MỸ THUẬT PHỤC HƯNG THẾ KỶ XVI
I. Khái niệm phục hưng:
Trong thế kỷ qua hàng triệu con người vẫn phải kính cẩn nghiêng mình
thám phục trước những giá trị nghệ thuật mà mỹ thuật phục hưng để lại cho
nhân loại. Đó là một kho tàng vô giá với hàng nghìn bức tranh, tượng và những
công trình kiến trúc kỳ vĩ được tạo nên bởi những người khổng lồ của thời đại
mới với tư tưởng mới, tư tưởng nhân văn cao cả.
Nghệ thuật phục hưng khởi nguồn từ nước Ý. Là con đẻ của giai cấp tư
sản đang lên trong lòng xã hội Phong kiến. Những cuộc cải cách ruộng đất, sự
chuyển hóa từ thủ công nghiệp sang công nghiệp, những phát kiến địa lý sự phát
triển của thị trường thế giới, công cuộc mở mang các đô thị ở một loại nước….
đã tạo nên sự thay đổi đáng kể bộ mặt của xã hội Phong kiến thế kỷ XV – XVI.
Giai cấp tư sản dần thay thế so với Phong kiến, quý tộc và nhà thờ. Bởi vậy họ
cần có ngôn ngữ nghệ thuật mới đáp ứng và bộc lộ được tâm tư, nguyện vọng
cũng như tư tưởng của họ.
Thuật ngữ “Phục hưng” xuất hiện chính thức vào thế kỷ XVI. Và thực tế
nó chỉ được ứng dụng trong nghệ thuật tạo hình. Vadari, họa sĩ ý sống vào thế
kỷ XVI là người đầu tiên dùng thuật ngữ ấy. Khi viết “Sự phục hưng” của nền
nghệ thuật Ý trong cuốn sách “ghi chép sinh động về các nghệ sĩ, nhà điêu
khắc và kiến trúc sư nổi tiếng” {In năm 1550 – 1568}. Từ đó thuật ngữ này
cùng với cuốn sách của ông lan nhanh sang các nước. Tuy nhiên “phục hưng”.
Không đơn thuần chỉ là một thuật ngữ, trái lại nó có một nội dung sâu sắc hơn
nhiều. Danh từ “Phục hưng” {Renayssance} theo tiếng Pháp có nghĩa là sự tái
sinh hay phục hồi. Các nhà sử học cho rằng thời kỳ trung cổ chỉ là sự cắt giản
đơn trong quá trình phát triển của nền văn hóa, do đó họ chỉ ra rằng nghệ thuật
vốn phát triển trong thế giới cổ đại cần được sống lại trong thời kỳ này, cần phải
tạo ra một cuộc sống mới mẻ.
1
Nghệ thuật cổ đại tôn thờ những giá trị nhân văn cao cả, lấy con người
làm trung tâm của vũ trụ. Nghệ thuật mượn các đề tài về thần thoại, về các thế
giới của các thần thánh để miêu tả vẻ đẹp hình thể cũng như vẻ đẹp nội tâm của
1. Tiền phục hưng: cuối thế kỷ XIV
2. Phục hưng: cả thế kỷ XV
3. Phục hưng cực thịnh: cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI
II. Mỹ thuật phục hưng thể kỷ XVI
Ở thời tiền phục hưng, mỹ thuật đã đạt được nhiều thành tựu song nó
mang bản chất của một nền nghệ thuật phôi thai, vừa chịu ảnh của mỹ thuật
trung cổ đồng thời mang nhiều nét đổi mới tiến bộ. Sự pha trộn này dẫn đến sự
không ổn định về phong cách cũng như trong bản thân từng nghệ sĩ. Nhưng sang
thế kỷ XVI, mỹ thuật Ý đã thật sự phục hưng. Một nền nghệ thuật đi theo hướng
hiện thực tự nhiên đã phát triển rực rỡ, để lại nhiều tác giả, tác phẩm có giá trị
còn tồn tại mãi mãi. Theo các kiểu của nghệ thuật thì thời kỳ cổ điển của một
nền nghệ thuật chính là các tác phẩm của thời kỳ đó đã đạt tới đỉnh cao, hoàn
thiện mẫu mực và định hình về phong cách, từ kiến trúc, điêu khắc cho tới hội
họa.
