MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS nhằm góp phần tích cực vào
việc đào tạo, phát triển con người phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, của
quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, trước xu thế toàn cầu hoá, với một
nền văn minh mới, đang là vấn đề quan tâm của các nhà lãnh đạo, các nhà giáo
dục cũng như mọi thành viên xã hội.
Nước ta đang đối mặt với những thách thức lớn, thách thức lớn nhất hiện
nay là vấn đề chất lượng giáo dục và đào tạo. Nếu xem giáo dục là “quốc sách
hàng đầu” thì chúng ta phải hết sức coi trọng nhiệm vụ QL và lãnh đạo nói
chung và QL nhà trường nói riêng. Người được giao phó nhiệm vụ QL nhà
trường chẳng những phải hiểu biết sâu sắc về giáo dục hiện đại mà còn phải cú
cỏc kỹ năng trong lao động quản lý, có điều kiện tập trung toàn tâm toàn ý cho
công việc của mình.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta đối với việc xây dựng và
phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD là luôn khẳng định vai trò quyết
định của nhà giáo trong việc nâng cao chất lượng và tầm quan trọng của đội ngũ
cán bộ QLGD trong việc điều hành một hệ thống giáo dục đang ngày càng mở
rộng và phát triển. Do đó, đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD đã luôn nhận được
sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII nhấn mạnh:
“Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với
nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp. Nguồn lực
đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt
đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền
với một nền khoa học công nghệ hiện đại. Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ đào
tạo nguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học công nghệ ”.
[29]
Chỉ thị 40 - CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã
xác định: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc
Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2006 -
2010) xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đối với lĩnh vực
giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực:
- “Xõy dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và
giáo viên cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức; đảm bảo đủ
số lượng và chất lượng ở mỗi cấp học, ngành học. Khắc phục cho được tình
trạng tiêu cực trong việc dạy thêm, học thờm”
- “Xõy dựng chiến lược, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn
nhân lực, tạo môi trường phát huy tối đa năng lực nội sinh; đồng thời chú trọng
thu hút nhân tài từ nơi khác đến, đặc biệt là các nhà khoa học đầu ngành, kỹ
thuật viên lành nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà” [36 ; 55 - 56 ]
Trong những năm qua, Ngành Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng đã nỗ lực
phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó có sự đóng góp của 03
huyện phía Nam nói chung và huyện Cỏt Tiờn nói riêng. Với vai trò, chức năng
nhiệm vụ được qui định, cùng với những đặc điểm của địa bàn, đội ngũ cán bộ
QL ở các trường THCS huyện Cỏt Tiờn - tỉnh Lâm Đồng đó cú những nỗ lực góp
phần tạo ra hiệu quả giáo dục THCS ở địa phương, từng bước nâng cao chất lượng
giáo dục, góp phần cùng cả tỉnh hoàn thành phổ cập THCS vào tháng 12/2008.
Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả giáo dục THCS ở các huyện phía Nam
tỉnh Lâm Đồng nhìn chung còn thấp, huyện Cỏt Tiờn cũng nằm trong thực
trạng chung đó. Vấn đề này do nhiều nguyên nhân còn bất cập. Một trong
những nguyên nhân còn bất cập đó là một bộ phận không nhỏ đội ngũ CBQL
của các trường THCS trên địa bàn huyện Cỏt Tiờn chưa đáp ứng được yêu cầu
nhiệm vụ đặt ra. Vì vậy, việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp QL phát
triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường THCS trên địa bàn huyện Cỏt Tiờn -
Lâm Đồng là vấn đề có tính cấp thiết.
Xuất phát từ những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về công
tác giáo dục, trong đó đề cập đến vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ QLGD; xác
định tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ CBQL nhà trường nói
nhận, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cơ bản chưa phát huy hết nội lực của đội
ngũ CBQL; nếu thực hiện những biện pháp quản lý phù hợp thì sẽ khắc phục
được những hạn chế trên, đồng thời nâng cao chất lượng công tác quản lý phát
triển đội ngũ CBQL đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục THCS của Huyện trong
giai đoạn hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về QL phát triển đội ngũ
CBQL trường THCS.
