Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Trường Đại học Thăng Long 214
HIỆU LỰC CỦA BENZIMIDAZOL CARBAMAT ĐỐI VỚI
NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT TẠI CỘNG ĐỒNG
Nguyễn Thu Hương
1
, Phạm Văn Thân
2
và cộng sự
1
Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương
2
Trường Đại học Thăng Long
Tóm tắt: Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật xét nghiệm Kato-katz cho 1.082 người dân tỉnh
Hà Tĩnh và Lào Cai từ tháng 10-12 năm 2012. Tỷ lệ nhiễm giun chung tại Hà Tĩnh là 26,9%
và Lào cai là 50,2%. Tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc và giun móc tại Lào Cai lần lượt là
12,1%, 9,1% và 35,8%. Trong khi tại Lào Cai tỷ lệ tương ứng là 2,8%, 8,2% và 17,9%. Hiệu
lực điều trị albendazole liều duy nhất 400 mg sau 14 ngày điều trị như sau CR của Ascaris
lumbricoides, Trichuris trichiura và giun móc là 97,1%, 77,9%, và 95,9%, ERR tương ứng
96,9%, 84,6% và 98,2%. CR của mebendazole liều duy nhất 500 mg với Ascaris
lumbricoides, Trichuris trichiura và giun móc là 100%, 73,0%, và 82,0%, ERR tương ứng là
100%, 65,3% và 94,1%. Kết quả nghiên cứu này cũng chỉ ra albendazole liều đơn vẫn còn
hiệu lực tốt với cả 3 loại giun truyền qua đất trong khi mebendazole đã có dấu hiệu giảm hiệu
lực với giun tóc Trichuris trichiura. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng rõ ràng cho dấu hiệu
kháng thuốc tẩy giun bezimidazol carbamat đối với giun truyền qua đất.
Từ khóa: albendazole, mebendazole, CR, ERR, kháng thuốc tẩy giun.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các loại giun truyền qua đất (STHs) chính ở người là giun đũa Ascaris lumbricoides
(roundworm), giun tóc Trichuris trichiura (whipworm) và giun móc/mỏ Necatora
trình phân tích thống kê khác nhau; cũng như một loạt các vấn đề khác trong thiết kế nghiên
cứu, chẳng hạn như kích thước mẫu nhỏ, phương pháp chẩn đoán, sự thay đổi cường độ
nhiễm trước can thiệp và các yếu tố gây nhiễu liên quan đến địa lý. Một nghiên cứu đã được
tiến hành, với mục tiêu chuẩn hóa phương pháp nghiên cứu giữa các vùng bằng cách thống
nhất sử dụng phác đồ điều trị (cùng liều ALB 400mg có nguồn gốc từ cùng một lô), theo dõi
sau điều trị (14-30 ngày sau điều trị) và kỹ thuật xét nghiệm (McMaster), chỉ ra rằng ALB là
rất hiệu quả với giun đũa và giun móc, với giun tóc có dấu hiệu giảm (Vercruysseet al., 2011).
MBZ có thể sẽ hiệu quả hơn so ALB trong điều trị giun tóc, tuy nhiên chưa có tài liệu nào
chứng minh cho nhận định này. Đề tài nhằm “Giám sát hiệu lực của thuốc tẩy giun
albendazole liều duy nhất 400mg và mebendazole liều duy nhất 500mg sau khi điều trị hàng
loạt tại cộng đồng 2 tỉnh Hà Tĩnh và Lào Cai”
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Với tiêu chí chọn các điểm đã áp dụng chương trình tẩy giun hàng loạt trên 5 năm.
Chọn chủ đích 2 tỉnh Lào Cai và Hà Tĩnh. Mỗi tỉnh chọn 2 xã.
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Người dân sống tại điểm nghiên cứu từ 6-60 tuổi. Chọn đối tượng tự nguyện tham gia
nghiên cứu, không mắc các bệnh cấp tính như ỉa chảy, sốt cao, co giật, bệnh tim gan
- Tiêu chuẩn loại trừ: Không tự nguyện tham gia; Không có khả năng cung cấp mẫu
phân để theo dõi trong lần tiếp theo; Bị bệnh cấp tính, mãn tính (viêm gan, thận, ); Bị ỉa chảy
khi điều tra cơ bản; Có tiền sử dị ứng với một số thuốc; Mới tẩy giun trong 1 tháng gần đây
2.3 Thời gian nghiên cứu: 3 tháng (10-12/2012)
2.4 Thiết kế nghiên cứu: Theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả (điều tra
cắt ngang xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm) và dịch tễ học can thiệp (tẩy giun hàng loạt).