Đây cũng là đánh dấu sự phát triển của hội họa giá vẽ. Một thể loại tranh
tồn tại độc lập không phụ thuộc kiến trúc. Trước phục hưng, thể loại tranh sử
dụng nhiều nhất là bích họa hay còn gọi là tranh tường. Loại tranh này được vẽ
bằng Tampera hoặc tranh nề {Vẽ màu lên lớp vữa còn ướt} loại tranh này kết
hợp trong kiến trúc và tồn tại với công trình kiến trúc đó. Đến thời kỳ phục
hưng, nhất là vào thế kỷ XVI, cùng với việc phát hiện ra chất liệu sơn dầu, các
họa sĩ đã mạnh dạn tách hội họa ra khỏi kiến trúc họ tạo nên dòng tranh giá vẽ
với vô số những tác phẩm tiêu biểu được con người của nhiều thời đại yêu thích.
Tranh giá vẽ đã đề cập đến nhiều đề tài như: thần thoại, tôn giáo, chân dung,
sinh hoạt…
Những trung tâm nghệ thuật lớn thời kỳ này là Rôm, Phlorăngxơ, Vơnirơ.
Phlorăngxơ là nơi hội tụ của 3 thiên tài lỗi lạc: Leona da vinci, Mikemlangio,
3
Raphaen. Rôm lại là nơi thu hút các họa sĩ không những trong nước Ý mà cả
nước ngoài tới học tập và làm việc. Đây được xem là một trường học lớn, nơi
đào tạo ra những bậc thầy về hội họa như: Giooc – giôn, Tanh – to – re
Năm 1466 Ông đến Phlorăngxơ và nhận học việc trong xưởng vẽ của Vê-Rô-
Ki-Ô. Đây là một xưởng họa và trường học nổi tiếng của thành phố này. Khoảng 6
năm sau Ông học xong. Chính trong thời gian này Ông cũng bắt đầu sáng tác, nhưng
phần lớn tác phẩm đầu tay của ông chịu ảnh hưởng thầy dạy của mình. Tuy nhiên
càng về sau tên tuổi của ông càng nổi bởi bằng tài năng nghệ thuật và trình độ khoa
học của mình ông đã đưa hội họa từ một nghề thủ công “đầy tớ” thành một “nghệ
thuật tự do” bằng việc nghiên cứu luật phối cảnh, giải phẩu và quy luật ánh sáng để
đưa chúng vào trong tranh. “Ông và các họa sĩ khác cho rằng: phải dựa trên cơ sở
khoa học mới có thể biến hội họa thủ công bị coi nhẹ thành nghệ thuật đáng coi
trọng” {LSMT thế giới – Phạm Thị Chỉnh} chính những quan điểm đã đưa nghệ
thuật phục hưng đạt đến những giá trị đáng chân trọng.
Một trong những tác phẩm tuyệt đẹp của Leona khi ông đến thành phố
Milan là bức “madona trong hang” {vẽ năm 1483 -1494} đây được xem là tác
phẩm ở giai đoạn trưởng thành của tác giả bởi vì nó đã đi vào quỹ đạo của tư
tưởng nghệ thuật phục hưng. Bức tranh có tính toán cẩn trọng về nhiều mặt,
trong đó có cách giải quyết không gian và sự cân đối yên tĩnh nhờ sự xắp xếp
tài giỏi giữa các nhóm nhân vật và thiên nhiên. Hình ảnh Madona, Chúa và các
thiên thần được xắp xếp một cách có chọn lọc và khái quát.