6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ CBQL các trường THCS của
huyện Cỏt Tiờn và thực trạng quản lý phát triển đội ngũ CBQL trường THCS
của Phòng GD&ĐT Cỏt Tiên, nguyên nhân của thực trạng trên.
6.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ CBQL các trường
THCS của Phòng GD&ĐT huyện Cỏt Tiờn - Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng phối hợp 03 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để có cơ sở lý luận, làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài chúng tôi đã
hệ thống, thu thập và phân tích các tài liệu khoa học, các văn bản Chỉ thị, Nghị
quyết của Đảng, Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quản lý, phát triển
đội ngũ CBQL và phát triển đội ngũ CBQL trường THCS.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7. 2.1. Phương pháp điều tra viết
Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để tìm hiểu, khảo sát nhằm thu thập những
thông tin cần thiết về công tác QL ở các trường THCS huyện Cỏt Tiờn - Lâm
Đồng. Từ đó phân tích tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp tiếp xúc với CBQL các cấp, GV
thông qua một số câu hỏi để tìm hiểu về trình độ, năng lực của CBQL các trường
THCS huyện Cỏt Tiờn - Lâm Đồng (có ghi biên bản)
7.2.3. Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động giáo dục ở các
trường THCS huyện Cỏt Tiờn với các hình thức:
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG THCS
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo luận thuyết “Đức trị” lấy chữ “Tớn” làm đầu của Khổng Tử - Nho
Giáo, người lãnh đạo đất nước phải coi trọng 3 vấn đề: "Thứ - Phú - Giáo".
Nghĩa là phải làm cho dõn đụng lờn. Dõn đó đụng phải làm cho dân giàu, khi
dân đã giàu phải dạy cho có giáo dục. Điều này tương đồng với tinh thần Phật
dạy trong kinh Dược Sư là: “Khi người ta đúi thỡ cho cơm ăn áo mặc. Đã no đủ
thì mới cho giỏo phỏp”. Đú chớnh là kích thích để phát triển, người QL nhà
nước phải cú cỏc chính sách văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, dân sinh … để quần
chúng nhân dân trăm họ thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh.
Chủ nghĩa duy vật về lịch sử giải thích rằng lịch sử phát triển của xã hội
trên toàn thế giới là lịch sử thay thế kế tiếp các hình thái kinh tế xã hội mà thực
chất là các phương thức sản xuất. C. Mác lập luận rằng: “Lịch sử xã hội loài
người trải qua 05 phương thức sản xuất tương ứng với 05 hình thái kinh tế và 05
thời đại lịch sử: Cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa”. [11;26]
Quan điểm của C.Mác đã mở ra bước ngoặc có tính cách mạng trong nhận
thức của con người về phân chia các giai đoạn lịch sử. Hơn nữa, C.Mác còn chỉ
ra rằng sự biến đổi của xã hội và sự phát triển lịch sử bắt nguồn từ hệ thống sản
xuất, cơ cấu kinh tế của xã hội.
Mặc khác: QL là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao động
xã hội. C.Mỏc đó viết trong bộ Tư bản: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng
trực tiếp nào, được thể hiện ở qui mô tương đối lớn đều cần đến một chừng mực
nhất định đến sự QL, QL xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn
thành các chức năng chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với các
bộ phận riêng rẽ của nú”.
Tăng trưởng kinh tế cùng với những biến đổi xã hội đã làm cho mức sống con
người được nâng cao. Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát
triển và truyền bá văn minh của nhân loại. Điều này càng thể hiện rõ trong thời
đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở
thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển. Giáo dục được coi là nhân tố
tích cực tạo nên nguồn nhân lực, quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và sự
thành đạt cho mỗi cá nhân trong cuộc sống của mình. Vì thế phát triển giáo dục
đã trở thành “quốc sách hàng đầu” của nhiều quốc gia. Phát triển giáo dục là
phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực.
