Phuơng pháp sử dụng mẩu chuyện trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1954 đến nay ở trường phổ thông nhằm nâng cao hiệu quả bài học. - Pdf 26

Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
A. MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới của đất nước ta đang diễn ra rất mạnh mẽ, sôi động trên
mọi lĩnh vực, vấn đề đào tạo con người đáp ứng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
đất nước hiện nay đặt ra cấp thiết. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân,
trong đó giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng. Chính vì vậy mà Đại Hội Đảng
Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII đã chỉ rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu và khẳng
định mục tiêu của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực
hành tự chủ, năng động sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội”.
Ngày nay do sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, những biến
động to lớn về chính trị - xã hội, cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và sự hợp tác khu vực ngày càng trở thành yếu tố quyết định sự phát triển của lịch
sử nhân loại. Một dân tộc lãng quên quá khứ, dân tộc đó tất sẽ bị diệt vong. Hòa
nhập vào sự phát triển chung của thế giới không có nghĩa là quên đi cội nguồn
của mình mà phải “đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân
tộc”.
Môn lịch sử ở nhà trường phổ thông có vị trí rất quan trọng trong việc đào
tạo con người. Với tư cách là một môn khoa học, lịch sử có vai trò quan trọng
trong việc đào tạo, giáo dục học sinh trở thành một con người toàn diện. Môn lịch
sử có nhiều ưu thế trong giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, thế giới quan khoa học,…
cho học sinh như: giáo dục lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, lòng biết ơn
Đảng, Bác Hồ…Lịch sử không chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu ghét trong
đấu tranh giai cấp mà còn bồi dưỡng cho các em năng lực đối xử với mọi người
xung quanh, biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quân cướp nước và
chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy ở học sinh sự thông cảm sâu sắc và
lòng kính yêu đối với quần chúng nhân dân. Bởi vì lịch sử chính là “cô giáo của
1
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử

Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
vào tìm hiểu việc sử dụng những mẩu chuyện trong dạy học lịch sử dân tộc giai
đoạn 1954 đến nay. Qua đó người viết cũng mạnh dạn đưa ra một số phương
pháp sử dụng các mẩu chuyện để bài học lịch sử đạt hiệu quả tốt nhất.
2. Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây, nhiều tác giả trên thế giới – các nhà giáo dục đã
có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng tài liệu tham khảo cho
giáo viên và học sinh trong quá trình dạy – học. Trong phạm vi dạy học bộ môn đã
có hai hội nghị giáo dục bàn về biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử.
Nhiều bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu
giáo dục…Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã nêu lên hệ thống lý luận và
thực tiễn, biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả bài học lịch sử.
Ngoài nước, vấn để sử dụng tài liệu tham khảo trong đó việc sử dụng tài
liệu về những câu chuyện lịch sử để cụ thể hóa lịch sử được đề cập đến trong
nhiều chương trình nghiên cứu. Thành công nhất phải kể đến tiến sỹ khoa học
N.Đ.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”. Ông đã đề cập
đến tính đa dạng của kiến thức và cần thiết phải trang bị cho giờ học các phương
tiện dạy học, sử dụng tài liệu tham khảo khác như một nguồn kiến thức để cụ thể
hóa kiến thức trong sách giáo khoa nhằm “gây hứng thú với giờ học”. Để có
một giờ học tốt người giáo viên phải kết hợp được nhiều khâu khác nhau, quan
trọng nhất là tham khảo các tài liệu để làm cho nội dung bài giảng phong phú,
chính xác .
Ở Việt Nam trong cuốn “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt
cũng đề cập đến việc sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử, các tác giả
đã xem tài liệu tham khảo như một nguồn kiến thức để minh họa và làm phong
phú thêm sách giáo khoa.
Đặc biệt trong các giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” cũng đánh
giá cao vai trò của việc sử dụng tài liệu tham khảo, có tác dụng cụ thể hóa một số
sự kiện lịch sử. Phan Ngọc Liên (CB), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi trong
“Phương pháp dạy học lịch sử”, tập II, NXB ĐHSP, H, 2002 cho rằng: bên cạnh

