ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HƢƠNG
HIỆU LỰC CỦA LY HÔN ĐỐI VỚI VỢ
CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA
ĐÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HƢƠNG
HIỆU LỰC CỦA LY HÔN ĐỐI VỚI VỢ CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2014
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN PHƢƠNG LAN
1.2. Hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ chồng
1.2.1. Khái niệm hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ chồng
1.2.2. Ý nghĩa của việc xác định hiệu lực pháp lý của ly hôn
1.3. Hiệu lực của ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam
qua các thời kỳ
1.3.1. Hiệu lực của ly hôn theo quy định pháp luật Việt Nam
trước Cách mạng tháng Tám
1.3.2. Hiệu lực của ly hôn theo quy định pháp luật Việt Nam từ
Cách mạng tháng Tám đến nay
Tiể u kế t chương 1
Chƣơng 2. Hệ quả pháp lý của ly hôn đối với vợ chồng
theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
2.1. Hê ̣ quả pháp lý về nhân thân giữa vợ chồng khi ly hôn
2.2 Hê ̣ quả pháp lý về tài sản của vợ chồng khi ly hôn
2.2.1. Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
2.2.2. Giải quyết về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
2.3. Giải quyết vấn đề cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn
2.4. Giải quyết mối quan hệ giữa cha mẹ và con khi vợ chồng ly
hôn
2.4.1. Giải quyết quyền trực tiếp nuôi dưỡng con
2.4.2. Quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn
Tiể u kế t chương 2
iv
7
7
7
9
3.2. Những vướng mắc bất cập của quy định pháp luật về giải
quyết hệ quả pháp lý của ly hôn đối với vợ chồng
3.3. Việc thực hiện quyết định, bản án cho ly hôn của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật trên thực tế
3.4. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả pháp lý của việc
giải quyết ly hôn
3.4.1. Kiến nghị về hoàn thiện các quy định pháp luật
3.4.2. Kiến nghị về việc tổ chức thực hiện các bản án, quyết định
cho ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Tiể u kế t chương 3
KẾT LUẬN
v
60
60
60
61
68
69
73
78
82
82
86
88
89
TTLT số 01:
Thông
tư
liên
tịch
số
01/2016/TTLT-TANDTC-
VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một
số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quan hê ̣ hôn nhân với đă ̣c điể m tồ n ta ̣i lâu dài , bề n vững cho đế n suố t
cuô ̣c đời con người vì nó đươ ̣c xác lâ ̣p trên cơ sở tiǹ h yêu thương
cơ bản nhưng phức tạp, đòi hỏi thẩm phán xét xử phải hiểu rõ, đánh giá đúng,
1
chính xác tình trạng quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản cũng như mối quan hệ
giữa cha mẹ và con chung để có thể đưa ra những quyết định chính xác, đảm
bảo được quyền, lợi ích chính đáng của người vợ và con. Tuy nhiên, trong
thực tiễn xét xử, vẫn còn nhiều vụ việc giải quyết hệ quả pháp lý khi ly hôn
đối với vợ chồng chưa đúng, còn thiếu công bằng, thiếu khách quan, chưa
đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng và con.
Trước thực tiễn đó đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về hiê ̣u lực
của việc ly hô n cu ̣ thể là hê ̣ quả pháp lý của viê ̣c ly hôn đố i với vơ ̣ chồ ng , để
từ đó sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp đáp ứng được thực
tế về viê ̣c giải quyế t tài sản của vơ ̣ chồ ng khi ly hôn , giải quyết quyền, nghĩa
vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn . Với mu ̣c đić h nghiên
cứu sâu về vấ n đề này và đưa ra những hướng hoàn thiê ̣n cho những quy đinh
̣
pháp luật Việt Nam về ly hôn, tôi xin cho ̣n đề tài “Hiêụ lƣ̣c của ly hôn đối với
vơ ̣ chồ ng theo quy đinh
̣ của Luâ ̣t hôn nhân và gia đin
̀ h năm 2014” làm đề
tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự
.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực
tiễn về hiê ̣u lực của viê ̣c ly hôn đố i với vơ ̣ chồ ng theo quy đinh
̣ của Luâ ̣t hôn
nhân và gia đin
̀ h năm 2014.
