Tổng cộng
Bước 3 : Đánh giá khẩu phần ăn trên về năng lượng có đủ hay chưa số
lượng các chất protit lipit và gluxit so vơi nhu cầu trẻ ( Tính ở bước 1 ) xem đã
cân đối các chất theo yêu cầu của trẻ chưa và có sự bổ sung cho khẩu phần ăn
được tốt hơn.
* Nguyên tắc khi xây dựng thực đơn :
+ Thực đơn cần đảm bảo các chất dinh dưỡng.
5
Bữa ăn chính phải có các thức ăn giàu protit, VD:Bột phải nấu với thịt, cá,
trứng hoặc lạc, vừng, đậu đổ( Không lên thực đơn bột cháo với đường hay rau,
mắm )
+ Cùng một loại thực phẩm sử dụng cho tất cả các chế độ ăn để tiện cho việc
tiếp phẩm và tổ chức nấu ăn cho trẻ gủa nhà bếp.
+ Thực đơn phải phù hợp theo mùa: Nên xây dụng thực đơn theo 2 mùa ( Mùa
đông – mùa hè ) .
Thời gian lên thực đơn nên một tuần ( Phù hợp với việc sử dụng đủ loại thực
phẩm và việc mua, bảo quản thực phẩm cũng tiện lợi hơn.
+ Thực đơn cần thay đổi món ăn để trẻ khỏi chán, nên bố trí trong ngày có các
loại thực phẩm khác nhau.VD: Sáng cháo thịt rau, chiều cháo cá rau, các bữa ăn
tanh không nên để 2 bữa ăn liền nhau.
+ Khi xây dựng thực đơn nên ưu tiên các loại thực phẩm có sẵn ở địa phương
vào bữa ăn cho trẻ.
PHẦN II: NỘI DUNG TỔNG KẾT KINH NGHIỆM
+ Thực đơn theo mùa, chế biến hợp lý và phù hợp với trẻ.
+ Đảm bảo chế độ tài chính.
Vào đầu năm học, tôi cân đo từng trẻ trước khi vào lớp. Chấm biểu đồ và
phân loại trẻ bình thường, SDD vừa, SDD nặng.
Theo như số trẻ thực tế tại lớp, trẻ của lớp tôi chủ yếu ở lứa tuổi nhà trẻ từ 01 –
3 tuổi cụ thể như sau:
Số trẻ Cân nặng BT SDD vừa SDD nặng
Đầu năm 25 17 5 3
Tỷ lệ % 68% 20% 12%
Và xây dựng các biện pháp tiếp theo:
2.2.1.Vận động đóng góp của phụ huynh có con bị suy dinh dưỡng
- Sau khi cân đo, phân loại sức khỏe cháu, tôi họp phụ huynh học sinh và bàn
về việc mức đóng góp tiền ăn mỗi ngày 12000đ ( Một bữa chính và một bữa
phu bữa phụ ).
7
- Đối với trẻ có số cân nặng thấp – Trẻ suy dinh dưỡng thì tăng lên mỗi trẻ
3000đ/ ngày để bổ sung thêm một bữa ăn phụ cho trẻ.
2.2.2. Lên kế hoạch cân đối giữa các chất và đảm bảo đủ lượng calo.
Bản thân tôi đi học hỏi kinh nghiệm tại các trường Mầm non công lập, các
lớp tư thục lâu năm có uy tín ở các địa bàn lân cận về ích lợi của các thực phẩm
có trong bữa ăn ví dụ như:
- Protein hết sức cần thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ là nguyên liệu chủ
yếu để xây dựng lên các tố chất trong cơ thể trẻ mầm non . P có nhiều trong
thịt , cá , trứng, sữa ,đậu ,lạc ,vừng .
- Lipid là nguồn cung cấp năng lượng , những loại thức ăn giầu L gồm dầu ăn,
mỡ lợn, một số loại thịt cá và một số loại hạt quả có nhiều tinh dầu.
