SKKN Một số kinh nghiệm nâng cao nhận thức cho học sinh THPT về vấn đề Biển đảo Việt Nam - Pdf 26

A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận.
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ có tri thức, đạo đức, bản
lĩnh sống để hoà nhập vào thời đại CNH – HĐH. Hiểu biết sâu sắc về quê
hương đất nước và có trách nhiệm bảo vệ quê hương đất nước cả phần đất liền
cũng như Biển, Đảo Việt Nam.
Khi nói về giáo dục, Đảng ta khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng
đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Trong phần kinh phí chi
chung thì giáo dục được ưu tiên hàng đầu. Các trường THPT là nơi trực tiếp
đào tạo thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”, đào tạo cả Đức - Trí - Thể - Mỹ.
Trang bị cho học sinh đầy đủ hành trang trí tuệ để học sinh bước vào đời, trở
thành công dân có ích cho đất nước.
Trong điều kiện hiện nay, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia
là một trong những nhiệm vụ thiêng liêng của thế hệ trẻ. Biển, Đảo phần lãnh
thổ ngàn đời mà cha ông ta bàn giao lại đang bị các thế lực phản động âm
mưu thôn tính. Do vậy, giúp học sinh hiểu rõ hơn về biển, đảo là phần trách
nhiệm không thể thiếu ở trường THPT, cũng là ưu thế của bộ môn giáo dục
quốc phòng - An ninh trong tình hình mới.
II. Cơ sở thực tiễn.
* Việt Nam là một quốc gia ven biển, nằm bên bờ Biển Đông thuộc bán
đảo Đông Dương ở Đông Nam Á. Sau ngày đất nước thống nhất ngoài việc
quản lý lãnh thổ đất lền với diện tích gần 330.000km
2
và bờ biển dài 3260 km
tương đương với chiều dài trên đất liền. Nước ta còn có cả một vùng biển và
thềm lục địa rộng khoảng 1 triệu km
2
với nhiều quần đảo, đảo gần bờ, xa bờ,
1
tổng cộng các đảo ven bờ biển nước ta là trên 2780 hòn đảo lớn nhỏ hợp
thành một hệ thống với tổng diện tích khoảng 1630 km

III.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
1 . Thực trạng :
Biển, Đảo Việt Nam có từ ngàn xưa tới nay, cùng với lịch sử hình
thành của dải đất hình chữ S, nhưng trong điều kiện hiện nay, phần Biển
và Đảo của chúng ta đang bị chia cắt chủ quyền(ở một số nơi) ra khỏi
chủ quyền Việt Nam. Do vậy hiểu về Biển, Đảo và bảo vệ Biển, Đảo là
trách nhiệm của mọi người công dân Việt Nam.
2. Kết quả hiệu quả của thực trạng:
Biển ngày càng có ý nghĩa sống còn đối với mỗi quốc gia, dân tộc và
mối quan hệ đất liền với biển khơi ngày càng được khẳng định là một khối
thống nhất không thể tách rời, không thể xem nhẹ phần nào và ngày càng
3
được tận dụng, khai thác triệt để. Chính vì lẽ đó mà giáo dục nâng cao kiến
thức về biển, đảo cho toàn dân nói chung và học sinh nói riêng là rất quan
trọng. Việc cung cấp những thông tin, những khái niệm về chủ quyền biển
đảo của Tổ quốc sẽ giúp cho các em không những nâng cao kiến thức toàn
diện của mình mà còn giúp các em nâng cao lòng tự hào dân tộc, xác định ý
thức trách nhiệm đúng đắn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn hiện nay. Bởi kiến thức thì vô cùng rộng, song vì bài viết có
hạn nên tôi chỉ đề cập đến một số vấn đề cơ bản nhất.Để góp phần thực hiện
yêu cầu đó, theo tôi cần phải giáo dục cho học sinh một số vấn đề cơ bản sau:
4
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- TRANG BỊ CHO HỌC SINH NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ BIỂN,
ĐẢO VÀ CHỦ QUYỀN BIÊN GIỚI CỦA TỔ QUỐC.
1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Biển, Đảo Việt Nam:
a. Vị trí địa lý:
Lãnh thổ Việt Nam gồm 3 bộ phận:
- Đất liền: + Diện tích 329.297 km
2