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung
nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho các vấn đề nghiên cứu trở nên hợp lý,
dễ hiểu, có chiều sâu, có hệ thống.
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh về hiệu lực của ly
hôn đối với vợ chồng theo quy định của Việt Nam và quy định của một số
quốc gia trên thế giới .
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để phân tích các số liệu liên
quan đến hiệu lực của ly hôn đối với vợ chồng trong thực tiễn xét xử.
5. Tình hình nghiên cƣ́u đề tài
Hiê ̣n nay , vấ n đề về ly hôn vẫn đang đươ ̣c các
nhà khoa học , giảng
viên, học viên luật quan tâm và hơn thế nữa có rất nhiều các cá nhân nghiên
cứu về vấ n đề này . Một số bài viết, công trình nghiên cứu khoa học đã tìm
3
hiểu, phân tích, làm rõ các vấn đề về ly hôn như các bài viết của các tác giả
đăng trên tạp chí Luật học, tạp chí dân chủ và pháp luật:
- Ngô Thị Hường (2003), Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly
hôn, Tạp chí Luật học số 3 chuyên đề tháng 3/2003, tr.38-40
- Phạm Xuân Linh (2006), Bàn về chế định nghĩa vụ của cha mẹ đối
với con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Tạp chí dân chủ và pháp
luật số 9, tr.46-49;
Một số công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án tiến sĩ đã
nghiên cứu về vấn đề này như các công trình nghiên cứu sau:
- Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản chung vợ chồng theo Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại
Đây là công trin
̀ h nghiên cứu về hiê ̣u lực ly hôn đố i với vơ ̣ chồ ng theo
quy đinh
̣ của Luâ ̣t Hôn nhân và gia điǹ h năm 2014 mô ̣t cách có hê ̣ thố ng và
hoàn chỉnh, có sự so sánh đối chiếu với các văn bản pháp luật trước đây, kế t
hơ ̣p giữa lý luâ ̣n và thực tiễn để đưa ra những gi ải pháp phù hợp về viê ̣c giải
quyế t hệ quả pháp lý của ly hôn đối với vợ, chồng trong đó có giải quyết quan
hệ tài sản giữa vợ chồng với người thứ ba.
6. Điể m mới của luâ ̣n văn
Luâ ̣n văn là công trin
̀ h nghiên cứu toàn diê ̣n hê ̣ quả về nhân thân và tài
sản khi bản án hoặc quyết định ly hôn của vợ chồng có hiệu lực . Luâ ̣n văn có
mô ̣t số điể m mới sau:
- Xác định hệ quả nhân thân khi vợ chồng ly hôn ; xem xét và phân tích
trường hơ ̣p vơ ̣ hoă ̣c chồ ngsau khi ly hôn mà quay trở lại sống chung với nhau;
- Phân tić h và làm rõ các nguyên tắ c giải quyế t tài sản của vơ ̣ chồ ng khi
ly hôn; đặc biệt xem xét đến yếu tố lỗi của bên vợ hoặc chồng trong việc giải
quyết tài sản khi ly hôn;
- Nêu và phân tích các trường hợp chia tài sản trong trường hợp vợ chồng
số ng chung với gia đình, chia quyề n sử du ̣ng đấ t của vơ ̣ chồ ng, quyề n lưu cư của
vơ ̣ chồ ng khi ly hôn, chia tài sản chung của vơ ̣ chồ ng đưa vào kinh doanh
;
- Phân tích, đánh giá việc giải quyết vấn đề con chung khi vợ chồng ly
hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014;
- Phân tić h, giải quyết quyền , nghĩa vụ tài sản vợ chồng đối với người
thứ ba khi ly hôn;
- So sánh, đánh giá các quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về hê ̣ quả về
tài sản và nhân thân đố i với vơ ̣ chồ ng khi ly hôn và thực tra ̣ng áp du ̣ng các
Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc
gia là khác nhau. Một số nước cấm ly hôn nhưng cũng có một số nước lại quy
định về tự do ly hôn. Đối với những nước cấm ly hôn, theo đó, hôn nhân được
xác lập và được duy trì chỉ nhờ vào sự ưng thuận lúc ban đầu (lúc kết hôn),
cũng giống như sự ưng thuận khi giao kết hợp đồng, một khi đã ưng thuận kết
hôn, người kết hôn không thể thay đổi ý chí, nghĩa là phải chấp nhận cuộc
sống chung cho đến cuối đời. Quan niệm này được chấp nhận trong rất nhiều
hệ thống pháp luật và được coi là một trong những quan niệm nền tảng của
luật giáo hội về gia đình. Không ít nước Châu Âu chỉ mới từ bỏ quan niệm
này cách đây không lâu: ở Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm
1982…Việc duy trì quan niệm này trong luật cận đại và đương đại của các
nước chủ yếu vì lý do tôn giáo. Trái ngược với các nước có quy định cấm ly
hôn, các nước có quan điểm tự do ly hôn cho rằng hôn nhân không thể được
duy trì, một khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai không còn muốn chung sống với
nhau. Mỗi người phải có quyền tự do chấm dứt quan hệ hôn nhân, như đã có
quyền tự do xác lập quan hệ đó. Nếu cả vợ và chồng đều đồng ý ly hôn, thì
càng tốt; nếu không, mỗi người có quyền ly hôn chỉ bằng quyết định đơn
phương của mình. Quyền tự do ly hôn được thiết lập trong luật La Mã thời kỳ
7
cuối. Trong luật đương đại của nhiều nước theo Common law hoặc của các
nước Bắc Âu, ly hôn theo ý chí đơn phương được thừa nhận dưới hình thức
“ly hôn không hợp tính tình”: chỉ cần chứng minh rằng giữa vợ và chồng có
sự khác biệt về tính tình và sự khác biệt đó là nguyên nhân của những xung
đột gay gắt giữa hai vợ chồng khiến cho cuộc sống chung không thể chịu
đựng được, vợ hoặc chồng có thể xin ly hôn và thẩm phán phải đáp ứng thuận
lợi đối với yêu cầu ly hôn đó.
Một số nước quy định không cấm ly hôn và cũng không được tự do ly
lại hình thành một hệ thống pháp luật dựa trên hệ tư tưởng của giai cấp thống
trị trong xã hội. Với tư cách là một trong những quan hệ chủ đạo trong xã hội,
quan hệ HN&GĐ cũng chịu sự chi phối sâu sắc của hệ tư tưởng của giai cấp
thống trị mỗi thời kỳ.
Tư tưởng trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn
ông, cho phép chế độ đa thê và những quy định hà khắc, những căn cứ bất
bình đẳng về ly hôn là đặc trưng của quan hệ HN&GĐ dưới chế độ phong
kiến. Theo đó, pháp luật và các tục lệ phong kiến ở Việt Nam có nhiều quy
phạm mang tính luân lý đặc biệt là các quy phạm về HN&GĐ phản ánh
những đặc quyền của người đàn ông còn người phụ nữ phải sống theo thuyết
“tam tòng tứ đức”. Chế độ đa thê và những quy định nghiêm khắc về ly hôn
đã bóp méo bản chất của một cuộc hôn nhân chân chính, khiến nó trở thành
thứ xiềng xích trói buộc người phụ nữ trong những nghi lễ bất bình đẳng. Như
vậy, khi hôn nhân không xuất phát từ tình yêu, gia đình không được xây dựng
trên sự tự nguyện, mong muốn hạnh phúc thì ly hôn chỉ là một thứ công cụ để
người chồng có cơ hội tự cho mình quyền bỏ vợ với những lý do bất bình đẳng,
không hợp lý như người vợ không có con, ghen tuông, lắm lời… Bản chất của ly
hôn trong xã hội phong kiến là duy trì chế độ gia trưởng, quyền đa thê bảo vệ
cho hệ tư tưởng của chế độ phong kiến cũng như lợi ích của giai cấp thống trị.
Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tư tưởng tự do, bình đẳng đã ảnh hưởng
tới các quy định của pháp luật về HN&GĐ như tự do yêu đương, hôn nhân
9
một vợ một chồng, tự do ly hôn. Các luật gia tư sản cho rằng tự do ly hôn
phải được thừa nhận như một quyền pháp định và đưa ra các quy định nhằm
đảm bảo quyền tự do ly hôn. Song, trên thực tế đó chỉ là quy định mang tính
hình thức, thực chất khi ly hôn họ vẫn bị ràng buộc bởi các quy định ngăn
cấm của nhà làm luật: “dưới chế độ tư bản chủ nghĩa quyền ly hôn cũng như
nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ
chồng, nó là kết quả của hành vi ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền tự do
ly hôn. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ yêu nhau và kết
hôn với nhau thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng sống phải duy trì quan hệ
hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó không còn, mục đích của cuộc hôn
nhân đã không đạt được. Khi ấy, ta không thể nhìn nhận ly hôn đơn thuần chỉ
là mặt tiêu cực, mà cần phải nhận thức được rằng nó là mặt trái nhưng là mặt
không thể thiếu được của quan hệ hôn nhân. Nếu như cuộc hôn nhân đã thực
sự tan vỡ và ly hôn đã trở thành mong muốn của vợ chồng thì việc ghi nhận
quyền tự do ly hôn là hoàn toàn chính đáng thể hiện tính chất dân chủ và nhân
đạo của pháp luật XHCN bởi vì : “Tự do ly hôn tuyệt đối không có nghĩa là
làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối
liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững
chắc trong một xã hội văn minh” [15, tr.335]. Hơn nữa, cũng cần phải ghi
nhận rằng, tự do ly hôn là một quyền cơ bản và bình đẳng giữa vợ và chồng,
bởi đây là quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, mục đích của việc xác lập quan
hệ hôn nhân là xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, bền vững và hạnh phúc.
Nhưng vì lí do nào đó mà giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn,
khiến cho tình nghĩa vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài
được nữa thì ly hôn là biện pháp cần thiết để giải phóng cho họ. Khi xây dựng
Luật HN&GĐ năm 1959, đồng chí Xuân Thủy đã phân tích: “ hôn nhân bao
11
gồm hai mặt: tự do kết hôn và tự do ly hôn. Tự do ly hôn không có nghĩa là ly
hôn bừa bãi, ly hôn là biện pháp giải phóng một tình trạng trầm trọng làm
cho đôi vợ chồng không thể sống chung được nữa”
Như vậy, bản chất pháp lý của ly hôn là sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, là
chí trong hầu hết trường hợp, các đương sự đã không còn coi nhau như vợ
chồng từ khi cùng nhau ký vào đơn xin ly hôn. Tuy nhiên, việc ly hôn chỉ có
tác dụng chấm dứt chứ không xóa bỏ quan hệ vợ chồng đã tồn tại trước đó.
Có nghĩa là, các vấn đề liên quan đến hệ quả về tài sản, con chung đối với vợ
chồng khi bản án, quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật cần
phải được xem xét, giải quyết. Và khi bản án, quyết định cho ly hôn có hiệu
lực thì việc thực hiện bản án, quyết định cho ly hôn đó trong thực tế phải
được tôn trọng bởi các bên đương sự và các bên có liên quan.
