biện pháp quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của phòng giáo dục và đào tạo huyện cam lâm, tỉnh khánh hòa - Pdf 24

MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu 7
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
4. Giả thuyết khoa học 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6. Phương pháp nghiên cứu 8
7. Phạm vi nghiên cứu đề tài 9
8. Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.2. Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1. Khái niệm chuẩn, chuẩn quốc gia 11
1.2.2. Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường 12
1.3. Cơ sở lý luận về xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 18
1.3.1. Trường mầm non và trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 18
1.3.2. Khái niệm xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 19
1.3.3. Tầm quan trọng, ý nghĩa, mục tiêu xây dựng trường mầm non đạt chuẩn
quốc gia 20
1.4. Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 21
1.4.1. Khái niệm quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 21
1.4.2. Vai trò của Phòng Giáo dục và Đào tạo 22
1.4.3. Các nội dung quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 22

ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 64
3.1.1. Bảo đảm tính pháp lý và tính khoa học 64
3.1.2. Bảo đảm tính thực tiễn 66
2
3.1.3. Bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ 67
3.2. Các biện pháp quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 67
3.2.1. Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, cán bộ quản lý giáo dục, giáo
viên, nhân viên và phụ huynh học sinh về sự cần thiết xây dựng trường mầm non
đạt chuẩn quốc gia 67
3.2.2. Thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo
trong việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 71
3.2.3. Tăng cường thực hiện các nội dung quản lý xây dựng trường mầm non đạt
chuẩn quốc gia 77
3.2.4. Đổi mới phương pháp quản lý trong xây dựng trường mầm non đạt chuẩn
quốc gia 85
3.3. Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề
xuất 90
3.3.1. Quá trình khảo nghiệm 90
3.3.2. Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các nhóm biện
pháp đề xuất 90
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận 95
1.1. Về lý luận 95
1.2. Về thực tiễn 95
2. Khuyến nghị 96
2.1. Đối với UBND tỉnh Khánh Hòa 96
2.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 97

1. Lý do chọn đề tài
Các nhà giáo dục thường nói “cấp 1 là nền, lớp 1 là móng” của toàn bộ hệ
thống giáo dục, nhưng thực ra trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non
mới chính là nền tảng “địa chất” đảm bảo cho độ bền vững lâu dài của tòa nhà giáo
dục. Có lẽ vì thế mà giáo dục mầm non kéo dài tới gần 6 năm, bắt đầu từ lúc trẻ mới
3 tháng tuổi cho tới khi chuẩn bị bước vào lớp 1, nếu tính theo “lớp” thì còn nhiều
hơn cả cấp tiểu học. Khoảng thời gian “tiền học đường” này có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc chuẩn bị tâm thế, kỹ năng cho trẻ; đặc biệt là về ngôn ngữ,
phương tiện giao tiếp mà cũng là công cụ học tập, nghiên cứu ở phổ thông và các
cấp học cao hơn sau này.
Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo
dục mầm non là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển
coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời” và thực hiện chính sách:
trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi
có thể theo học không mất tiền. Luật Hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công
nhận giáo dục mầm non là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật
Giáo dục Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm
đối với giáo dục mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Ở
nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng giáo dục mầm non. Trong buổi lễ
giới thiệu và giao nhiệm vụ cho tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn
Thiện Nhân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý: “So với các bậc học khác, đến
nay chúng ta chưa lo được nhiều cho giáo dục mầm non. Đây là một mảng còn yếu
của giáo dục Việt Nam mà Bộ trưởng và toàn ngành cần cố gắng khắc phục trong
thời gian ngắn nhất”. Cũng từ đây giáo dục mầm non đã bước sang trang sử mới,
hàng loạt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ra đời đặc biệt ưu tiên đến
giáo dục mầm non, trong đó có quy định về trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
Từ năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 36/2008/QĐ-
BGD&ĐT ngày 16/7/2008 kèm theo Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn
quốc gia; Quyết định này thay thế cho Quyết định số 45/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày
26/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy chế công