2.5 Cỡ mẫu nghiên cứu
n = Z
2
1-
/2
2.7. Các chỉ số đánh giá
- Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng: Nhiễm chung, đơn nhiễm, đa nhiễm, nhiễm từng loại giun
- Cường độ nhiễm ký sinh trùng: Số trứng trung bình trong 1 gram phân (epg); Số
trứng trung bình trước điều trị; Số trứng trung bình sau điều trị
- Phân loại mức độ nhiễm giun truyền qua đất 3 mức độ theo WHO (1999)
- Đánh giá hiệu lực của ALB (WHO, 1996)
+ Tỷ lệ sạch trứng (CR) (%) = 100% x [(TLN sau ĐT-TLN sau ĐT)]/TLN trước ĐT
CR = 0-19% : thuốc không có tác dụng
CR = 20-59% : thuốc có tác dụng trung bình
CR = 60-89% : thuốc có tác dụng tốt
CR ≥ 90% : thuốc có tác dụng rất tốt
+ Tỷ lệ giảm trứng (ERR) (%) = 100% x (Số trứng TB trước ĐT-Số trứng TB sau
ĐT)/Số trứng TB trước ĐT
2.8 Kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu: Kỹ thuật Kato-Katz là kỹ thuật xét nghiệm
phân chuẩn dễ sử dụng và được dùng rộng rãi trong chẩn đoán ký sinh trùng đường ruột.
2.9. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được nhập theo Excel (theo qui định của Đề
cương chung). Phân tích thống kê y sinh học sử dụng ² test và p < 0,05 được coi là có ý
nghĩa thống kê. Chỉ số CR và FECR sẽ được tính toán nhằm xác định hiệu quả điều trị của
MBZ trong điều trị giun truyền qua đất. Phân tích thống kê đã được miêu tả bởi tác giả
Vercruysse và CS, 2011.
2.10. Y đức trong nghiên cứu
Mẫu đề cương nghiên cứu này được thông qua Hội đồng Y đức Viện Sốt rét-KST-
CT.TƯ. Tất cả đối tượng tham gia trong nghiên cứu là tự nguyện và được sự chấp thuận của
người bảo hộ (cha, mẹ). Các thành viên tham gia đều có phiếu cam kết chấp thuận tham gia
nghiên cứu. Các thông tin trong nghiên cứu của các đối tượng tham gia đều được đảm bảo
tính bí mật cá nhân, không cung cấp và sử dụng cho các mục đích ngoài nghiên cứu này. Các
thông tin về sức khỏe cảu người tham gia nếu được phát hiện trong thời gian nghiên cứu được
tiến hành cũng sẽ được được thông báo cho đối tượng tham gia nghiên cứu biết.
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
(%)
Số (+)
Tỷ lệ
(%)
Số (+)
Tỷ lệ
(%)
Nhiễm chung
293
50,5
135
26,9
13
3,1
15
7,21
Giun đũa
71
12,1
14
2,8
0
0,0
0
0,0
Giun tóc
53
9,1
41
8,2
6,7
Hai nhiễm
40
6,9
13
2,6
1
0,2
1
0,5
Ba nhiễm
1
0,2
1
0,2
0
0,0
0
0,0
Tại Lào Cai, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng chung là 50,2%, nhiễm giun móc là 35,8%,
nhiễm giun đũa 12,1% và giun tóc thấp hơn là 9,1%. Tại Hà Tĩnh, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng
chung là 26,9%, nhiễm giun móc là 17,9%, giun tóc thấp hơn là 8,2% và giun đũa là 2,8%.
