Xác định tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên địa bàn xã Phấn Mễ huyện Phú Lương - Pdf 26

PHẦN 1
Công tác phục vụ sản xuất
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiên tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Phú Lương là huyện miền núi nằm ở phía bắc tỉnh Thái Nguyên, trung
tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 22 km theo quốc lộ 3, phía bắc giáp
tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía đông giáp huyện Đồng
Hỷ, phía giáp huyện Đại Từ và Định Hoá.
Huyện Phú lương có 14 xã, 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên
36881.8 ha. Quốc lộ 3 chạy dọc Phú Lương nối liền Hà Nội và Thái Nguyên
với Cao Bằng - Bắc Kạn.
1.1.1.2. Địa hình đất đai
Phú Lương có địa hình tương đối phức tạp, độ cao trung bình so với
mặt biển từ 100- 400m. Các xã phía bắc và tây bắc có địa hình núi cao, độ
cao trung bình 300 – 400m, độ dốc lớn (phần lớn >20
O
). Địa hình bị chia cắt
phức tạp, nhiều khe suối. Còn các xã phía nam có địa hình tương đối bằng
phẳng hơn.
Các loại đất: phù sa, đất dốc tụ, đất bạc màu, đất đỏ vàng thích hợp
với các loại cây hàng năm chiếm tỷ lệ 23.5% so với toàn huyện. Hai loại đất
đỏ vàng trên phiến thạch sét và đất nâu đỏ trên đá mamabazơ và trung tính
phù hợp với việc trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và bố trí sản
xuất theo hướng nông- lâm kết hợp chiếm hơn 50% tổng diện tích toàn
huyện.
1
1.1.1.3. Khí hậu thủy văn
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, với hai mùa đông lạnh và
hè nóng rõ rệt. Trong mùa đông nhiệt độ có khi xuống tới 3
o

xuất, trình độ văn hoá. Đây có thể là nhân tố thúc đẩy hoặc kìm hãm những
mặt khác nhau trong hoạt động kinh tế nông hộ.
2
1.1.2.1. Điều kiện kinh tế
Sau khi điều tra khảo sát, theo nguồn thống kê của huyện tôi đã thu
được thông tin: toàn huyện Phú Lương có 32356 hộ với tổng số nhân khẩu là
147698.
Về mức tăng trưởng GDP của huyện Phú Lương qua 3 năm qua là:
+ Năm 2006: 4,68%
+ Năm 2007: 5,32%
+ Năm 2008: 6,75%
1.1.2.2. Tình hình dân cư
Huyện Phú Lương có 9 dân tộc anh em sinh sống trong đó:Người
Kinh chiếm 54,2%, người Tày chiếm 21,1%, người Nùng chiếm 8,05%,
người Dao 4,04%, người Sán Dìu 3,29 còn lại là một số dân tộc khác như
Thái, Hoa, H’ mông.
Phân bố dân cư không đều giữa các xã, trong khi mật độ dân cư của xã
Yên Ninh là 132 người/km
2
thì xã Sơn Cẩm có mật độ lên tới 739
người/km
2
.
Tỷ lệ tăng dân số còn cao khoảng 1,7%, tỷ lệ sinh thô giảm từ 0,8 - 1
phần nghìn. Dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 52% tổng dân số.
Trong đó lao động nông nghiệp chiếm 81,6% tổng lao động .
1.1.2.3. Tình hình văn hoá, giáo dục, y tế
Giáo dục : Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phổ thông có nhiều chuyển
biến tích cực cơ sở vật chất, trường lớp đã được củng cố, số giáo viên dạy
giỏi, học sinh giỏi thi đỗ vào các trường chuyên nghiệp ngày một tăng . Năm