Như vậy, hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ, chồng có thể được
hiểu là thời điể m bản án hoă ̣c quyế t đinh
̣ cho ly hôn có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t dẫn
tới các hệ quả pháp lý của quan hệ vợ chồng bao gồm: quan hệ nhân thân, tài
sản giữa vợ và chồng, việc giải quyết vấn đề về con chung, việc cấp dưỡng
giữa vợ chồng và việc thực hiện bản án, quyết định cho ly hôn của Tòa án đã
có hiệu lực trong thực tế.
1.2.2. Ý nghĩa của việc xác định hiệu lực pháp lý của ly hôn
Ly hôn là một trong những quyền cơ bản của con người, việc Nhà nước
thừa nhận chế định ly hôn trong pháp luật là thể hiện sự đảm bảo cũng như
tôn trọng quyền tự do định đoạt của vợ chồng, giúp họ giải quyết những bế
tắc, xung đột trong đời sống hôn nhân. Nhà nước kiểm soát ly hôn bằng pháp
luật, mặc dù Nhà nước thừa nhận ly hôn là quyền dân sự gắn liền với nhân
thân vợ chồng song cũng cần phải hiểu rõ về bản chất rằng đây không phải là
quyền tuyệt đối. Nhà nước sẽ thực hiện quyền kiểm soát đối với hôn nhân
nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực mà ly hôn để lại. Tòa án chấp
nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng phải dựa vào thực chất quan hệ vợ chồng
và phải phù hợp với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định. Nhà nước ban
hành các quy định pháp luật về căn cứ ly hôn, trường hợp ly hôn, về trình tự
thủ tục ly hôn, về việc giải quyết hậu quả ly hôn. Do đó nếu vợ chồng muốn
các bên thứ ba cũng đươc xem xét giải quyết khi ly hôn. Khi bản án hoặc
14
quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không chỉ các bên
đương sự cần phải tự nguyện, tự giác thực hiện mà các bên liên quan cũng cần
phải tôn trọng bản án hoặc quyết định cho ly hôn của Tòa án.
Như vậy, ly hôn nói chung và hiệu lực pháp lý của ly hôn đối với vợ
chồng nói riêng là một chế định quan trọng trong Luật HN&GĐ năm 2014. Dù
là mặt trái của hôn nhân, nhưng ly hôn là điều cần thiết nếu hôn nhân không thể
duy trì và bảo đảm trách nhiệm là tế bào cho xã hội. Chính vì thế, chế định ly
hôn và quy định về hiệu lực của ly hôn đối với vợ chồng có ý nghĩa to lớn
trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật HN&GĐ nói riêng và
thực tiễn cuộc sống.
1.3. Hiệu lực của ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam qua các
thời kỳ
1.3.1. Hiệu lực của ly hôn theo quy định pháp luật Việt Nam trƣớc Cách
mạng tháng Tám
- Thời kỳ phong kiến;
Ly hôn là một biện pháp chấm dứt hôn nhân được thừa nhận từ rất sớm
trong luật Việt Nam. Tại Bộ Quốc triều hình luật Điều 308 có ghi: “Phàm
chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại (vợ được trình với quan sở tại
và xã quan làm chứng), thì mất vợ. Nếu vợ đã có con, thì cho hạn 1 năm. Vì
việc quan phải đi xa , thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ, mà lại ngăn cản
người khác lấy vợ mình, thì phải tội biếm”. Thực ra, điều luật được viết không
tốt lắm, nhưng thực tiễn ly hôn vẫn được ghi nhận như một biện pháp chế tài
dành cho người chồng vi phạm nghĩa vụ đối với vợ và gia đình. Ngoài ra,
người làm luật cũng thừa nhận việc ly hôn do sự thuận tình của vợ và chồng
[30, tr. 559, tr.560]: bằng cách cùng nhau thảo một văn thư, vợ chồng bày tỏ ý
thừa nhận. Ngoài ra, Dân luật giản yếu còn ghi nhận quyền xin ly hôn trong
trường hợp vợ hoặc chồng mất tích, như trong Bộ luật Gia Long.