117
0
20
/
Đ.
- Vùng trời: Là khoảng không gian vô tận bao phủ phía trên lãnh thổ.
Việt Nam có bờ biển tiếp liền với Biển Đông, Biển Đông thuộc Thái Bình
Dương, đại dương lớn nhất thế giới.
Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km
2
bao gồm: nội thuỷ, lãnh hải,
vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Có ranh giới
biển chung với vùng biển của nhiều nước.
Từ Móng cái đến Hà tiên, ôm lấy dáng hình chữ S là chiều dài bờ biển
nước ta khoảng 3.260km, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các
quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích
đất liền của nước ta xấp xỉ 0,01- Cao nhất các nước Đông Nam Á, cao hơn
5
Thái Lan và xấp xỉ Malayxia. Các đảo vùng biển Việt Nam phân bố không
đều, nằm rải rác từ gần đến xa bờ.
- Nước ta tiếp xúc và giao thoa giữa 2 nền văn hoá đó là nền văn hoá Trung
Hoa (ở miền Bắc) và văn hoá Ấn Độ (ở miền Nam).
- Thế kỉ XVI - XVIII: Việc buôn bán đường biển bắt đầu phát triển mạnh:
+ Việt Nam - Đông Nam Á - châu Á
+ Việt Nam - châu Âu
+ Việt Nam và rất nhiều các nước trên thế giới
Do vậy các Thương cảng lớn được thành lập để giao lưu buôn bán với
các nước trong khu vực và thế giới như Thương cảng “Phố Hiến - Kinh Kỳ
…”
Bảng: Sự phân bố các đảo ven bờ biển

biển phía Đông Philippin rồi di chuyển vào biển Đông với cường độ thường
lớn hơn các cơn bão hình thành từ biển Đông.
7
2. Biển, Đảo Việt Nam trong lịch sử dựng và giữ nước.
Vùng biển nước ta có vai trò là con đường giao lưu trong nước và quốc tế
từ rất sớm. Từ thế kỷ XVI - XVII nhiều nước Châu Âu, Châu Á đã có quan hệ
giao lưu và buôn bán với nước ta qua các thương cảng. Biển Đông đã tồn tại
trong lịch sử như là một con đường duy nhất tạo điều kiện giao lưu và phát
triển văn minh của dân tộc với nền văn minh phương Tây.
Vị trí chiến lược quan trọng của vùng biển nước ta rất lớn đã khiến một số
nước đế quốc nhìn nhận từ rất sớm và triệt để xâm lược nước ta. Ngược lại,
ông cha ta cũng nhận thức được vị thế của sông biển mà sử dụng sông biển
một cách tài tình để chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc của Tổ quốc.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nước ta đã phải đương đầu với 14
cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của kẻ địch, trong số đó có tới 10 cuộc
được thực hiện từ hướng biển, hoặc đã có âm mưu, đồng thời được chuẩn bị
để tiến hành xâm lược nước ta từ hướng biển.
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta ở thế kỷ XX, dưới sự
lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, quân và dân ta đã liên tiếp giành
được những thắng lợi vô cùng to lớn cả trên đất liền và trên biển, đảo, góp
phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mà "Đường Hồ Chí Minh
trên biển" xuyên Biển Đông chi viện sức người, sức của cho chiến trường
miền Nam đã trở thành con đường huyền thoại sống mãi với dân tộc Việt
Nam.
3. Giúp cho học sinh hiểu được Biển, Đảo có ý nghĩa gì trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
a. Ý nghĩa chiến lược về kinh tế.
8
* Về nguồn lợi hải sản: Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại
phong phú trong khu vực, có khoảng 2.100 loài hải sản khác nhau. Diện tích