- Glucid cung cấp lượng chủ yếu trong cơ thể G có nhiều trong gạo, bột mỳ,
miến , đường, đậu …
- Vì vậy trong bữa ăn của trẻ hàng ngày ta cần phải đảm bảo đầy đủ các loại
thực phẩm . Qua đó ta cần phải tính toán làm sao để cân đối giữa các chất : P –
tháng
18 – 24
tháng
24 -36 tháng
Ăn cháo- bú mẹ-
uống sữa
Cơm nát – Bú mẹ
Cơm thường
900 – 1100 kcal
1100 – 1300 kcal
1100 – 1300 kcal
600 - 770 kcal
660 - 910 kcal
660 - 910 kcal
Cân nhắc trong việc lựa chọn thực phẩm.
VD: Trước đây tôi thường mua loại gạo quá trắng, xây xát gạo kỹ giá thành
cao hơn các loại gạo có ở địa phương. Sau khi đi học hỏi biết là gạo trắng bị hao
hụt trong quá trình xay xát kỹ làm mất đi 1 một lượng prôtit và vitamin B, mà
lại tốn một khoảng chi phí không phù hợp.
Hoặc khi chế biến cho trẻ tôi chỉ dùng dầu thực vật, không cho trẻ dùng mở
động vật vì sợ không tốt cho cơ thể. Nhưng sau khi học hỏi tôi mới biết là nên
cho trẻ ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, chúng bổ sung hổ trợ cho nhau tốt hơn.
Bên cạnh việc đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho trẻ tôi còn tăng
cường cho trẻ uống sữa đậu nành ( Số tiền tiết kiệm từ việc mua gạo xay xát tại
địa phương và tiền thay đổi từ dầu thực vật xen lẫn mở động vật)
9
2.2.3.Tiến hành xây dựng thực đơn theo mùa, chế biến hợp lý và phù hợp với
trẻ.
VD: Đạm có nguồn gốc từ động vật rất nhiều nhưng giá thành lại đắt,
ngược lại đạm có nguồn gốc từ thực vật lại rất rẽ.Tiền ăn của trẻ đóng hàng
nóng bức, nhu cầu về ăn các món có nhiều nước cũng tăng lên và trẻ rât thích
ăn. Còn về mùa đông lạnh ta có thể sử dụng các món xào, rán, thuộc các món ăn
hầu như nhiều hơn.
VD :Thực đơn mùa hè :
Thứ hai Thứ ba Thứ tư Thứ năm Thứ sáu
Bữa
trưa
- Cá sốt cà
chua
- Cua đồng
nấu rau mồng
tơi
- Chả
trứng –
Thịt.
- Canh cá
nấu chua
- Thịt gà
- Canh tôm
nấu với bí
đỏ .
- Đậu phụ
um thịt
- Cánh cá
nấu với
rau cải
- Giá đậu
xào thịt.
- Canh riêu
cua
Với mức tiền thu 1200đ/ trẻ/ ngày. Để xây dựng được thực đơn đầy đủ
năng lượng và dinh dưỡng lại đảm bảo lượng calo và đạt tỉ lệ dinh dưỡng của
các chất đòi hỏi người kế toán phải tính khả năng tài chính hiện có. Vừa đảm
bảo chế độ ăn cho trẻ phong phú đa dạng, đủ lượng đủ chất. ngày nào cũng có
thịt hoặc cá, trứng, tôm, canh rau, củ, quả chúng tôi đã phối hợp thực phẩm đắt
với thực phẩm rẻ, hoa quả tươi ngon và giá thành hợp lý.
- Trong khu vực vườn trường rộng. Tôi khuyến khích và cùng chị em
trong nhóm trẻ ngoài giờ trồng thêm các loại rau xanh, ít chăm bón mà lại mau
thu hoạch như : Rau cải, mồng tơi, rau ngót, mướp…Vừa tăng thu nhập cho chị
em vừa cung cấp được nguồn rau sạch an toàn cho trẻ. Bên cạnh đó tôi còn vận
động các chị em trồng thêm cây ăn quả như chuối. thỉnh thoảng đem bán lại cho
lớp, hoặc tôi mua thực phẩm từ phụ huynh, thực phẩm tươi ngon,giá thành lại rẻ
hơn thị trường.