4
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
- Khai thác nội dung cơ bản của lịch sử 1954 đến nay, xác định những mẩu
chuyện lịch sử cần giới thiệu cho học sinh.
- Đề xuất một số phương pháp về sử dụng những mẩu chuyện lịch sử trong
dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 đến nay.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là những quan điểm của chủ nghĩa
MácLênin về giáo dục nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, những nguyên tắc
của dạy học hiện đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối giáo
dục của Đảng và chính phủ qua các văn kiện, nghị quyết của các kì Đại hội, của
Bộ chính trị về cải cách giáo dục, dựa trên lý luận về giáo dục học, tâm lý học,
giáo dục lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu lịch sử, tài liệu lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin và
Hồ Chí Minh, các nghị quyết về cải cách giáo dục, về mục tiêu giáo dục và đào
tạo.
Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục lịch sử và các tài liệu lịch sử có liên
quan đến đề tài.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: đề tài nhằm làm phong phú và nâng cao trình độ nhận
thức của bản thân về lý luận dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng cũng
như phương pháp sử dụng tài liệu về những mẩu chuyện lịch sử trong dạy học
lịch sử. Kết quả của đề tài không chỉ khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng
tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông mà còn lý giải
nghiên cứu việc sử dụng những mẩu chuyện lịch sử ở mỗi bài học lịch sử cụ thể
trong giai đoạn 1954 đến nay nhằm nâng cao hiệu quả bài học.
- Ý nghĩa thực tiễn: nghiên cứu đề tài nhằm giúp bản thân nâng cao trình
độ hiểu biết thực tiễn dạy học lịch sử ở trương phổ thông. Qua đó có khả năng

chuyện trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trương THPT.
I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1. Cơ sở lý luận
a) Đặc trưng bộ môn
Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi giáo dục trong nhà trường phổ thông
phải đào tạo những con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đaị hóa: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Mỗi môn học ở nhà trường phổ thông với đặc trưng của mình đều phải góp
phần vào đào tạo thế hệ trẻ trong đó có lịch sử. Những kiến thức lịch sử thế giới,
lịch sử dân tộc từ cổ đến kim có tác dụng không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học
sinh. Các con người thực, việc thực trong quá khứ sẽ khơi dậy trong học sinh
những tư tưởng tình cảm đúng đắn, mà những tư tưởng tình cảm này là hành
trang cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện hội nhập với thế giới.
Do đặc trưng của bộ môn: lịch sử mang tính quá khứ, là những sự kiện đã
xảy ra, không thể quan sát trực tiếp được lịch sử quá khứ mà chỉ nhận thức chúng
một cách gián tiếp thông qua nguồn tài liệu; lịch sử không lặp lại mà chỉ diễn ra
một lần duy nhất, càng không thể diễn ra trong phòng thí nghiệm như những bộ
môn khoa học khác. Lịch sử mang tính cụ thể vì mỗi sự kiện bao giờ cũng diễn ra
trong một hoàn cảnh cụ thể về không gian, thời gian và con người nên khi trình
bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể, sinh động, có hình ảnh bao nhiêu
thì càng hấp dẫn và hứng thú bấy nhiêu; … Để đảm bảo quá trình nhận thức của
học sinh được toàn diện thì bài giảng của giáo viên phải đảm bảo tính khoa học,
tính cụ thể, tính hình ảnh, tính sinh động của các sự kiện lịch sử. Do những đặc
trưng trên của bộ môn lịch sử ta nhận thấy trong giảng dạy lịch sử ngoài sách giáo
7
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
khoa là tài liệu cơ bản thì việc sử dụng tài liệu tham khảo cũng là một nguồn kiến