giống mới nhập ngoại cao sản được người dân chú trọng kèm theo đó là kỹ
thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, công tác thú y ngày càng được chú ý. Vì vậy số
lượng vật nuôi không ngừng được tăng lên.
Công tác về giống : Để đạt được năng xuất cao trong chăn nuôi thì
công tác giống là khâu quan trọng hàng đầu sau đó mới đến dinh dưỡng,
chăm sóc, quản lý . Nhận thức được tầm quan trọng của giống, người dân đã
tích cực tham gia các chương trình : Sind hoá đàn bò, nạc hoá đàn lợn, gà
siêu thịt, siêu trứng
Tập quán chăn nuôi:
- Chăn nuôi thả rông : Đây là hình thức truyền thống nhưng không còn
phổ biến, chỉ còn tồn tai trong chăn nuôi dê thả rông, gia súc chỉ còn ở một
số xã phía Tây Bắc như : Yên Ninh, Yên Trạch nơi có diện tích rừng lớn.
Gia súc thả rông chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh dễ mắc
các bệnh truyền nhiễm ký sinh trùng.
- Chăn thả kết hợp : Đây là phương thức chăn nuôi được áp dụng rộng
rãi hiện nay, phương thức này có ưu điểm là tận dụng được nguồn thức ăn
ngoài tự nhiên, dễ quản lý, nuôi dưỡng và kiểm soát được dịch bệnh phù hợp
với hộ gia đình.0
- Nuôi nhốt : áp dụng hoàn toàn đối với lợn, gà công nghiệp và với
trâu bò vỗ béo.
Thức ăn dành cho động vật nuôi nhốt là thức ăn có sẵn từ ngành trồng
trọt kết hợp với thức ăn công nghiệp. Nuôi nhốt mang lại hiệu quả kinh tế
cao hơn hẳn nhờ tăng hệ số sử dụng thức ăn, giảm thời gian nuôi dưỡng.
- Tình hình dịch bênh và công tác thú y:
5
Tình hình dịch bệnh : Nói chung trên địa bàn huyện Phú Lương tình
hình dịch bệnh diễn ra khá phức tạp .
Trâu bò : Thường mắc các bệnh như tụ huyết trùng và lở mồm long
mãng. Các bệnh thông thường khác thường mắc như tiêu chảy, viêm đường
tiêu hoá và ký sinh trùng đường tiêu hoá. Ngoài ra trâu, bò trong huyện còn

xuất
1.2.1. Phương hướng
Qua điều tra nắm vững tình hình thực tế của huyện Phú Lương, trên
cơ sở đó đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm rèn luyện nâng
cao trình độ chuyên môn, ý thức tổ chức, tác phong nghề nghiệp trong thời
gian thực tập tốt nghiệp.
Công tác phục vụ sản xuất cụ thể nh sau:
Tham gia vệ sinh phòng dịch, trồng và chăm sóc cây ăn quả.
Phổ biến và áp dụng quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt, nuôi gà thịt,
gà đẻ, nuôi vịt đẻ theo quy trình kỹ thuật, Êp trứng, chữa một số bệnh ở gà,
vịt, lợn, trâu… nhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao hiểu biết, tiếp
cận và nắm vững khoa học.
Tiến hành chuyên đề nghiên cứu khoa học: “Áp dụng một số biện
pháp kỹ thuật trong phòng và điều trị bệnh cầu trùng gà tại huyện Phú
Lương Thái Nguyên”.
1.2.2. Kết quả thực hiện
1.2.2.1. Công tác chăn nuôi
7
* Cùng với viềc thực hiện chuyên đề tại trại thí nghiệm chúng tôi đã
tiến hành nuôi gà thịt theo đúng quy trình kĩ thuật.
Công tác chuẩn bị điều kiện nuôi:
Trước khi đưa gà vào nuôi 2 tuần chúng tôi tiến hành vệ sinh tẩy uế
chuồng nuôi theo đúng quy định. Các dụng cụ thiết bị nuôi như : chụp sưởi,
cót quây, máng ăn máng uống đều được vệ sinh sát trùng và đưa vào chuồng
nuôi trước khi nhận gà về. Trấu đệm chuồng đảm bảo khô, sạch nấm mốc có
độ dày khoảng 10 – 15cm, và được phun khử trùng bằng các thuốc sát trùng.
Ngoài ra đặc biệt lưu ý tới các yếu tố đảm bảo lưu thông không khí
trong chuồng nuôi (dùng quạt) và viêc đảm bảo nhiệt độ, độ Èm theo yêu cầu
của gà ở các tuần tuổi (giàn lạnh, bóng điện, bếp than, ga).
Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: tuỳ theo giai đoạn phát triển của gà mà