Tỷ lệ nhiễm giun chung ở tỉnh Lào Cai (50,5%) cao hơn rõ rệt so với tỉnh Hà Tĩnh
(26,9%) với p<0,001. Tỷ lệ nhiễm giun đũa tại Hà Tĩnh (2,8%) thấp hơn ở Lào Cai (12,1%),
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Nhiễm giun tóc ở 2 tỉnh tướng ứng là 8,2% và
9,1%, khác nhau không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ nhiễm giun móc tại Hà Tĩnh (17,9%) thấp
hơn ở Lào Cai (35,8%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Tỷ lệ đơn nhiễm (nhiễm
1 loại) ở tỉnh Lào Cai (43,5%) cao hơn có ý nghĩa so với tỉnh Hà Tĩnh (24,1%), tỷ lệ đa nhiễm
(nhiễm 2-3 loại) ở tỉnh Lào Cai (7,1%) cũng cao hơn có ý nghĩa so với tỉnh Hà Tĩnh (3,5%)
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
(%)
n
Số
(+)
Tỷ
lệ
(%)
<20 tuổi
276
142
42,6
78
8
10,3
184
2
1,1
32
4
12,5
Từ 20-55 tuổi
262
132
50,7
356
102
28,7
194
9
4,6
Giun đũa
Giun tóc
Giun móc
TB nhân
TB nhân
TB nhân
Nam
415
30.747,7
104,2
116,6
Lào Cai
Nữ
615
715,4
113,8
707,5
Chung
580
5.954,7
112,2
162,6
Hà Tĩnh
Nam
191
14.934
138,0
584,0
(%)
TB
(%)
Nặng
(%)
Nhẹ
(%)
TB
(%)
Nặng
(%)
Lào Cai
98,6
1,4
0
100
0
0
100
0
0
Hà Tĩnh
89,5
10,5
0
94,0
6,0
0
98,1
1,9
Giun tóc
95,1
91,2
Giun móc
96,3
97.3
Hà Tĩnh
Giun đũa
100,0
100,0
Giun tóc
76,9
94,2
Giun móc
98,0
98,6
Chung
Giun đũa
97,1
96,9
Giun tóc
77,9
84,6
Giun móc
95,9
92,3
98,2
Chung
Giun đũa
100,0
100,0
Giun tóc
73,0
65,3
Giun móc
82,0
94,1
CR và ERR giun đũa, giun tóc và giun móc của 2 tỉnh sau điều trị MBZ từ 65,27%-
100%. Thuốc còn tác dụng tốt. Tuy nhiên, chỉ số CR giun tóc tại Hà Tĩnh mặc dù vẫn đạt tác
dụng tốt nhưng chỉ đạt 60,0%.
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Trường Đại học Thăng Long 221
4. THẢO LUẬN
Chương trình tẩy giun hàng loạt đã triển khai trên toàn quốc gần 10 năm trở lại đây.
Vấn đề đáng quan tâm là hiệu lực của thuốc tẩy giun đối với các bệnh giun truyền qua đất
hiện nay như thế nào. Sau một thời gian dưới áp lực điều trị, với các thuốc do nhiều hãng
dược phẩm cung cấp chất lượng thuốc không đồng nhất, thuốc thay đổi từng năm, thời gian
điều trị cũng phụ thuộc vào thuốc được cung cấp và kinh phí chương trình cấp cho địa
phương. Những nguyên nhân này có thể dẫn đến tình trạng kháng thuốc chọn lọc trong cộng
đồng. Một số báo cáo đã chỉ ra rằng điều trị ký sinh trùng đường ruột cần liều thấp hơn so với
các ký sinh trùng ở tổ chức. Liều khuyến cáo benzimidazol liều duy nhất hàng loạt trên cộng
liên quan giữa quần thể STH ở người và động vật trong một số trường hợp vẫn chưa rõ ràng,
đặc biệt tại Việt Nam chưa có nghiên cứu sâu rộng về vấn đề này.
Một số nghiên cứu về hiệu lực của ABL liều duy nhất trên thế giới cho kết quả không
thống nhất. ALB liều duy nhất dường như cho kết quả tốt trên giun tròn với CR và ERR cao.