tích cực và đúng hướng, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở tất cả các trường được
từng bước nâng lên. Tuy vậy, đến năm học 2012 – 2013, toàn huyện mới chỉ có
01/15 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 6,7%; nguyên nhân chủ yếu
cũng chính là cơ sở vật chất và thiết bị không đáp ứng yêu cầu quy định.
6
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non hiện nay, cần phải phấn đấu
và nhanh chóng đưa trường học từng bước hội đủ các điều kiện của một trường đạt
chuẩn quốc gia. Xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia có hiệu quả theo
tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật
chất trường học để nâng cao chất chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Trong thời gian
qua việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đã được thực hiện ở các
tỉnh, thành phố trong cả nước, vì vậy cần phải được nghiên cứu và vận dụng có hiệu
quả ở tỉnh Khánh Hòa nói chung, huyện Cam Lâm nói riêng.
Xuất phát từ thực tiễn giáo dục huyện Cam Lâm và tinh thần Nghị quyết Đại
hội lần thứ II nhiệm kỳ 2012-2015 của Đảng bộ huyện Cam Lâm trên con đường
phát triển giáo dục, việc nghiên cứu đề tài khoa học này có ý nghĩa quan trọng và
cấp thiết. Từ những lý do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý xây
dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng của vấn đề
nghiên cứu, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng trường mầm non đạt
chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa,
góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục mầm non hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý của Phòng Giáo dục và Đào
tạo.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý xây dựng trường mầm non
đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh

6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm:
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
6.2.2. Phương pháp quan sát
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn trao đổi
6.2.4. Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt
chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa
và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu.
8
7. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp quản
lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
8. Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu: đề cập một số vấn đề chung của đề tài nghiên cứu.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn
quốc gia.
Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc
gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
Chương 3: Biện pháp quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

mầm non đạt chuẩn quốc gia thay thế Quyết định số 36/2008/QĐ- BGD&ĐT. Theo
quy định chung, một trường mầm non đạt chuẩn quốc gia phải đạt 5 tiêu chuẩn: Tổ
chức và quản lý; Đội ngũ giáo viên và nhân viên; Chất lượng chăm sóc, giáo dục
trẻ; Quy mô trường lớp, cơ sở vật chất và thiết bị; Thực hiện xã hội hóa giáo dục.
Từ đó, các địa phương, các cấp quản lý giáo dục trong phạm vi cả nước đã khẩn
trương thực hiện và thu được kết quả nhất định ở các trường mầm non trong những
năm gần đây. Đã có hội nghị, hội thảo, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề
này và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về xây dựng trường mầm non đạt chuẩn
quốc gia được thể hiện ở các bài nghiên cứu, đề tài luận văn sau:
- Những biện pháp quản lý nhằm xây dựng trường mầm non thành phố Hải
Phòng đạt chuẩn quốc gia của tác giả Phạm Thị Loan (2004).
- Thực trạng và giải pháp tăng cường cơ sở vật chất xây dựng trường mầm
non đạt chuẩn quốc gia ở Hải Phòng của tác giả Phạm Thị Loan, đăng trên tạp chí
phát triển giáo dục số 2 – tháng 02/2005.
Tuy nhiên, các hội nghị, hội thảo và các đề tài nghiên cứu hiện nay chỉ đề
cập đến những vấn đề về cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng trường
mầm non đạt chuẩn quốc gia như thực trạng về trình độ đào tạo và năng lực của cán
bộ quản lý, giáo viên; về cơ sở vật chất của các trường. Từ đó, đưa ra các biện pháp
giải quyết như tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc xây
dựng trường đạt chuẩn quốc gia; tăng cường quỹ đất cho các trường; xây dựng
phòng học, phòng chức năng và đầu tư trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo chuẩn;
huy động các nguồn lực tài chính… nhưng chưa bàn sâu đến biện pháp quản lý xây
dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, đặc biệt ở địa bàn nghiên cứu, chưa có
công trình nào nghiên cứu về vấn đề này.
Luận văn này tập trung nghiên cứu thực trạng của việc xây dựng trường
mầm non đạt chuẩn quốc gia, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng trường
mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm chuẩn, chuẩn quốc gia
1.2.1.1. Khái niệm chuẩn