Dương, Trung Đông, Châu Âu,
Châu Phi, qua eo biển giữa
Philippin, Inđônêxia, Singapo
đến Ôxtrâylia và Niu-Di-Lân. Vì vậy mà Biển Đông là khu vực có nhiều
tuyến đường hàng hải quan trọng trong khu vực cũng như của thế giới.
Hình 4: Vận chuyển hàng hoá bằng đường biển
* Về du lịch biển:
Bước vào thời kỳ mở cửa, du
lịch Việt Nam phát triển với
nhịp độ tương đối nhanh. Nhiều
trung tâm du lịch biển quan
trọng có vị trí địa lý thuận lợi
10
như Vũng Tàu, Nha Trang nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á, có
đủ các điều kiện và tiền đồ để trở thành những tụ điểm về du lịch biển – một
ngành có thu nhập đáng kể trong nền kinh tế quốc dân.
Hình 5: Vịnh Hạ Long
b. Ý nghĩa chiến lược quân sự
Vùng biển nước ta là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối
với nền an ninh và quốc phòng của đất nước.
Với chiều dài bờ biển 3.260 km và một vùng biển rộng lớn, địa hình bờ
biển quanh co, khúc khuỷu, đồi núi, có chiều ngang trên đất liền chỉ rộng từ
40-50km. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền chiến lược của
đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt nhỏ các tuyến giao thông
chiến lược Bắc-Nam. ở nhiều nơi núi chạy ra sát biển tạo thành những địa
hình hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận
tiện cho việc trú quân và chuyển quân bằng đường biển.
Hệ thống quần đảo và hải đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền
ven biển hình thành nên tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí
chiến lược kết hợp trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo

với Trung Quốc và Thái Lan về phân chia các vùng biển ở Vịnh Bắc Bộ và
Vịnh Thái Lan, các nước này cũng đã căn cứ vào vị trí và việc thực thi chủ
quyền của nước ta trên 2 đảo Bạch Long Vĩ và Thổ Chu để làm cơ sở cho việc
12
xác định và phân chia vùng biển ở khu vực xung quanh hai đảo này. Như vậy
chủ quyền của nước ta đối với hai đảo xa lục địa nhất đã được khẳng định.
Đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Mục tiêu lâu dài của Nhà nước ta là bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ các lợi ích quốc gia trên biển, giải quyết hoà
bình các tranh chấp biển. Mục tiêu trước mắt của ta là duy trì nguyên trạng,
đấu tranh không để tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo làm ảnh hưởng
đến quyền sử dụng các vùng biển và thềm lục địa cũng như các vấn đề phân
định biển và xác định ranh giới ngoài thềm lục địa.
II- GIÁO DỤC CHO HỌC SINH THẤY ĐƯỢC QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH
BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA NƯỚC TA
Ngày 22/9/1997 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh và
phát triển kinh tế theo hướng CNH - HĐH trong đó khẳng định: "Vùng biển,
hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lược có vị trí quyết định đối với sự phát
triển của đất nước ta, là tiềm năng và thế mạnh quan trọng cho sự nghiệp
CNH - HĐH". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng
định: "Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các
khu vực biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng
khác.
Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi nước ta vẫn
còn là nước kém phát triển, mức sống nhân dân còn thấp, trong khi đó cuộc
cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, nếu chúng ta không nhanh chóng
vươn lên thì sẽ càng tụt hậu xa hơn về kinh tế ".
Quán triệt quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, căn cứ vào đặc điểm tình hình trên các
13

Bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hoá trên biển bao gồm một số
nội dung sau:
- Bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng - văn hoá,
khoa học công nghệ và quốc phòng - an ninh
- Ngăn chặn kịp thời người và phương tiện xâm nhập đất liền để tiến hành
các hoạt động phá hoại, gây rối, gián điệp, truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ
và thực hiện các hành vi tội phạm khác.
- Bảo vệ lao động sản xuất, tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân
dân trên các vùng biển.
- Bảo vệ trật tự an toàn giao thông trên biển, bảo vệ môi trường, xử lý các
vụ gây ô nhiễm môi trường biển.
- Phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, thực hiện tìm kiếm cứu
nạn.
- Phòng ngừa và chế ngự các xung đột vì tranh giành lợi ích giữa các tổ
chức và cá nhân trong sử dụng và khai thác biển.
Những nội dung trên đòi hỏi chúng ta phải tăng cường khả năng bảo vệ an
ninh, trật tự, an toàn xã hội và văn hoá trên các vùng biển, nhằm đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thế kỷ
XXI.
15
3. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải
quyết phân định vùng biển.
* Tình hình tranh chấp biên giới biển, đảo trong thời gian qua:
Trước diễn biến tình hình thế giới hiện nay, về tình hình khu vực Biển
Đông, Đảng ta xác định: “Tình hình Biển Đông còn nhiều diễn biến phức tạp.
Việc giữ chủ quyền quốc gia trên biển, bảo vệ vững chắc Trường Sa, Hoàng
Sa cũng như các quyền lợi, chủ quyền của nước ta trên biển là một nhiệm vụ
trọng yếu, là một trong những địa bàn chiến lược của quốc phòng – an ninh”.
Tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền hiện nay xuất
phát từ những lý do cơ bản sau đây. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù

phủ nước CHXHCN Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan thông qua thương
lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau phù hợp với luật pháp
và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa
của mỗi bên”
Nghị quyết của Quốc hội nước ta, ngày 23/6/1994, khi phê chuẩn Công
ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 cũng nêu rõ: “Chủ trương giải
quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất động khác có
liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình
đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là
Công ước của Liên hợp quốc tế về Luật biển năm 1982 ”.
17
Như vậy quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta đối với việc hoạch
định phân chia các vùng biển trong vùng chồng lấn với các nước láng giềng
là: Thông qua thương lượng hoà bình, bình đẳng và trên cơ sở pháp luật quốc
tế, thực tiễn của mỗi nước nhằm tìm ra một giải pháp công bằng cho các bên
có liên quan.
4. Trước hết làm cho học sinh hiểu các quy định về lực lượng làm
nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền các vùng Biển, Đảo.
a. Quy định của Pháp luật Việt Nam về các lực lượng làm nhiệm vụ
quản lý, bảo vệ chủ quyền Biển, Đảo của Tổ quốc.
Như phần trên đã nêu: Để bảo vệ và khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo
vệ cuộc sống làm ăn bình thường của nhân dân ta trên các vùng biển đồng
thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế cảu một quốc gia ven biển, Nhà nước
ta đã tổ chức, duy trì thường xuyên các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ, quản
lý, giữ vững trật tự, an ninh trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán của nước ta.
Công tác quản lý, bảo vệ và giữ vững chủ quyền biển, đảo của nước ta là
nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, càng không
phải là trách nhiệm của riêng một lực lượng nào.
* Việc kiểm soát trên biển của nước CHXHCN Việt Nam được giao cho các