8
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
Hoạt động nhận thức của con người diễn ra theo qui luật từ nhận thức giản
đơn đến nhận thức phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất. Quá trình tiếp thu chân
lý phải trải qua nhiều giai đoạn: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng
của nhận thức đối với sự vật, của nhận thức đối với hiện thực khách quan”.
Trong học tập lịch sử, quá trình nhận thức của học sinh bắt đầu từ quan sát (tri
giác) tài liệu, từ đó nhớ, hiình dung lại để hình thành những mối liên hệ tạm thời
tương ứng (biểu tượng). Biểu tượng là dấu ấn ghi lại trong ý thức của các em
những hình ảnh về sự kiện, hiện tượng lịch sử đã được tri giác. Song để hiểu sự
kiện, hiện tượng quá khứ phải tìm ra bản chất của chúng tức là hình thành khái
niệm lịch sử. Muốn làm được việc này phải thông qua các thao tác tư duy như: đối
chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp…vạch ra dấu hiệu bản chất. Yêu cầu tìm ra
bản chất của sự kiện hiện tượng quá khứ là biểu hiện của những nhiệm vụ nhận
thức nảy sinh ra trên cơ sở tri giác.
Cho nên trong nhận thức nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng thông
qua lời nói, đồ dùng trực quan, các loại tài liệu giáo khoa… học sinh mới có biểu
tượng lịch sử cụ thể về quá khứ. Biểu tượng lịch sử càng cụ thể, chân thực bao
nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy
nhiêu. Việc sử dụng các mẩu chuyện lịch sử trong mỗi bài học sẽ không chỉ góp
phần tạo biểu tượng sinh động chính xác mà còn giúp các em có cơ sở để hình
thành khái niệm. Rõ ràng nếu giáo viên biết cách đưa vào trong bài giảng của
mình những câu chuyện lịch sử cụ thể gắn với sự kiện, nhân vật – những câu
chuyện có cốt truyện rõ ràng sẽ không chỉ giúp học sinh tái hiện lại kiến thức đúng
như nó tồn tại trong quá khứ mà còn kích thích hoạt động nhận thức của học sinh,
gây hứng thú trong học tập.
2. Cơ sở thực tiễn
Sách giáo khoa vốn là tài liệu cơ bản với học sinh, và cũng là tài liệu đáng
tin cậy đối với giáo viên. Vấn đề đặt ra là giáo viên nên sử dụng bài viết của sách

10
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
sử. Hơn nữa việc sưu tầm nguồn tài liệu này còn nhiều khó khăn nhất là phần lịch
sử dân tộc từ 1954 đến nay. Hiện tượng học sinh không hiểu rõ lịch sử dân tộc
còn phổ biến. Có học sinh viết rằng: “ Nhật – Pháp đánh nhau, Việt Nam vớ bở”,
“hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở Ngã Tư Sở”, nhiều học sinh xếp cụ Đào
Duy Từ vào trong 5 Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam bị đế quốc Pháp kết án
tử hình giai đoạn 1930-1945…Quả là một hiện tượng nhức nhối trong dạy học lịch
sử hiện nay.
Tuy nhiên thực tế cũng phải ghi nhận là một số giáo viên ở các trường họ
nhận thức rõ tầm quan trọng của việc sử dụng tài liệu tham khảo nên có ý thức tìm
tòi nghiên cứu, sử dụng đa dạng các nguồn tài liệu để cụ thể hóa kiến thức cơ bản
trong sách giáo khoa và sử dụng đa dạng các hình thức hoạt động trong học tập,
do đó chất lượng giảng dạy đựợc nâng cao.
Trong thời đại hiện nay, xã hội có nhiều biến động đã tác động không nhỏ
đến mọi người dân Việt Nam đặc biệt là lứa tuổi thanh niên. Rất nhiều người
không biết gì về lịch sử dân tộc, không hiểu lịch sử dân tộc…Và nhiệm vụ đặt ra
cho bộ môn lịch sử là phải cung cấp những kiến thức lịch sử, quan điểm lịch sử cơ
bản, phương pháp học tập lịch sử…để nâng cao ý thức trách nhiệm giữ gìn bản
sắc, truyền thống dân tộc, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha ông
trong mọi người dân. Yêu cầu đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học lịch sử đặt
ra cấp thiết trong đó có sử dung những mẩu chuyện lịch sử nhằm nâng cao hiệu
quả bài học.
II. Quan niệm về hiệu quả bài học
Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải đào tạo
những con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hóa trong đó có lịch sử. Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ
đến kim có tác dụng không chỉ đến với trí tuệ mà cả trái tim học sinh. Các con
người thực, việc thực trong quá khứ sẽ gợi dậy trong học sinh những tư tưởng
tình cảm đúng đắn, mà những tư tưởng này là hành trang cần thiết cho thế hệ trẻ