Cũng trong thời
gian ở Milan giữa những
năm 1495 – 1498, Leona
vẽ bức tranh tường cho
nhà thờ thánh Maria
denhla – Hraxi {gần
Milan} “Buổi họp kín”
hay còn gọi là “bữa tiệc
cuối cùng”.
5
Bữa tiệc cuối cùng (1495 - 1498)Tranh tường
Tác phẩm miêu tả bữa tiệc cuối cùng giữa chúa Giesu và 12 thánh tông đồ
niềm vui vừa phảng phất nỗi buồn
khiến người xem cứ vương vấn mãi.
Lêona đã khôn khéo sử dụng những
đường nhấn động ở khoé mắt, gò má
và khoé miệng để tạo nên nụ cười
tinh tế của nàng. Qua hàng mấy trăm
năm, cho tới tận bây giờ nụ cười của
nàng vẫn làm mê đắm trài tim của
biết bao người yêu nghệ thuật, làm
tốn không biết bao nhiêu giấy mực
các nhà phê bình mọi thời đại. chất
da thịt của nhân vật của tác giả miêu
tả rất thành công bằng thủ pháp “tương phản” đó là sự tương phản giữa màu
sẩm tối cùng những nét gấp rất nhỏ của trang phục với sự mịn màng tươi mát
của chất da thịt. Đôi bàn tay mền mại…Thành công ở bức tranh không chỉ dừng
ở đó, nàng Monalisa được tác giả đặt trên nền một bức tranh phong cảnh mờ ảo,
xa xăm, chập trùng. Điều đó thể hiện lý tưởng của thời đại, lý tưởng nhân văn
cao cả: “con người luôn là trung tâm của vũ trụ, con người ở giữa thiên nhiên,
giao hoà và là một nhân tố của thiên nhiên”(LSMT thế giới – Phạm Thị Chỉnh).
Cách thể hiện của Leona cho người xem cảm nhận về một Monalisa sang trọng,
quý phái nhưng cũng rất hiền và tinh tế. Một Monalisa chứa đầy những tâm tư
thầm kín khiến ta cảm thấy như vừa nắm bắt được tâm tư của nàng vừa như
không hiểu nàng đang hiểu nàng đang nghĩ gì. Chính vẻ đẹp vừa rõ ràng, vừa ẩn
dấu, vừa xa lạ vừa thân quen khiến nàng sống mãi, vượt qua thời gian không
gian và đến với tất cả mọi người, mọi thời đại. Chinh đó cũng là một thành công
của tác phẩm bởi nó đem đến cho người xem rất nhiều cảm xúc đan xen. Vẻ đẹp
7
Monalisa 1503
của nàng là một vẻ đẹp lý tưởng không chỉ của thế kỷ XVI, mà còn là vẻ đẹp lý
tưởng của mọi thời đại.
Những tác phẩm đầu tay của Michenel Ange là những phù điêu bằng cẩm
thạch, như “Madona ở cầu thang” (1490-1492) cuộc chiến đấu của những bọn
“nửa người nửa thú” (1492) chứa đựng niềm hưng phấn nghệ thuật rõ nét.
Michenel Ange say mê điêu khắc
từ nhỏ và ông luôn cho rằng điêu khắc
mới thật sự là nghệ thuật còn hội hoạ chỉ
là công việc của những kẻ thích nhàn rỗi
và phụ nữ. Nhưng ông vẫn là một hoạ sĩ
kỳ tài với tác phẩm nổi tiếng nhất là
quần thể tranh trong nhà thờ Xic – xtin.