Ngày tuổi Loại vắc-xin Phương pháp dùng
7 ngày tuổi ND lần 1 Nhỏ mắt 1 giọt
14 ngày tuổi Gumboro lần 1 Nhỏ mồm 3 - 4 giọt
21 ngày tuổi Lasota ND lần 2 Nhỏ mắt 1 giọt
28 ngày tuổi Gumboro lần 2 Tiêm dưới da
* Ứng dụng kỹ thuật vào nuôi vịt chuyên trứng Khaki campbell
Công tác chuẩn bị trước khi nuôi vịt
Trước khi nuôi vịt tất cả chuồng trại phải được cọ rửa sạch sẽ, quét
nước vôi đặc sau đó đổ NaOH 2%. Sau 2 ngày ta phun sát trùng bằng dung
9
dịch Dinalon 0,15% với lượng 1 lít/4 m2. Chuẩn bị rèm che, cót Ðp, đệm lót
dùng trấu hoặc mùn cưa phơi khô, máng ăn, máng uống được ngâm sát trùng
bằng dung dịch ChloramineB 0,5% và phơi khô trước khi dùng. Đệm lót sau
khi sát trùng phải phơi khô và trải dày tối thiểu là 10 cm.
Chăm sóc và nuôi dưỡng:
+ Giai đoạn vịt con từ 1- 28 ngày tuổi
Nhiệt độ chuồng nuôi ở giai đoạn từ 1- 10 ngày tuổi phải đạt từ 10- 33
0
C; 28 ngày tuổi phải đạt 25- 28
0
C. Mật độ nuôi là 30- 40 con/ m
2
. Thời
gian chiếu sáng cho vịt từ 1- 28 ngày tuổi: chiếu sáng vào đêm. Thức ăn: có
thể dùng thức ăn hỗn hợp hoặc thức ăn tự trộn nhưng phải đảm bảo khẩu
phần có 18% Protein và 2850 kcal ME.
Vịt từ 1- 14 ngày tuổi cho ăn 5- 6 bữa chia đều từ 6h sáng đến 10h tối.
Vịt từ 14- 28 ngày tuổi cho ăn 3- 3 bữa chia đều trong cả ngày.
Ở giai đoạn này vịt được uống nước tự do theo bữa nhưng chú ý không
được để vịt ướt lông.

Coli-Flox: 1 ml/10kgTT/ngày, tiêm bắp thịt.
B. Complex: 0,5 ml/kgTT, tiêm bắp thịt.
Dùng liên tục 2 - 3 ngày
* Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD - hen gà)
- Nguyên nhân: do Mycoplasma gallicepticum, bệnh xảy ra khi thời tiết
lạnh, mưa phùn, Èm độ cao làm cho sức đề kháng giảm, gà dễ mắc bệnh.
- Triệu chứng: gà bệnh chảy nước mắt, nước mũi, thở khò khè, tiếng ran
sâu, há mồm ra để thở, gà hay cạo mỏ xuống đất, đứng ủ rũ.
- Điều trị:
+ Bio-Doxy-Fort. Có thành phần chính là Doxycyline HCl
11
Liều trị: 1g/30kg TT hoặc 1g/4L nước hoặc 1g/1.5kg thức ăn.
+ CRD- Myco. Có thành phần chính là Enrofloxacin
Liều trị: 1g/4-5kg TT/ ngày, dùng liên tục 3-5 ngày
* Bệnh Cầu trùng
- Nguyên nhân: bệnh Cầu trùng do các loại động vật đơn bào khác nhau
thuộc họ Coccidia gây ra, ký sinh chủ yếu tế bào biểu mô ruột. Triệu chứng:
thời kỳ nung bệnh là 4-5 ngày, gà mắc bệnh ăn Ýt, lông dựng, phân dính
quanh hậu môn. Nếu gà bị nặng thì gà mất thăng bằng, cánh bị tê liệt, thiếu
máu nên mào và niêm mạc nhợt nhạt, gà gầy dần, phân có lẫn máu.
- Điều trị:
+ Bio-cocci 33 với thành phần chính là Sulfaclozine Sodium Monohydrate
Liều phòng: 1g/1L nước hoặc 2g/kg thức ăn hoặc 1g/5kg TT dùng 3 ngày liên
tục vào các ngày 10-12, 20-22 đối với gà con hoặc trong 3 ngày liên tục mỗi tháng đối
với gà giống.
Liều trị bằng liều phòng bệnh trong 3 ngày ngưng thuốc 2 ngày
+ Marcoc có thành phần chính là Sulfadimidine và Sulfaguanidine
Liều trị: 1g/5-8 kg TT dùng liên tục 3-5 ngày sau đó duy trì liều phòng trong 3
ngày sẽ khỏi dứt điểm.
* Bệnh bạch lỵ gà