Theo thử nghiệm ALB liều duy nhất 400 mg trên học sinh tiểu học tại sáu nước đã được tiến
hành và CR giun đũa từ 86% đến 100% , giun tóc từ 21% đến 100% và giun móc 74,7% đến
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Trường Đại học Thăng Long 222
100% (Jozef Vercruysse, 2011). Trên trẻ em ở Bangladesh, Hall A., Nahar Q, 1994, thấy tỷ lệ
CR giun đũa là 92%, tỷ lệ CR và ERR giun tóc là < 30% sau 10 ngày. Tại Malaysia,
Norhayati M, 1997, nghiên cứu trên 123 trẻ em, tỷ lệ CR và ERR giun đũa tương ứng là
97,4% và 99,9%; tỷ lệ CR và ERR giun móc lần lượt là 93,1% và 96,6%; tỷ lệ CR và ERR
giun tóc tương ứng là 5,5% và 46,1%. Tác giả Norhayati cho rằng ALB liều duy nhất 400 mg
ở vùng lưu hành STHs cao có hiệu quả đáng kể đối với giun đũa và giun móc nhưng không có
hiệu quả đối với giun tóc. Tại Thái Lan, tác giả Jongsuksuntigul cũng thấy CR của thuốc với
giun đũa, giun móc và giun tóc lần lượt là 100%, 84,3% và 67,4% và ERR là 100%, 70,4%
và 89,9%. Theo Keiser và Utzinger đánh giá hiệu lực của liều duy nhất đường uống của ALB
đối với nhiễm giun đũa, giun móc và giun tóc từ 168 nghiên cứu, 20 thử nghiệm ngẫu nhiên.
Tỷ lệ CR giun đũa 88% (độ tin cậy 95%, 79-93%, 557 bệnh nhân), giun móc 72% (độ tin cậy
95%, 59-81%, 742 bệnh nhân). Điều trị giun tóc liều duy nhất không tốt. Còn tác giả M.
Legesse và cs so sánh hiệu lực của ALB (Smith Kline Beecham) liều duy nhất điều trị giun
móc cho thấy CR là 17,1% và ERR là 69,8%.
Điểm mới của đề tài, tiến hành đầu tiên đồng thời thử nghiệm cả hai loại thuốc tại
cùng một thới điểm và cùng một nơi, tiến hành mở rộng trên đối tượng cộng đồng. Đây là một
điểm mới của đề tài so với nghiên cứu trước trên học sinh tiểu học. Các nghiên cứu trước có
quy mô rộng hơn nhưng chỉ thử nghiệm riêng từng loại thuốc. Các nghiên cứu này được tiến
hành giai đoạn đầu 2009-2010 với nghiên cứu hiệu lực thuốc ALB và năm 2011-2012 với thử
nghiệm MBZ. Từ đó xem xét đến khả năng nguồn dự trữ mầm bệnh giun truyền qua đất ở
quả 100% khi sử dụng một liều duy nhất. Việc sử dụng hầu hết benzimidazol ở liều lượng cao
cấm dùng khi có thai vì tiềm năng độc cho phôi và quái thai khi thực nghiệm ở chuột và thỏ.
Trên lâm sàng, hiện đang sử dụng hai hợp chất của benzimidazole là ALB và MBZ. Cần lưu ý
rằng ALB và MBZ có hiệu quả chống lại tất cả các loại giun truyền qua đất chính. Điều này
đã được chứng minh là có hiệu quả cao và an toàn để điều trị phần lớn nhiễm giun đường ruột
và có lợi cho cả điều trị chọn lọc và điều trị hàng loạt.
Kết luận
Nghiên cứu này cho thấy cả albendazol và mebendazol vẫn có hiệu lực tốt đối với
giun đũa, giun tóc và giun móc. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chưa có sự kháng
thuốc mebendazole và albendazol tại Lào Cai và Hà Tĩnh. Điều rõ ràng từ nghiên cứu này là
benzimidazol có tác dụng tốt với giun truyền qua đất với liều đơn. Cho đến nay chưa có báo
cáo nào về kháng thuốc của nhóm này trên giun truyền qua đất. Để có thể đánh giá một cách
chính xác vấn đề này cần có nghiên cứu tiếp về mặt sinh học phân tử xác định các trường hợp
còn trứng giun sau điều trị.