Về kiến trúc tên tuổi của ông gắn liền với
công trình nhà thờ thánh Pie, công trình
do kiến trúc sư Bramangto thiết kế ban
đầu sau được giao lại cho ông. Công
trình này đã trở thành kỳ quan của thế
giới thiên chúa. Điều này chứng tỏ tài năng hiếm có của ông trong lĩnh vực kiến
9
Pietta (1496 - 1498)
Tượng đá cẩm thạch
trúc. Tuy vậy niềm đam mê thật sự của ông lại là tạc nên những pho tượng và
tác phẩm đầu tiên đưa tên tuổi va uy tín của ông đến với mọi người là: Pietta
(theo tiếng Pháp có nghĩa là “tình thương”). Tác phẩm được ông hoàn thành
trong 5 năm. Với tác phẩm này ông đã rất thành công khi miêu tả nổi sót
thương, đau đớn của đức mẹ trước đứa con đã mất trên tay. Chân dung chúa
Gieessu cũng được tác giả miêu tả vô cùng sống động. Ở đó ta nhìn thấy rõ nổi
đau đớn mà chúa phải chịu đựng trước khi mất nhưng ta cũng nhìn thấy ở chân
dung đó niềm kiêu hãnh của một vị anh hùng, một đấng cứu thế. Ngoài ra tác
phẩm còn thành công trong việc thể hiện những nét gấp trang phục, chất da thịt
mền mại. Bằng thủ pháp đối lập giữa nét mền mại của các nếp áo váy phong phú
và đa dạng với mảng phẳng nhẵn của cơ thể chúa Giesu. Sự đối lập đó tạo nên
phẩm vĩ đại này được một mình ông hoàn thành
sau 4 năm. Khoảng hơn 100m2 với vài trăm nhân
vật diễn tả sinh động những đoạn trong kinh
thánh. Toàn bộ tác phẩm tự như một bản hành
khúc về con người với ý trí, vẻ đẹp và sự dũng
cảm. Hình tượng các nhân vật được ông diễn tả mạnh mẽ và cường tráng với
màu sắc tương phản. Tác phẩm hoà hợp với kiến trúc thành một khối tổng thể
hoàn thiện, hữu cơ không thể tách rời. Tác
phẩm hoàn thành năm 1512.
Sau khi Duyn II mất, Michenel Ange
mới làm chiếc quan tài theo đề nghị của
những người kế tục (1545) để trang trí cho
chiếc quan tài này ông đã làm một số tượng
trong đó có những pho tượng nổi tiếng như
“người nô lệ nổi dậy”, “người nô lệ chết”.
Cùng lúc này ông tạc tượng “Moixei”, dùng
cho tầng 2 của chiếc quan tài. Đây là một
nhân vật vừa khôn ngoan, vừa nhiệt tình vốn
được ông vẽ một lần trên trần Xicxtin.
11
Moixei - Michenel Ange
Tranh trên vòm
giáo đường Xicxtin
Năm 1534 Michenel Ange làm quan tài cho hai bá tước Dgiuliano và
Liorangxo của dòng họ Medixi. Những tác phẩm điêu khắc ở đây một lần nữa
chứng tỏ tài năng của ông. Với đề tài “ngày và đêm”, “hoàng hôn và bình
minh” ông đã lấy con người để thể hiện thời gian. Những tác phẩm này mang
tính ẩn dụ tượng trưng cao siêu, biểu hiện tính trí tuệ trong nghệ thuật của
Michenel Ange, đồng thời biểu hiện sức mạnh huyền bí của thời gian. Bốn pho
tượng trong nhà mồ Medixi đều được thể hiện với phong cách cường tráng khoẻ
thuật đầy nhiệt huyết của ông đã và sẽ mãi là tấm gương học tập cho nhiều thế
hệ nghệ sĩ mai sau.
Raphael Santi (1483 – 1520)
Khác với Leonar, Raphael không phải là nhà sáng tạo ra cái mới. Vì rằng
nghệ thuật của ông có ý nghĩa không phải ở chỗ khám phá ra con đường mới mà
là ở chỗ đã tổng hợp thành tựu của những người đi trước. Ông cùng với Leonar,
Michenel Ange tạo nên sự chuẩn mực, định hình cho sự phát triển phong cách
nghệ thuật phục hưng.