19
+ Khi cần thiết, dùng biện pháp quân sự đối với những tàu, thuyền phạm pháp
không chịu tuân theo mệnh lệnh vũ lực áp dụng quyền truy đuổi những tàu
phạm
pháp bỏ chạy.
Hình 8: Kiểm tra tàu thuyền có dấu hiệu khả nghi
Nổ súng trong các trường hợp sau đây:
- Khi người vi phạm dùng vũ khí chống trả, dùng các biện pháp khác trực tiếp
đe doạ tính mạng và an toàn phương tiện của Cảnh sát biển.
- Khi truy đuổi người và phương tiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nên
không dùng vũ khí thì người và phương tiện đó có thể chạy thoát.
- Để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe doạ đến tính mạng.
5. Giáo dục để học sinh nắm được tình hình quản lý, bảo vệ chủ
quyền biển, đảo của Nhà nước ta trong thời gian qua và giải pháp để bảo
vệ chủ quyền Biển, Đảo trong tình hình mới.
a. Những ưu điểm trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền Biển, Đảo
của Nhà nước ta trong thời gian qua.
Trong những năm qua, các lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản
lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của ta đã tích cực tuần tra, kiểm soát trên các
vùng biển. Đã xua đuổi, bắt giữ nhiều tàu thuyền của nước ngoài xâm phạm
vùng biển đánh bắt hải sản, nghiên cứu, thăm dò dầu khí phát hiện, xử lý
nhiều vụ vi phạm về an ninh, trật tự trên các vùng biển như: liên doanh vi
phạm các nội dung hợp đồng, buôn lậu, cướp biển, dùng chất nổ, chất độc hại
đánh bắt cá; tranh chấp ngư trường từng bước lập lại kỷ cương trên biển;
phát hiện và thường xuyên nắm bắt tình hình trên các vùng biển, giúp Chính
phủ đánh giá đúng tình hình nhừm phục vụ cho công tác đấu tranh bảo vệ chủ
20
quyền, quyền chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển và xác lập kế hoạch bảo
vệ, quản lý, phát triển kinh tế biển; đề xuất giúp Chính phủ sửa đổi, ban hành,
bổ xung nhiều văn bản góp phần tăng cường khả năng quản lý biển, tạo điều

tác thế nmạnh của biển sẽ trở nên giàu mạnh. Ngày nay những cường quốc
trên thế giới đều là những quốc gia có biển.
* Nước Việt Nam là một nước có biển. Vùng biển rộng lớn của nước ta
có vị trí, vai trò to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc và
càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc ngày nay. Chúng ta phải tiến ra biển, làm chủ vùng biển của mình, phát
triển mạnh kinh tế biển để làm giàu cho Tổ quốc chính là sự thể hiện quyết
tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ chủ quyền và các chủ quyền
của nước ta trên biển.
* Vùng biển nước ta bao gồm nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãng hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán quốc gia của nước ta trên biển Đông cùng các đẩo và quần đảo
thuộc lãnh thổ Việt Nam.
* Bảo vệ, quản lý, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trên các
vùng biển của nước ta chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia của nước ta trên
biển: Thực chất là bảo vệ các lợi ích kinh tế ở vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa. Như vậy chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển gắn bó với
nhau mật thiết. Các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi
trường được xem như biểu hiện cụ thể của quyền làm chủ trên biển của
nước ta.
22
* Trên các vùng biển của nước ta hiện nay và cả thời gian có chứa đựng
những nhân tố gây mất ổn định, trực tiếp uy hiếp đến quyền toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc cũng như công cuộc phát triển kinh tế biển của nhân dân ta,
chính vì thế muốn khai thác tiềm năng, lợi ích của biển trước hết phải làm chủ
được biển, tăng cường quốc phòng an ninh trên biển để tạo điều kiện cho phát
triển kinh tế biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, giữ vững hoà bình ổn định
trên các vùng biển của Tổ quốc.
* Để bảo vệ, giữ vững được chủ quyền biển, đảo và quản lý tốt các vùng
biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Nhà nước ta trên biển cùng như

đến học sinh là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay - đổi mới phương pháp
dạy học. Và nếu coi đây là kinh nghiệm hay thì tôi mong rằng đồng chí trong
nhóm GDQP - AN sẽ tham khảo và cùng nhau xây dựng nhiều đề tài mới -
hay, để phục vụ công tác giảng dạy - công tác chuyên môn.
Trong đề tài chắc rằng không có những khiếm khuyết rất mong được sự
đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Ngô Xuân Quang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status