Sự nghiệp CNH - HĐH đặt ra mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta về cơ bản
sẽ trở thành một nước công nghiệp. Nhân tố quyết định sự thắng lợi của công
cuộc CNH - HĐH là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng
và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Vì vậy muốn đảm bảo
tăng trưởng về kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, củng cố an ninh quốc
phòng, trước hết phải chăm lo việc phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp
người lao động có phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất
nước trong giai đoạn mới. Điều này rất cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông.
Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến sự nghiệp
giáo dục, trong đó chú trọng việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL. Điều đó
được thể hiện qua Chủ trương chính sách, hệ thống văn bản pháp luật. Bộ Giáo
dục và Đào tạo cũng đã xây dựng hệ thống văn bản làm cơ sở cho việc xây dựng
đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và trường THCS nói riêng.
Các cấp QLGD và các nhà khoa học cũng đã có nhiều nghiên cứu, đề xuất
những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, GV nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển sự nghiệp giáo dục.
Tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội trong một số luận văn thạc sĩ chuyên
ngành QLGD có những tác giả nghiên cứu cùng hướng với đề tài như: Nguyễn
Thế Long (2005), Phùng Quang Thơm (2005), Nguyễn Xuân Trường (2006),
Nguyễn Hữu Chương (2006), Lờ Diên Phương (2007), Nguyễn Bớch Ngõn
(2007). Tại Trường Đại học sư phạm Huế: Trần Trung Triết (2007) …đó đề cập
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ H.Kootz
đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp
những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà
quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt
được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá
nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thỡ cỏch quản lý là một nghệ thuật; còn kiến
thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [6;33].
Theo quan điểm chính trị xã hội: ‘ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, người tổ chức quản lý)
lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội,
kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các
phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng”[ 32]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Quản lý là một khái niệm ghép giữa
“quản” và “lý”. “Quản” có hàm nghĩa rất phong phú: cai quản, thống trị, giữ gìn,
theo dừi…Theo góc độ điều khiển, “quản” có thể hiểu là lái, điều khiển, chỉ huy,
kiểm soát, … Do đó, trong đời sống xã hội ngày càng phát sinh những khái niệm
liên quan đến từ “quản” như: quản giáo, quản thúc, quản tượng, quản gia, quản
trị, …. “lý” theo hàm nghĩa là khoa học, khách quan nâng cao hiệu quả hoạt
động “quản” [10;1]
Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng
đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [ 21;12]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là
những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL
nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật
khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng,
các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể QL.
1.2.1.1. Chức năng quản lý: Chức năng QL là nội dung, phương thức hoạt
động cơ bản mà nhờ nó chủ thể QL tác động đến đối tượng QL thông qua quá
trình QL nhằm thực hiện mục tiêu QL.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy
luật khách quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là xử lý thông tin.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và
ngược lại”. [21; 13]
QL là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối
hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể
qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm
soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết
được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.
Như vậy: “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của
con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Hoạt động quản lý
vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà
nước, vừa có tính xã hội rộng rãi, …chỳng là những mặt đối lập trong một hệ
thống nhất. Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản lý”[ 19]
1.2.2. Quản lý giáo dục
Xã hội tồn tại và phát triển dựa trên yếu tố đầu tiên là sản xuất ra của cải vật
chất Ph. Ăngghen viết: “Cỏc Mỏc là người đầu tiên đã phát hiện quy luật phát
triển của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra cái sự thật đơn giản…là trước hết con
người cần phải ăn, uống, mặc và ở trước khi có thể lo đến chuyện làm chính trị,
khoa học, nghệ thuật, tôn giáo v.v….” [7;6].