16
Quyền xin ly hôn được thừa nhận cho cả vợ và chồng; nhưng người vợ
không có quyền xin ly hôn vì lý do người chồng ngoại tình, trong khi người
chồng lại có quyền xin ly hôn với lý do người vợ ngoại tình.
Người vợ ly hôn, khi ra khỏi nhà chồng, được phép mang đi quần áo, tư
trang, đồ dùng cá nhân. Việc phân chia các tài sản có giá trị lớn được thực
hiện theo các thoả thuận trước trong hôn ước; nếu không có hôn ước, thì theo
các quy định của pháp luật. Các giải pháp của luật về phân chia tài sản giữa
vợ chồng sau khi ly hôn được xây dựng tùy theo gia đình có hay không có
con và người vợ có hay không có ngoại tình (Con trong gia đình là các con
của chồng, bất kể con đó do người vợ chính hoặc những người vợ thứ sinh ra.
Trái lại, hình như người làm luật thời thuộc địa không tính đến con riêng của
người vợ khi xây dựng các quy định về phân chia tài sản giữa vợ chồng khi ly
hôn: nếu vợ có con riêng mà chồng không có con, thì việc phân chia tài sản
được thực hiện theo các quy định áp dụng cho trường hợp không có con).
Việc trông giữ con được ưu tiên giao cho người cha, trừ trường hợp việc giao
con cho người mẹ hoặc một người thứ ba tỏ ra tốt hơn cho lợi ích của con.
Con đủ 15 tuổi có thể được giao cho cha hoặc mẹ theo nguyện vọng của mình
[18, tr.135].
1.3.2. Hiệu lực của ly hôn theo quy định pháp luật Việt Nam từ Cách
mạng tháng Tám đến nay
- Thời kỳ 1945 – 1954:
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ly hôn được xem như một trong
những biện pháp giải phóng phụ nữ khỏi sự kiềm hãm của chế độ hôn nhân và
gia đình phong kiến. Văn bản đầu tiên có những quy tắc pháp lý mới về ly
- Thời kỳ 1954 – 1975:
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nước ta tạm
thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt: miền Bắc dưới
sự lãnh đạo của chính quyền nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, miền
Nam dưới sự cai trị của đế quốc Mỹ và chính quyền phong kiến Sài Gòn. Vì
vậy, chế định ly hôn ở mỗi miền có sự khác nhau.
18
Ở miền Bắc: Chế độ hôn nhân và gia đình được xây dựng trên nguyên
tắc tự do, tiến bộ, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái.
Trước đó, hai sắc lệnh được ban hành là SL 97 và SL 159 đã hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình. Mặc dù, có những đóng góp lớn nhưng hai sắc lệnh này
đã không đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Vì
vậy, “việc ban hành một đạo luật mới về HNGĐ đã trở thành đòi hỏi cấp bách
của toàn xã hội. Đó là tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội của nước ta về dự luật HNGĐ” – Công báo số 1 năm 1960.
Hiến pháp 1959 ra đời, ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ về các mặt
như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình [19, Điều 24], nhà nước bảo
hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, bảo vệ hôn nhân và gia đình. Luật HN&GĐ
1959 đã được Quốc hội khóa I thông qua ngày 29/12/1959 và có hiệu lực
ngày 13/01/1960 trên nguyên tắc hôn nhân tiến bộ, một vợ một chồng;
nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia
đình và quyền lợi của con cái nhằm xây dựng chế độ HNGĐ mới theo tinh
thần Hiến pháp 1959 và yêu cầu của thực tiễn khách quan. Luật HN&GĐ
1959 dành một chương quy định về ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn với
những quy định khác hẳn với pháp luật trước kia.
Hậu quả pháp lý của ly hôn theo Luật HN&GĐ 1959 là giải quyết quan
hệ vợ chồng, thanh toán tài sản, vấn đề cấp dưỡng cho một bên túng thiếu và