động biện chứng với nhau. Nhiệm vụ giáo dục và phát triển của bài học chỉ có thể
12
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
thực hiện trên cơ sở hình thành kiến thức. Mặt khác, hoàn thành nhiệm vụ giáo
dục và phát triển trong giờ học sẽ làm cho việc nắm kiến thức của học sinh sâu
sắc hơn. Một vấn đề quan trọng đặt ra là phải có biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả bài học lịch sử. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của việc tiến hành bài học vì
nó thể hiện kết quả lao động, tài năng sư phạm của giáo viên và việc phát huy tính
tích cực độc lập trong học tập của học sinh để đạt được mục tiêu, kết quả giáo
dục thế hệ trẻ qua bộ môn. Một trong những biện pháp góp phần tích cực vào việc
nâng cao hiệu quả bài học là “trình bày hình ảnh và việc hình thành xúc cảm
lịch sử cho học sinh”
2
. Nguốn gốc, phương tiện tạo nên hình ảnh về sự kiện, con
người quá khứ trong dạy học lịch sử là lời nói của giáo viên và học sinh, tranh ảnh
bản đồ, các đoạn trích từ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, phim ảnh Trong đó
sử dụng những mẩu chuyện lịch sử.góp phần quan trọng vào việc khôi phục bức
tranh lịch sử trong nhận thức của học sinh, tạo biểu tượng lịch sử chân thực,
chính xác cụ thể về các sự kiện, hiện tượng lích sử thế giới, dân tộc; và khơi dậy
ở học sinh những xúc cảm lịch sử như: căm ghét, phản đối hay đồng tình yêu
mến Sự hồi hộp, xúc động đối với các sự kiện hiện tượng, nhân vật lịch sử càng
làm tăng thêm hứng thú học tập cho học sinh.
III. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng những mẩu chuyện
trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT đối với hiệu quả bài
học.
1. Vai trò
Sử dụng những mẩu chuyện lịch sử là một nguồn tài liệu, nguồn kiến thức
quý, quan trọng trong dạy học lịch sử. Nó góp phần cụ thể hóa kiến thức, làm
phong phú kiến thức đồng thời góp phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện
hình ảnh quá khứ. Nó giúp các em khắc phục được việc “hiện đại hóa” lịch sử,

Những mẩu chuyện ghi chép về những sự kiện nhân vật lịch sử như: mẩu
chuyện về cuộc đời, sự nghiệp, sinh hoạt đời thường của Hồ Chí Minh, các chiến
sĩ cộng sản, các anh hùng… và sử dụng những mẩu chuyện lịch sử trong dạy học
có ý nghĩa to lớn về các mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Bởi vì: “qua các
mẩu chuyện học sinh sẽ có cái nhìn khái quát về những sự kiện lớn của lịch
sử và quá trình phát triển của xã hội loài người”.
3
3
Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Phương pháp dạy học lịch sử. tập II, tr. 272
NXBĐHSP, 2002.
14
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
a. Về mặt giáo dưỡng
Sử dụng những mẩu chuyện trong dạy học lịch có ý nghĩa quan trọng trong
việc khôi phục tái hiện hình ảnh, quá khứ. Nó là căn cứ khoa học, bằng chứng về
tính chính xác, tính cụ thể phong phú của sự kiện lịch sử học sinh thu nhận.
Đối với mỗi bài học lịch sử, việc sử dụng tài liệu tham khảo nói chung trong
đó có sử dụng những mẩu chuyện lịch sử sẽ góp phần cụ thể hóa các sự kiện,
hiện tượng lịch sử đang học, tạo cho học sinh biểu tượng ràng cụ thể, giàu hình
ảnh, tăng thêm tính chất sinh động của bài giảng và gây hứng thú học tập cho học
sinh. Những mẩu chuyện lịch sử được sử dụng trong mỗi bài giảng với cốt truyện
rõ ràng, có tình tiết li kì, hấp dẫn, nội dung súc tích, giàu hình tượng, học sinh sẽ
tiếp thu một cách dễ dàng, không gây nhàm chán trong giờ học. Đây là phương
tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng nhất, giúp cho
học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội.
Nó còn có tác dụng giải thích một sự kiện lịch sử, học sinh sẽ hiểu được
bản chất của sự kiện, càng làm cho các em thêm hứng thú học tập.
Thực tế trong việc dạy học lịch sử hiện nay, khi sử dụng tài liệu tham khảo
chúng ta cần chú ý tránh tình trạng “quá tải”, làm cho giờ học trở nên quá nặng nề,
hoặc làm loãng nội dung, mất đặc trưng của bài lịch sử, hoặc biến lịch sử trở