+ Nuôi vịt hậu bị 300 300 100
2. Phòng chữa bệnh ở gà, vịt,lợn
+ Tiêm vắc-xin Dịch tả vịt 760 760 An toàn
+ Chủng vắc-xin Gumboro 1500 1500 An toàn
+ Chủng vắc-xin IB- ND 1500 1500 An toàn
+ Chủng đậu 450 450 An toàn
Tiêm vắc-xin Dịch tả lợn 80 80 100%
Tiêm vắc-xin Phó thương hàn lợn 80 80 100%
3. Công việc khác
13
+ Tiêm Dextran - Fe cho lợn con 80 80 100%
+ Thiến lợn đực 25 25 100%
+ Thiến lợn cái 5 5 100%
+Điều trị bò sót nhau 1 1 100%
+ Chữa lợn con phân trắng 6 6 100%
+ Sát trùng chuồng trại 800 m
2
14
Mục tiêu đạt được sau khi làm chuyên đề.
Nắm được kiến thức chuyên môn để chuẩn đoán kịp thời, chính xác
nhằm nâng cao hiệu quả của việc điều trị bệnh.
Thực hiện tốt các thao tác kỹ thuật trong chăn nuôi.
Học hái kinh nghiệm tổ chức, quản lý của các trang trại lớn.
Học hái kinh nghiệm của các đồng nghiệp khác, của những người đi
trước.
15
PHẦN II
Chuyên đề nghiên cứu khoa học
Tên chuyên đề: “Áp dụng một số biện pháp kỹ thuật trong phòng
và điều trị bệnh cầu trùng gà tại huyện Phú Lương Thái Nguyên”.

thể lên đến 100%. Bệnh làm giảm tốc độ sinh trưởng, tăng tiêu tốn thức ăn
và các chi phí khác. Theo Lê Văn Năm, 2003 [11], bệnh còn làm giảm tỷ lệ
đẻ (30-40%), giảm tỷ lệ Êp nở. Bệnh sảy trên mọi loại lứa tuổi nhưng gây tỷ
lệ chết cao ở gà con.
Trong khi bệnh cầu trùng trên gà diễn ra phức tạp thì trên thị trường
cũng xuất hiện nhiều loại thuốc đặc trị cầu trùng do các cơ sở sản xuât khác
nhau sản xuât và với các tên gọi khác nhau như: Rigecoccin_WS, ESB
3
,
Anticoc, coccistop ESB, RTD_coccitop, Bio-Cocci 33 và Marcoc
………… làm cho người chăn nuôi không biết nên chọn loại thuốc nào để
điều trị đạt hiệu quả cao.
Do đó chúng tôi thực hiện chuyên đề: “Áp dụng một số biện pháp kỹ
thuật trong phòng và điều trị bệnh cầu trùng gà tại huyện Phú Lương
Thái Nguyên”
Mục tiêu của chuyên đề:
Xác định tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên địa bàn xã Phấn Mễ huyện Phú
Lương.
Xác định hiệu lực của hai loại thuốc: Bio-Cocci 33 và Marcoc từ đó
khuyến cáo người chăn nuôi điều trị bệnh đạt hiệu quả cao.
Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của đàn gà thí nghiệm.
17
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1. Đại cương về cơ thể gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có nhiều đặc
điểm giống với bò sát đồng thời khác với nhiều gia súc và thú hoang là có bộ
xương xốp nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay.
Quá trình trao đổi chất ở gia cầm lớn, thân nhiệt cao (40-42
o
C). Gia cầm sinh