12
2.2.5.Yêu cầu đối giáo viên:
Giáo viên, người chăm sóc trẻ có vai trò thay thế người mẹ và gia đình chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ trong thời gian ở nhà trẻ. Vì vậy giáo viên cần đáp ứng đầy
đủ nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh, chăm sóc sức khỏe và an toàn cho trẻ theo lứa tuổi.
- Về chăm sóc dinh dưỡng
+ Tổ chức cho trẻ ăn tối thiểu 2 bữa chính 1 bữa phụ/ 1 ngày. Chuẩn bị các điều
kiện tổ chức bữa ăn.
+ Tạo điều kiện cho trẻ được bú mẹ đầy đủ.
+ Đảm bảo điều kiện cho trẻ ăn uống đầy đủ theo nhu cầu lứa tuổi. cơ cấu
khẩu phần cân đối và hợp lý.
+ Xây dựng thực đơn phù hợp với thực tế ở địa phương.
+ Thay đổi cách chế biến các món ăn và phù hợp với từng độ tuổi của trẻ.
+ Tập trẻ thích nghi với các loại thức ăn được chế biến ở nhà trẻ và chế độ
ăn theo lứa tuổi, động viên trẻ ăn hết suất.
+ Rửa tay, lau mặt sạch sẽ cho trẻ trước và sau khi ăn. Sau khi ăn cho trẻ
xúc miệng, uống nước.
dựng nhóm trẻ chủ yếu dựa vò kinh nghiệm,nhưng bước đầu gặt hái được những
kết qủa như vậy tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Qua một năm thực hiện bản thân
tôi luôn cố gắn hỏi hoc chị em ở đơn vị bạn, học hỏi từ các vị lãnh đạo, tìm sách
báo về dinh dưỡng cho trẻ ở trạm y tế . Trao đổi tham khảo ý kiến của chị
em trong nhóm lớp, học cách tính toán xây dựng thực đơn đạt chuẩn, phù hợp
vứi trẻ ở trường công lập… Chất lượng bữa ăn được nâng cao, tỉ lệ trẻ SDD
giảm.
Bên cạnh những thành công nhỏ đó thì những nhóm trẻ tư thục nhỏ như
Sao vàng vẫn còn rất nhiều khó khăn, để đáp ứng được yêu cầu về chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ mà bộ GD và ĐT quy định như:
- Chưa có điều kiện để học tính khẩu phần ăn cho trẻ chính xác, hợp lý
hơn.
- Cháu ở nhóm lớp số lượng ít nhưng nhiều độ tuổi nhưng trong quá trình
chế biến thức ăn còn khó khăn.
- Chưa có biện pháp để giám sát chính xác hơn về độ an toàn của các loại
thực phẩm được mua của nhân dân địa phương.
PHẦN III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Trên đây mà những kinh nghiệm bản thân tôi và các chị em trong lớp đã
áp dụng, thực hiện đã đạt những thành công nhất định.
+ Điều tra số lượng trẻ vào lớp, phân loại trẻ bình thường và trẻ SDD các
thể nặng và vừa.
+ Họp phụ huynh bàn về vấn đề đóng số tiền ăn mỗi trẻ, tăng thêm suất
ăn cho những trẻ SDD.
+ Thay đổi thực phẩm có nguồn gốc từ địa phương, đảm bảo chất lượng
và giá thành hạ.
15
+Xây dựng thực đơn chuẩn cho từng độ tuổi, thay đổi một số thực phẩm
có nguồn gốc giá thành cao bằng những thực phẩm có nguồn gốc từ địa phương
nhưng dễ chế biến và đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ.
+ Xây dựng thực đơn theo mùa, hợp lý với trẻ, tận dụng mùa nào thực
tuổi của trường CĐSP nhà trẻ mẫu
giáo TW1
Trên các phương tiên
thông tin đại chúng…
17