bồi dưỡng cho học sinh năng lực đánh giá đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng
lịch sử, biết cách xem xét sự kiện lịch sử trong mối quan hệ nhiều mặt với các yếu
tố xã hội.
Tóm lại việc sử dụng tài liệu học tập là phương tiện cần thiết và quan trọng
đối với việc dạy học lịch sử của giáo viên và học sinh. Nó có vai trò không nhỏ đối
với việc tiếp thu tri thức lịch sử cũng như với phát triển tư duy. Phương pháp sử
dụng tài liệu là một trong những vấn đề trung tâm của lý luận dạy học bộ môn, có
ý nghĩa rất lớn về giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Để nâng cao hiệu quả bài
học lịch sử không thể không sử dụng các loại tài liệu vào giảng dạy. Do đó không
thể thiếu khâu sưu tầm chuẩn bị và sử dụng tài liệu tham khảo vào quá trình dạy
học nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao hiệu quả bài học.
16
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
Chương II: Phuơng pháp sử dụng các mẩu chuyện trong dạy học lịch
sử Việt Nam từ 1954 đến nay ở trường phổ thông nhằm nâng cao hiệu quả
bài học.
I. Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của giai đoạn lịch sử Việt Nam
từ 1954 đến nay.
1. Vị trí
Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1954 đến nay có nội dung rất quan trọng,
thuộc 2 chương: Chương V “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước
1954-1975” và chương VI: “Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa (1975-1991)” trong chương trình sách giáo khoa lớp 12 – tập 2 (cải cách
giáo dục).
Đây là chương có vị trí quan trọng trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam.
Nhân dân ta đã tiến hành cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải
phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc tiêu biểu chống lại một đế quốc lớn mạnh nhất là
đế quốc Mỹ. Hai miền thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau
nhưng đều nhằm một mục tiêu chung là chống Mỹ cứu nước. Miền Bắc tiến hành

Nội dung lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến nay được chia làm 2 giai đoạn:
giai đoạn 1954- 1975 và giai đoạn 1975-nay (2000). Trong sách giáo khoa lịch sử
lớp 12 được chia ra làm 7 bài, từ bài 12 đến bài 18.
- Nội dung cơ bản học sinh cần nắm được trong giai đoạn từ 1954 – 1975:
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã mở ra cho cách mạng nước
ta một thời kì phát triển mới. Cách mạng nước ta đứng trước tình hình mới, đất
nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân miền Bắc tiến hành công cuộc khôi
phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt được những thành tựu quan trọng
trong phát triển kinh tế, văn hóa giáo dục…Miền Bắc trở thành căn cứ địa cách
mạng vững chắc của cả nước với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và
quốc phòng lớn mạnh, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn.
18
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trải qua các giai đoạn: 1954
-1960, 1961-1965, 1965-1973 và 1973-1975.
Miền Nam trong 21 năm đã tiến hành hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mĩ, vạch trần
các âm mưu, tội ác của đế quốc Mĩ và tay sai phản động tiến tới giải phóng hoàn
toàn miền Nam thống nhất nước nhà.
Sau hơn 20 năm kiên cường, anh dũng chiến đấu, với cuộc tổng tiến công
và nổi dậy vĩ đại mùa xuân năm 1975, sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ của nhân
dân ta đã thắng lợi. Một kỉ nguyên mới trong lịch sử nước ta, kỉ nguyên của một
nước Việt Nam độc lập, thống nhất xã hội chủ nghĩa mở rộng.
- Nội dung cơ bản học sinh cần nắm được trong giai đoạn 1975-nay: đó là
những sự kiện hoàn thành thống nhất đất nước (về mặt nhà nước), công cuộc đấu
tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, mở rộng quan hệ quốc tế nhằm góp phần
đấu tranh cho hòa bình, chống chiến tranh, xây dựng thế giới văn minh và tiến bộ.
Đặc biệt nhấn mạnh đến công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
Những thành quả của sự nghiệp đổi mới làm cho đất nước đã thoát ra khỏi tình