2.2.1. Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia sóc, gia cầm
Cách đây hơn một thế kỷ, năm 1863 Rivolta đã phát hiện một loại ký
sinh trùng mới trong phân gà. Và vào năm 1964 Eimeria đã xác định đây là
một loại nguyên sinh động vật thuộc lớp Spozoa, thuộc bộ Coccidia bộ phụ
Eimeriadae từ đó loài kÝ sinh trùng này có tên là Eimeria. Bệnh có thể gây
chết nhiều ở súc vật, đặc biệt là súc vật non. ở gà và thỏ bệnh gây tỷ lệ chết
cao ở gà con, thỏ có thể lên tới 80-100%.
Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay là noãn nang
(Oocyst) là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu. Có 3
lớp vỏ: lớp ngoài cùng rất mỏng, lớp bên trong có chứa nguyên sinh chất lổn
nhổn thành hạt, giữa nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to.
Có mét số loài cầu trùng ở đầu có một chỗ lõmvào gọi là lỗ noãn nang,
có một số loài không có lỗ noãn nang hoặc không rõ. Khi gặp điều kiện nhiệt
độ, Èm độ thích hợp thì nhân và nguyên sinh chất bắt đầu phân chia. Cầu
trùng thuộc giông Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình thành 4 bào
tử, mỗi bào tử hình thành hai bào tử con. Bào tử con có hình lê, chính bào tử
con này sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chưc gan và gây ra những tổn
thương bệnh lý.
19
Cầu trùng thuộc giống Isospora thì nhân và nguyên sinh chất phân chia
thành bào hai bào tử, mỗi bào tử phân chia thành bốn bào tử con và cũng
xâm nhập vào niêm mạc ruột.
Cùng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một loài cầu trùng ký sinh riêng,
cầu trùng gà không ký sinh trên gan ngỗng trên cùng cơ thể nhưng mỗi
loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định, cầ trùng ký sinh trên manh
tràng không ký sinh trên ruột non và ngược lại.
Ở gà mọi loại lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi
mức đọ nhiễm khác nhau. Gà con bị nhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà lớn,
gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng.
2.2.2. Vòng đời của cầu trùng (chu kỳ sinh học)

lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên. Cầu trùng gà có vòng đời ngắn (5-
7) và không cần ký chủ trung gian.
Cầu trùng làm tăng số gà còi cọc, giảm tốc độ tăng trọng. Gây chết tử
30-100% ở gà con (nếu không chữa kịp thời) giảm 20-40% sản lượng trứng
đẻ ở gà.
* Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà.
Do các nguyên sinh động vật khác nhau thuộc bộ Coccidia gây ra, ký
sinh chủ yếu trên ở tế bào biểu mô ruột. Cầu trùng ký sinh ở gà thuộc giống :
Eimeria, thuộc họ Emeridae còn giống Isospora Ýt gặp hơn. Cho đến nay đã
phát hiện 9 loài cầu trùng thuộc giông Eimeria ký sinh trên gà và gây thiêt
hại lớn.
Theo Hoàng Thạch và CS,1999 [12] đã tìm thấy sự có mặt của 8 loài
cầu trùng gây bệnh cho gà nuôi tại miền nam nước ta. So với 9 loài có trên
thế giới thì ở Việt Nam chưa thấy có E.paraecox. Còn phân loại theo loài cầu
21
trùng trên gà nuôi tại các tỉnh phía bắc, các tác giả qua nhiều thời điểm
nghiên cứu về phân loại như: Dương Công Thuận, 1995, [11]; Phan Lục,
Bạch Mạnh Điểu, 1999,[5] đã cho biết có 6 loài cầu trùng gà được phát hiện
là: E.tenella, E.necatrix, E.maxiama, E.mitis, E.brunetti, E.acervulina.
* Sự nhiễm bệnh cầu trùng.
Bệnh cầu trùng là một bệnh phổ biến, do sức đề kháng cao đối với tác
động của điều kiện khí hậu không thuận lợi, các loại thuốc sát trùng, thiếu
biện pháp có hiệu lực chống lai sự xâm nhập của bệnh, khả năng tái sinh
nhanh.
Noãn nang cầu trùng trong đất có thể duy trì sức sống 4-9 tháng, có thể
sống 15-18 tháng ở sân, nơi dâm mát. Môi trường Èm ướt và nhiệt độ ôn hòa
là điều kiện thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển, nhiệt độ 22- 30
O
C chỉ
mất 18-36 giờ cầu trùng phát triển thành những bào tử con. Sức đề kháng