Raphael là con trai của hoạ sĩ
Dgiovanhi Xangta. Nhờ đó mà ông đã học
ngay từ cha mình khi còn rất nhỏ. Sau khi cha
mất, ông theo học nghệ sĩ Peruganh. Ông là
một bậc thầy tài năng đã giúp Raphael nổi
tiếng. Ngay từ năm 14 -15 tuổi, ông đã được
mọi người biết đến với tác phẩm đầu tay
“giấc mơ của người hiệp sĩ”(trưng bày tại
viện nghệ thuật quốc gia Luôn Đôn) năm
1504 Raphael từ dã quê hương và người thầy
của mình để đến Phlorangxo, nơi có hai người
khổng lồ Lêonar de vinch và Michel Arge. Ở đây ông nhanh chóng học tập các
bậc thầy về nghệ thuật này và đã nhanh chóng tiến kịp họ. Thành phố này đã
khiến ông thành công và được nhiều nhà bảo trợ hào phóng giúp đỡ. Đây cũng
là thời kỳ ông vẽ nhiều tranh về đề tài Đức mẹ. Trong đó nổi tiếng là tác phẩm
"Đức mẹ của Đại công tước". Tác phẩm "Đức mẹ của Đại công tước" được ông
13
Giấc mơ của người hiệp sĩ
Raphael
vẽ theo yêu cầu của vĩ đại công tước. Vị này coi
tác phẩm là vô giá và luôn giữ bên mình. Ở bức
tranh này ta vẫn còn thấy phảng phất nét của
Tranh bích họa (1510 - 1512)
mặc dù bố cục tranh bó gọn trong không gian kiến trúc. Có thể nói hầu hết các
phòng trong tòa thanh Vaticang đều có tranh của Raphael.
Cũng trong thời gian ở Roma, Raphael vẽ
một khối lượng khá lớn tranh giá vẽ, trong đó có
nhiều bức chân dung như "Chân dung giáo
hoàng Đuyn II", chân dung nhà văn nổi tiếng
Hataxarơ Catxtilion,
Gần cuối đời Raphael lại vẽ tranh Đức mẹ.
Người đời hãy còn nhắc mãi bức chân dung cỡ
lớn "Madona xitxtin" dùng để thờ. Bức tranh
hiện còn đang lưu trong bảo tàng Dretxden của
Đức. Thay vì hình ảnh thân tình giữa Đức mẹ và
Chúa thường thấy trong các bức tranh cùng đề
tài, "Madona xitxtin" mang một phẩm chất tạo
hình tuyệt đẹp. Bao quanh sự lấp lánh sáng,
Madona trong thật trịnh trọng và kì vĩ trong mây đang bế Chúa hài đồng. Bên
trái và bên phải là Đức mẹ là thánh Xitxto và nữ Thánh vacvara hơi nghiêng
mình, quỳ hối. Bố cục khá đăng đối hình bóng rất rõ, tính khái quát mạnh… nhờ
đó bức tranh đã tạo được chất hoành tráng trữ tình, chứa đựng cái gì đó vừa sống
vừa thực vừa pha lẫn chút lí tưởng hóa. Hình ảnh Madona mang một nội dung
phức tạp: sự trong sạch đáng sợ, sự ngây thơ đáng quý của nữ đồng trinh hòa
hợp với tính quyết định và sự sẵn sàng hi sinh anh dũng của Madona. Chính đó
là chất anh hùng ca, là truyền thống tuyệt đẹp của chủ nghĩa nhân văn Ý. Điều
này còn có nghĩa là, xuất phát từ hiện thực, dựa vào hiện thực, tác giả hướng
nâng hình tượng lên trên tất cả cái gì gọi là ngẫu nhiên và thoáng qua giây lát.
Tranh của Raphael đã kết tinh được những phẩm chất cao đẹp, lý tưởng
của nghệ thuật phục hưng cổ điển. Nó "biểu hiện vẻ đẹp nhẹ nhàng, uyển
chuyển và duyên dáng đồng thời mang nội dung lịch sử, tín ngưỡng vào tôn giáo
sâu sắc" (LSMT thế giới - Phạm Thị Chỉnh). Tranh của ông đã đạt đến sự mẫu