một trong những nhiệm vụ quan trọng của sử học.
c. Về mặt phát triển
Nội dung kiến thức lịch sử dân tộc trong giai đoạn 1954 đến nay khá phong
phú và đa dạng, nó có tác dụng rất lớn đến việc phát triển toàn diện học sinh. Nếu
giáo viên biết kết hợp sử dụng đa dạng các hình thức tổ chức dạy học, các
phương tiện dạy học …sẽ giúp học sinh tái hiện lại bức tranh lịch sử dân tộc một
cách rõ nét và chân thực nhất, giàu hình ảnh và sinh động, cụ thể. Do đó có tác
dụng phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng …của học sinh, các năng lực thực
hành: sử dụng bản đồ, vẽ biểu đồ, sưu tầm tài liệu, làm quen với công tác nghiên
cứu khoa học… Đặc biệt là kĩ năng tư duy độc lập: phân tích, so sánh, khái quát,
tổng hợp
3. Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 đến nay
20
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
Lịch sử Việt Nam từ 1954 đến nay tương ứng với chương V “Cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước 1954-1975” và chương VI: “Công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”
Chương V tương ứng với 4 bài từ bài 12 đến bài 15: trình bày về tình hình
Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ 1954 và nhiệm vụ của cách mạng trong thời kì
mới (1954-1975): 2 miền thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng đều
nhằm một mục tiêu chung là chống Mĩ cứu nước tức là đánh Mĩ và tay sai, giải
phóng miền Nam bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân, đấu tranh thống nhất đất nước để đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn. Miền Bắc đã hoàn thành cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế, cải tạo xã
hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa (1954-1965). Năm 1960 Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (từ 5-12/9/1960) được triệu tập, đại hội đã xác
định nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước và nhiệm vụ của cách mạng từng
miền Bắc Nam và đề ra kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) nhằm “thực

Bên cạnh những tiến bộ và những thành tựu to lớn đạt được, cũng có
không ít khó khăn và yếu kém nhất là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội. Nguyên nhân
quan trọng là do sai lầm trong lãnh đạo, khuyết điểm trong chủ trương cải tạo và
xây dựng kinh tế, trong tổ chức và chỉ đạo thực hiện, trong quản lí kinh tế, nhà
nước…
II. Những mẩu chuyện lịch sử có thể sử dụng trong dạy học lịch
sử Việt Nam từ 1954 đến nay.
1. Yêu cầu của việc lựa chọn, sử dụng những mẩu chuyện lịch sử trong
dạy học
Phải căn cứ vào mục tiêu của bài học để lựa chọn những mẩu chuyện lịch
sử tương ứng thích hợp. Mục tiêu được xác định đúng là cơ sở để giáo viên chọn
lựa tài liệu học tập của bài, những sự kiện lịch sử cụ thể, những biểu tượng, khái
niệm; xác định mức định mức độ trình bày các sự kiện hiện tượng hợp lí, có hiệu
quả; tiến hành việc giáo dục tư tưởng đạo đức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
22
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
Những mẩu chuyện lịch sử đưa ra không chỉ đảm bảo mục tiêu giáo dưỡng mà
còn giáo dục tư tưởng, tình cảm một cách tự nhiên có hiệu quả.
Xuất phát từ nội dung bài học, giáo viên sẽ lựa chọn những mẩu chuyện lịch
sử cho phù hợp. Nội dung những câu chuyện lịch sử phải là việc phổ biến kiến
thức lịch sử một cách khoa học chứ không phải là những câu chuyện hư cấu,
tránh những chi tiết li kỳ không có giá trị khoa học, không phù hợp với yêu cầu học
tập. Chúng ta phải loại bỏ những loại truyện kiếm hiệp, tiểu thuyết võ hiệp xuyên
tạc lịch sử, có ảnh hưởng xấu đến việc hình thành tri thức lịch sử, giáo dục tư
tưởng tình cảm cho học sinh. Do đó, nội dung câu chuyện phải có chủ đề: một sự
kiện, một nhân vật và dựa vào tài liệu chính xác.
Một yêu cầu nữa khi lựa chọn các mẩu chuyện lịch sử là cần phải làm rõ
kiến thức cơ bản của bài học. Những mẩu chuyện giáo viên đưa ra phải là những
câu chuyện gắn liền với kiến thức cơ bản của bài, là cơ sở để học sinh hiểu rõ lịch
sử.