Cùng với việc phát triển sản xuất, xã hội ở một giai đoạn đều tiến hành
chức năng giáo dục. Giáo dục là quá trình chuẩn bị cho con người, trước hết là
thế hệ trẻ, tham gia lao động sản xuất, tham gia vào đời sống xã hội bằng cách tổ
chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài
người một cách có ý thức, có mục đích. Tham gia quá trình giáo dục có những
phương tiện, điều kiện giáo dục …Tất cả những yếu tố trên quy tụ lại thành “Hệ
thống giáo dục quốc dõn”. Đây là một bộ phận của hệ thống xã hội. QLGD chính
chức, phương pháp, kế hoạch hoỏ …tỏc động có mục đích, hợp quy luật của chủ
thể QL đến khách thể QL nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ
quan trong hệ thống giáo dục. QLGD có thể hiểu là sự QL hệ thống Giáo dục và
Đào tạo bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục, trong đó nhà trường là đơn vị cơ
sở, ở đó diễn ra các hoạt động quản lý giáo dục cơ bản nhất.
Trong QLGD, chủ thể QL chính là bộ máy QL các cấp; đối tượng QL
chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật và các hoạt động thực hiện các
chức năng của quá trình giáo dục và đào tạo.
Nội dung của QL Nhà nước về giáo dục bao gồm các vấn đề cơ bản được
quy định tại điều 99 Luật giáo dục năm 2005 (QĐ số 38/2005/QH11 ngày 14
tháng 6 năm 2005).
Muốn QLGD đạt kết quả tốt thì người QL phải năng động, linh hoạt, tuân
theo các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng QL, có
như vậy thì hiệu quả QL mới đạt được yêu cầu mong muốn.
1.2.3 Quản lý trường học
1.2.3.1. Trường học: Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức
giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt
động trung tâm của nhà trường.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong
đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố
thầy - trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ
thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [ ; 63]
1.2.3.2. Quản lý trường học
QL trường học là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống
QLGD nói chung. Theo Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường
là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo
dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”.
QL nhà trường về bản chất là QL con người. Điều đó tạo cho các chủ thể
(người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những
(Human Resousrce) hay còn gọi là phát triển nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là
một khái niệm ta thường quen dùng, nguồn nhân lực ở đây ta hiểu là nguồn lực
người. Phát triển nguồn nhân lực có nhiều cách hiểu khác nhau:
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Nguồn lực con người (Nguồn nhân lực)
được quan niệm là tổng thể tiềm năng lao động của một đất nước, một cộng
đồng, bao gồm dân số cả “trong” độ tuổi lao động và “ngoài” độ tuổi lao động.
Từ góc độ đối với cá nhân con người, nguồn nhân lực cần được quản lý, chăm
sóc và phát triển từ thai nhi, tuổi ấu thơ, tuổi vị thành niên, tuổi lao động và sau
cả thời kỳ sau tuổi lao động”. [2]
“Phỏt triển con người” đề cập những vấn đề về phát triển năng lực thể
chất và năng lực xã hội của con người, môi trường phát triển con người, nhấn
mạnh đến việc đồng thời nâng cao năng lực lựa chọn và mở rộng cơ hội lựa chọn
nhằm thảo mãn những nhu cầu của con người theo ba tiêu chí cơ bản: Một cuộc
sống có học vấn cao, một cuộc sống vật chất đầy đủ, một cuộc sống khoẻ mạnh
trường thọ.
QL phát triển nguồn lực con người nhân lực không chỉ nhấn mạnh đến
phát triển thể lực (theo quan điểm về sức người), phát triển trí lực (theo quan
điểm vốn người) mà nhấn mạnh phát triển toàn diện con người: Thể lực, trí lực,
tâm lực, thái độ sống, thái độ lao động, hiệu quả lao động.
QL phát triển nguồn nhân lực được xem xét tổng hợp dưới các góc độ: Kinh
tế, giáo dục, chính trị - xã hội:
- Dưới góc độ kinh tế: QL nguồn nhân lực tập trung vào công tác
quy hoạch, kế hoạch cơ cấu lao động, cơ cấu nhân lực trong tương quan với cơ
cấu kinh tế.