nhóm, đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động. Quản lý là đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu quản
lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.
- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục
tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường, mà trong đó con
12
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự
bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật,
còn kiến thức có thể tổ chức về quản lý là một khoa học”. [19, tr 33]
- Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1997 định nghĩa: “Quản lý là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ
thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện
những chương trình, mục đích hoạt động”. [20]
- “Quản lý là tổ chức điều khiển và theo dõi thực hiện như đường lối của
chính quyền quy định: quản lý thị trường, quản lý xí nghiệp… Quản lý còn có nghĩa
là giữ gìn và sắp xếp: quản lý hồ sơ và lý lịch cán bộ; quản lý thư viện”. [28]
- Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt “Quản lý là một quá trình định hướng,
quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất
định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản
lý mong muốn”. [14]
- Quan điểm của lý thuyết hệ thống: “ Quản lý là phương thức tác động có
chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về
hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý
của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu”. [21]
- Quan điểm kinh tế, Taylor, nhà quản lý người Mỹ viết: “Quản lý là cải tạo
mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc và quản lý là nghệ
thuật phải biết chính xác, rõ ràng, cái gì nên làm và làm bằng cách nào để đạt tốt
nhất và rẻ nhất”. [6]
- Theo quan điểm chính trị xã hội, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,

hội. Quá trình đó bao gồm các hoạt động có tính giáo dục của bộ máy Nhà nước,
của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân, của gia đình.
Quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp bao gồm: "quản lý hệ thống giáo dục" là
quản lý các hoạt động giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã,
huyện, tỉnh, quốc gia) và “quản lý nhà trường” là những tác động có mục đích, có
hệ thống, có khoa học, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là quá
trình dạy - học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục.
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, khái niệm quản lý
giáo dục được nhiều tác giả diễn đạt như sau:
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ
thống vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng, thực hiện được
14
các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất. [26]
- Hoàng Minh Thao và Hà Thế Truyền cho rằng: Quản lý giáo dục là hệ
thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của
các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về số lượng cũng như chất lượng. [29]
Xét về cấp vĩ mô
- Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc
xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu của xã hội. [23, tr 14]
- Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy
động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn
lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục,

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội,
là nơi trực tiếp làm công tác giáo dục-đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Nó nằm trong
môi trường xã hội và có tác động qua lại với môi trường đó. Theo Nguyễn Ngọc
Quang “Trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo
dục, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó quản lý nhà trường nhất
thiết phải vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội (Nhà nước và xã hội cộng đồng
và hợp tác trong việc quản lý nhà trường)” [26].
Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ
yếu. Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường. Nhà
trường là ”tế bào chủ chốt” của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở. Theo
đó, quan niệm quản lý giáo dục luôn đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường; các
nội dung quản lý giáo dục luôn gắn liền với quản lý nhà trường. Quản lý nhà trường
có thể được coi như là sự cụ thể hóa công tác quản lý giáo dục.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: ”Quản lý nhà trường là hệ thống những tác
động có hướng đích của hiệu trưởng đến con người (giáo viên, công nhân viên và
học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, ) hợp quy luật
(quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã
hội, ) nhằm đạt mục tiêu giáo dục”. [24, tr 39]
Ngày nay, nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp, không chỉ là thiết kế sư
phạm đơn thuần, công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình
16
thành ”nhân cách - sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn
con người, vốn tổ chức và cả vốn xã hội.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: ”Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động
tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự
trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự
có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá
trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa
nhà trường tiến lên trạng thái mới”. [26, tr 10]

cao, nhân tố quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường. Quá
trình quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy
giáo, quản lý hoạt động học tập - tự học tập của học sinh và quản lý cơ sở vật
chất- thiết bị phục vụ hoạt động dạy và học. Tất cả các hoạt động quản lý khác
đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học.
1.3. Cơ sở lý luận về xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
1.3.1. Trường mầm non và trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
1.3.1.1. Trường mầm non
Trường mầm non là cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư
cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng. [1]. Mục tiêu của giáo dục mầm non
theo Điều 22 Luật giáo dục: “Giáo dục mầm non giúp trẻ em phát triển về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ em vào học lớp một”. [27]
Trường mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt
nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho
trẻ em. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc, giáo dục
mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ. Những năm
đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát
triển năng lực của trẻ, bởi trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, não bộ đã
được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm quan và sử dụng để hình thành hiểu
biết và giao tiếp với thế giới, nhưng thiên hướng học tập của trẻ có thể bị hạn chế
bởi nhiều yếu tố như thể chất, nhận thức và tình cảm xã hội. Việc được hưởng sự
chăm sóc và phát triển tốt từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc
cho sự phát triển trong tương lai của trẻ. Trường mầm non sẽ chuẩn bị cho trẻ
những kỹ năng như tự lập, sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình
thành hứng thú đối với việc đến trường tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước
vào giai đoạn giáo dục phổ thông.
18
Trường mầm non có các nhiệm và quyền hạn được quy định tại Điều 2 -
Điều lệ trường mầm non như sau:

nước…
19
Xây dựng là tạo hoàn cảnh sống vật chất hay tinh thần hoặc cho một cộng
đồng trên cơ sở một đường lối chủ trương nhất định, một hệ thống tư tưởng,…
hoặc cho cá nhân theo một ý định có suy nghĩ, cân nhắc: xây dựng nền công nghiệp
xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền đạo đức mới; xây dựng uy tín bằng tri thức
khoa học thể hiện qua các công trình nghiên cứu. [28]
Xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là xây dựng trường mầm non
đạt 5 tiêu chuẩn được khái quát ở trên do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, góp
phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước.
1.3.3. Tầm quan trọng, ý nghĩa và mục tiêu xây dựng trường mầm non đạt
chuẩn quốc gia
1.3.3.1. Tầm quan trọng
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, bậc
học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển nhân cách của con người, giai đoạn chuẩn bị cho trẻ những tiền đề quan
trọng trước khi bước vào giáo dục nhà trường. Trong những năm qua, Đảng và
Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục - đào tạo,
trong đó có giáo dục mầm non. Các văn kiện của Đảng đều nhấn mạnh đến nhiệm
vụ chăm lo phát triển giáo dục mầm non.
Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tiêu chuẩn quốc gia về
trường mầm non, đến nay đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT thay thế
Quyết định số 36/2008/QĐ- BGD&ĐT, đây là mô hình tổng thể của trường mầm
non mới để nhà trường có đủ điều kiện thực hiện chăm sóc và giáo dục trẻ toàn
diện. Các tiêu chuẩn của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là căn cứ để chính
quyền các cấp xây dựng kế hoạch đầu tư cho giáo dục mầm non; để đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên, các lực lượng xã hội phát huy vai trò của mình trong việc xây
dựng nhà trường theo hướng hiện đại.
Xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là nhiệm vụ quan trọng không
thể thiếu được, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, ngành

về xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, có thể hiểu quản lý xây dựng
trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch của Phòng Giáo dục và Đào tạo đến cán bộ quản lý trường học, giúp cán bộ
quản lý trường học xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện hiệu quả 5 tiêu chuẩn
trường mầm non đạt chuẩn quốc gia do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển
của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
21
1.4.2. Vai trò của Phòng Giáo dục và Đào tạo
Phòng Giáo dục và Đào tạo có vai trò xây dựng, điều tiết và tổ chức quản lý
hoạt động hiệu trưởng các trường trong việc thực thi nhiệm vụ. Tham mưu, giúp
UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo,
bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo, tiêu chuẩn nhà giáo
và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học
và đồ chơi trẻ em, quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ, bảo đảm chất lượng
giáo dục và đào tạo. [4]
1.4.3. Các nội dung quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục
và Đào tạo là tập trung quản lý 5 tiêu chuẩn quy định về trường mầm non đạt chuẩn
quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đó là:
1.4.3.1. Tổ chức và quản lý
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1
Nhà trường có kế hoạch hoạt động cho năm học, học kỳ, tháng và tuần; có
biện pháp và tổ chức thực hiện kế hoạch đúng tiến độ. Hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng, các tổ trưởng chuyên môn, nghiệp vụ có trách nhiệm quản lý, phân công
hợp lý cán bộ, giáo viên, công nhân viên theo quy định của Điều lệ trường mầm non
và Luật viên chức. Tổ chức và quản lý tốt các hoạt động hành chính, tài chính, quy
chế chuyên môn, quy chế dân chủ, kiểm tra nội bộ, đổi mới công tác quản lý, quan
hệ công tác và lề lối làm việc trong nhà trường. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ
sở vật chất phục vụ cho hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, đảm bảo cảnh quan xanh,