5. KIẾN NGHỊ
- Nên triển khai tẩy giun hàng loạt tại cộng đồng theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới.
- Tiếp tục tiến hành đánh giá hiệu lực của thuốc tẩy giun albendazol và mebendazol.
- Kiểm tra giám sát chặt chẽ các chương trình tẩy giun hàng loạt trên cộng đồng để tránh hoặc
làm chậm khả năng kháng thuốc tẩy giun.
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Phòng chống Sốt rét-KST-CT tỉnh Hà
Tĩnh, Trung tâm Phòng chống Sốt rét-KST-CT tỉnh Lào Cai. Đề tài này được Dự án phòng
chống các bệnh truyền nhiễm khu vực tiểu vùng sông Mê Kông giai đoạn 2 tài trợ kinh phí.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Albonico M, Engels D and Savioli L (2004) Monitoring drug efficacy and early
detection of drug resistance in human soil-transmitted nematodes: a pressing public health
agenda for helminth control. Int J Parasitol34, 1205-1210. 14/1
[2]. Areekul P, Putaportip C, Pattanawong U, Sitthicharoencai P and Jongwutiwes S
(2010) Trichurisvulpis and T. trichiura among schoolchildren of a rural community in
[9]. Keiser J. Utzinger J. Efficacy of current drugs against soil-transmitted helminth
infections: systematic review and meta-analysis. JAMA. 2008 Apr 23; 299(16): 1937-48. 31
[10]. M. Legesse, B. Erko and G. Medhin. Comparative efficacy of albendazole and
three brands of mebendazole in the treatment of Ascariasis and Trichuriasis. East African
Medical Journal. March 2004: 134-138. 32
[11]. Montresor A, Ramsan M, Chwaya HM, Ameir H, Foum A, et al.(2001)
Extending anthelminthic coverage to non-enrolled school-age children using a simple and
low-cost method. Trop Med Int Health 6, 535-537. 10
[12]. Nejsum P, Parker ED, FrydenbergJr J, Roepstorff A, Boes J, et al. (2005)
Ascariasis is a zoonosis in denmark. J ClinMicrobiol43, 1142-8. 12
[13]. Nguyễn Sơn, (2011), Tình hình nhiễm giun đường ruột và hiệu quả tẩy giun
hàng loạt bằng Mebendazole 500mg sau 12 tháng tại 3 trường tiểu học thành phố Sơn La-
Tỉnh Sơn La, năm 2007-2009. Công trình khoa học: Báo cáo tại Hội nghị Ký sinh trùng lần
38, tập II KST-CT, NXB Y học, Hà Nội, tr. 27-36. 13/1
[14]. Nguyễn Thị Việt Hòa, (2011), “Hiệu quả điều trị hàng loạt thuốc tẩy giun ALBe
ở Học sinh tiểu học”, Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng
[15]. Norhayati M; Oothuman P, Azizi O, Fatmah MS. Efficacy of single dose
albendazole on prevalence and intensity of infection of soil-transmitted helminths in Orang
Asli children in Malaysia. Southeast Asian J Trop Med Public Health; 28(3): 563-9. 1997
Sep. 29
[16]. Palmer CS, Traub RJ, Robertson ID, Hobbs RP, Elliot A, et al. (2007)The
veterinary and public health significance of hookworm in dogs and cats in Australia and the
status of A. ceylanicum. Vet Parasitol145, 304-413. 14
[17]. The Medical Letter. Drugs for parasitic infections. New Rochelle, NY: The
medical letter, Inc., 2002. 2/1
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Trường Đại học Thăng Long 225
[18]. Vercruysse J, BehnkeJM,Albonico M, Ame SM, Angebault C, et al.(2011)
lumbricoides, Trichuris trichiura and hookworm eggs was 100.0%, 65.3% and 94.1%. This
study shows that albendazole is effective against all three types of soil transmitted worms
(Ascaris lumbricoides, Trichuris trichiura and hookworms) and mebendazole effective against
Ascaris lumbricoides, and hookworms but not so good with Trichuris trichiura. Results of our
study showed no albendazole and mebendazole resistance in Lao Cai and Ha Tinh provinces.
Key words: albendazole, mebendazole, CR, ERR.