- Dưới góc độ giáo dục: QL nguồn nhân lực tập trung vào công tác
giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, gắn cơ cấu nhân lực với cơ cấu giáo dục.
- Dưới góc độ chính trị - xã hội: QL nguồn nhân lực tập trung vào
việc đưa ra các chính sách đảm bảo quyền tự do dân chủ, sự an ninh đối với đời
sống con người, sức khoẻ của con người, giữ môi trường sống tự nhiên của con
người được trong lành, đảm bảo sự bình đẳng giới, bình đẳng dân tộc…
và vận dụng kiến thức vào nghề nghiệp hàng ngày. Thành tố thái độ thể hiện
phẩm chất, thái độ với công việc. Không có đủ các thành tố trên con người
không bao giờ có năng lực.
Theo tài liệu Hội thảo nguồn nhân lực quản lý giáo dục thế kỷ 21: “Hệ
thống năng lực của người QLGD cần phải bao gồm”:
- Năng lực chuyên môn (chuyên môn theo ngành, chuyên môn hỗ trợ và
chuyên môn về QL) .
- Năng lực quan hệ con người (Năng lực quan hệ con người đối với cá
nhân và đối với nhóm)
- Năng lực khái quát (năng lực khái quát dài hạn và năng lực khái quát cập
nhật): Càng ở bậc QL cao, người CBQL cần có năng lực khái quát cao hơn, giúp
người QL đưa ra các phân tích, dự báo và phán đoán trong những bối cảnh phức
tạp, điều hành đảm bảo giáo dục ổn định và phát triển bền vũng. [ 27; 33]
Mặc khác, phát triển đội ngũ CBQL là phát triển sao cho đảm bảo số lượng
(đảm bảo định mức lao động), nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm giúp họ hoàn
thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người QL. Chất lượng của đội ngũ QL được hiểu
trên bình diện gồm có chất lượng và số lượng. Số lượng luôn gắn chặt với chất
lượng, chất lượng bao hàm số lượng. Khi xem xét đến chất lượng đội CBQL cần
phải xột cỏc mặt:
- Số lượng đội ngũ: Cơ cấu phù hợp.
- Chất lượng đội ngũ: gồm phẩm chất và năng lực
Một đội ngũ được đánh giá là có chất lượng khi đội ngũ đó đủ về số lượng
đảm bảo chất lượng và đồng bộ về cơ cấu.
Phát triển đội ngũ CBQL là vấn đề cốt lõi của việc phát triển nguồn lực con
người, nguồn lực quý báu nhất có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội. Nói cách khác, phát triển con người bền vững để phát triển xã hội.
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
- “Giỏo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và
những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học
phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. [ 5 ]
1.3.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học cơ sở
Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học quy định trường trung học có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây (điều 3):
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương
trình giáo dục phổ thông.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động
giáo viên, cán bộ, nhân viên.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý
học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối
hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định
của Nhà nước.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo
dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy giáo dục THCS là cấp học nối tiếp cấp học cấp tiểu học, đây là cấp
học tạo sự liên thông và đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Giáo dục THCS không chỉ nhằm mục tiêu học lên cấp THPT mà còn phải chuẩn
bị cho sự phân luồng sau khi HS học xong cấp THCS; có học vấn phổ thông ở
thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ - BGDĐT
ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)quy định tại điều 19:
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường ;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác,
kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng,
kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ
tuyển dụng giáo viên, nhân viên;
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức;
xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận
hoàn thành chương trình tiểu học vào học bạ học sinh tiểu học (nếu có) của
trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh
theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân
viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà
trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường.
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định
trong khoản 1 Điều này.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của phó Hiệu trưởng
- Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về nhiệm vụ được Hiệu
trưởng phân công;
- Cùng với Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao;
- Thay mặt Hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu
trưởng uỷ quyền;
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và