Phó hiệu trưởng có bằng tốt nghiệp từ đại học sư phạm mầm non trở lên.
1.4.3.2. Đội ngũ giáo viên và nhân viên
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1
Đảm bảo 100% số giáo viên và nhân viên đạt trình độ chuẩn về đào tạo và đủ
về số lượng theo quy định của Điều lệ trường mầm non và các văn bản quy phạm
pháp luật về định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công
lập; trong đó có ít nhất 40% số giáo viên trên chuẩn về trình độ đào tạo.
Có ít nhất 50% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, trong đó
ít nhất 20% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện trở lên
Có ít nhất 70% số giáo viên, nhân viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến và có
chiến sĩ thi đua từ cấp cơ sở trở lên. Không có cán bộ, giáo viên, nhân viên nào bị
kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên. Không có giáo viên bị xếp loại kém và có ít
nhất 50% số giáo viên đạt loại khá trở lên theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, trong đó có ít nhất 50% số giáo
viên đạt loại xuất sắc; không có giáo viên bị xếp loại kém.
23
Các tổ chuyên môn được hoạt động theo quy định của Điều lệ trường mầm
non; Nhà trường tổ chức định kỳ các hoạt động: trao đổi chuyên môn, sinh hoạt
chuyên đề, tham quan học tập kinh nghiệm và có báo cáo đánh giá cụ thể đối với
từng hoạt động; giáo viên tham gia đầy đủ các hoạt động chuyên môn, chuyên đề và
hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức hoặc phối hợp tổ chức; giáo viên có ứng
dụng công nghệ thông tin trong chăm sóc và giáo dục trẻ.
Có quy hoạch phát triển đội ngũ, có kế hoạch bồi dưỡng để tăng số lượng
giáo viên đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo; thực hiện nghiêm túc chương trình bồi
dưỡng thường xuyên và bồi dưỡng hè, bồi dưỡng chuyên đề theo sự chỉ đạo của Bộ
Giáo dục và Đào tạo; từng giáo viên có kế hoạch và thực hiện tự bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 2
Ngoài quy định ở mức độ 1, điều chỉnh và bổ sung tiêu chí sau: Có ít nhất
50% số giáo viên trên chuẩn về trình độ đào tạo. Có ít nhất 60% giáo viên đạt danh

Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1
Số lượng trẻ và số lượng nhóm trẻ, lớp mẫu giáo trong nhà trường theo quy
định của Điều lệ trường mầm non; tất cả các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo được phân chia
theo độ tuổi và tổ chức cho trẻ ăn bán trú.
Địa điểm trường: nhà trường đặt tại trung tâm khu dân cư, thuận lợi cho trẻ
đến trường, đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường.
Diện tích sử dụng đất của nhà trường theo quy định của Điều lệ trường mầm
non. Các hạng mục công trình (phòng học, phòng chức năng, Khối phục vụ học tập,
khối hành chính quản trị, khối tổ chức bếp ăn, sân vườn …) của nhà trường được
xây dựng kiên cố theo yêu cầu về diện tích, thiết kế, xây dựng phù hợp quy định.
Có nguồn nước sạch và hệ thống cống rãnh hợp vệ sinh.
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 2
Ngoài quy định ở mức độ 1, điều chỉnh và bổ sung tiêu chí sau: địa phương
nơi trường đặt trụ sở được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
em năm tuổi. Tất cả các nhóm, lớp đều chia theo độ tuổi và tổ chức cho trẻ ăn bán
trú. Phòng vi tính: có diện tích tối thiểu 40 m
2
với đầy đủ thiết bị phục vụ các hoạt
động. Phòng hội trường: Có diện tích tối thiểu 70 m
2
phục vụ các hoạt động ngày
hội, ngày lễ lớn; có thể kết hợp là nơi trưng bày hiện vật, tranh ảnh, đồ dùng, đồ
chơi chung của toàn trường. Sân vườn có ít nhất 10 loại thiết bị và đồ chơi ngoài
trời, có khu chơi giao thông và sân khấu ngoài trời.
1.4.3.5. Thực hiện xã hội hóa giáo dục
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1
25

Trích đoạn Thực trạng các trường mầm non theo 5 tiêu chuẩn trường mầm non đạt Quá trình xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia Đánh giá thực trạng xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia Bài học kinh nghiệm Thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status