2. Nội dung những mẩu chuyện lịch sử
1. Ngô Đình Diệm (1901-1963)
“Ngô Đình Diệm là tổng thống chính quyền Sài Gòn từ năm 1959-1963, quê
làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Con là Ngô Đình Khả (một viên
đại thần triều Thành Thái, Duy Tân). Thửa nhỏ học tại Huế, năm 1918 học trường
Hậu Bổ. Tốt nghiệp và bắt đầu làm quan từ năm1920 tại Thừa Thiên Huế, Quảng
Trị. Năm 1930 làm Quảng Đạo tỉnh Ninh Thuận. Năm 1933, nhân nội các Nguyễn
Hữu Bài bị buộc từ chức, Bảo Đại đứng đầu nội các, Ngô Đình Diệm được cử làm
thượng thư (Bộ trưởng), rồi Bộ lại (tương tự bộ nội vụ) sung cơ mật viện đại thần.
Năm 1934, từ chức thượng thư bộ lại vì tranh chấp với Phạm Quỳnh và
mâu thuẫn với Pháp. Từ đó Ngô Đình Diệm trở thành một nhân vật chống lại
Phạm Quỳnh nên gia nhập phe Cường Để và thường xuyên liên lạc với các phần
tử khác từ Huế đến Sài Gòn, có thời gian ẩn mình ở tòa giám mục Vĩnh Long- nơi
anh ruột là Ngô Đình Thục là giám mục.
24
Bài tập lớn: Phương pháp dạy học Trần Thị Thu Hà – Lớp CLC – K54 – Lịch sử
Năm 1945 bị Nhật loại không cho làm thủ tướng chính phủ thân Nhật sau
cách mạng tháng 8, bị lực lượng cách mạng tạm giữ một thời gian rồi được phóng
thích về sống ẩn ở Đà Lạt với em là Ngô Đình Nhu. Năm 1950 sang Mỹ sống tại
các chủng viện lớn ở Mỹ và học đại học Michêgan Hoa Kì.
Năm 1954 được Bảo Đại mời làm thủ tướng – do Mỹ chỉ đạo thay Bửu Lộc.
Sau khi cầm quyền năm1955 đã lật đổ Bảo Đại. Từ đó Ngô Đình Diệm trực tiếp
đối đầu với cách mạng Việt Nam, ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ và ý đồ chia
cắt đất nước.
Được nuôi dưỡng từ thế lực ngoại bang qua bàn tay trùm gián điệp hồng y
Spellman, y và gia đình là tiêu biểu cho tầng lớp tư sản, đại địa chủ đội lốt thiên
chúa giáo, có nhiều nợ máu với nhân dân và mang ý thức phục thù. Do đó để duy
trì chính quyền, Ngô Đình Diệm đã thi hành nhiều chính sách và biện pháp đi
ngược lai truyền thống dân tộc. Ngay khi được Mỹ đưa về làm thủ tướng rồi làm
tổng thống bù nhìn Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách “gia đình trị” gồm 4 anh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status