các bệnh khác. Do niêm mạc bị tổn thương nên nhhiều đoạn ruột không tham
gia vào quá trình tiêu hóa làm cho con vật bị thiếu dinh dưỡng gây rối loạn
tiêu hoá, dẫn tới ngưng đọng các độc tố, phù nề các cơ quan mô bào. Sự phá
huỷ các tế bào ruột làm cho viêm ruột gây rối loạn chức năng hấp thu vận
động của ruột gây ỉa chảy, quá trình viêm tăng sinh làm dịch gỉ viêm tiết ra
nhiều.
Các thể bào tử cầu trùng nhiễm vào các tế bào biểu bì ở những khe hốc.
ở đó 24-48 giờ các thể phân lập đời 1 sẽ kết thúc. Mỗi thể phân lập chứa đến
900 thể phân đoạn. Các thể phân đoạn đời 1 sẽ nhiễm vào tế bào biểu bì
màng niêm mạc manh tràng, sau đó di cư sâu vào lớp biểu bì, ở đó 72 giê,
sau đó chúng nhiễm vào sẽ phát triển các thể phân lập đời 2. Các thể phân
lập đời 2 này qua 24 giờ chúng phân giải, phá huỷ những lớp biểu bì bên
23
dưới, phá huỷ lưới mao mạch gây ra xuất huyết mạnh. Sau đó thể phân lập
đời 2 lại chui vào tế bào biểu bì màng niên mạc và bắt đầu hình thành các tế
bào giao tử cái, các tế bào giao tử đực. Thể phân lập có tới đời 3 tiến triển ở
các tế bào biểu bì.
Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là các thể phân lập đời 2, phát
triển thành số lượng lớn trong các vách ruột sẽ phá huỷ màng niêm mạc ruột,
gây ra chảy máu nhiều. Lớp dưới niêm mạc, xoang ruột chứa đầy những tế
bào biểu bì bị phá huỷ. Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruôt nên chức
năng tiêu hoá bị rối loạn, màng niêm mạc bi tổn thương là cửa mở cho vi
khuẩn xâm nhâp, các độc tố tạo ra khi phân huỷ các chất chứa trong manh
tràng xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiễm trùng, nhiễm độc tố.
Cầu trùng sinh ra độc tố làm gà bị trúng độc, thể hiện ở những rối loạn
về thần kinh: xã cánh, ủ rũ, lông xù, lờ đờ, kém nhanh nhẹn, hay ngồi. Cầu
trùng chiếm đoạt dinh dưỡng là dịch tổ chức tế bào biểu mô ruột làm cho gà
thiếu dinh dưỡng.
Những điều trên cho thấy sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể gà bị
cầu trùng. Sự phát triển quá trình bệnh lý cuối cùng dẫn tới suy sụp trạng

quanh lông lỗ huyệt, phân lỏng thường trong phân có lẫn máu. Bệnh tích cơ
bản là ở ruột, các cơ quan khác không có bệnh tích rõ. Mức độ biến đổi bệnh
tích phụ thuộc vào loài cầu trùng và lượng cầu trùng xâm nhập.
Màng niêm mạc đường tiêu hoá xanh tím, phủ chất nhầy màu vàng
xám. Diều và dạ dày tuyến trống rỗng, màng niêm mạc phủ niêm dịch. Trong
dạ dày cơ có một Ýt thức ăn, tá tràng viêm chứa đầy chất niêm dịch màu hơi
vàng, vách ruột dày lên rõ rệt, màng niêm mạc trương lên, lớp nhung mao
nằm bẹp, một số nơi thấy rõ điểm xuất huyết.
25

Trích đoạn Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status