PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa một luận điểm cơ bản chúng ta vẫn tiếp tục khẳng định được thể hiện
trong văn kiện đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng là "Tiếp tục sự nghiệp
đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng văn minh vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa". Để
hoàn thành sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa tiến tới một xã hội phát triển vững mạnh, toàn diện thì chúng ta không thể
không quan tâm đến nhân tố con người, vì con người được khẳng định, vừa là
động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp phát triển. Tư tưởng "đặt con người
vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước" trở thành quan điểm
chỉ đạo định hướng xã hội phát triển vững bền. Trong nguồn nhân lực con
người thì trí thức là nguồn nhân lực cao, trực tiếp thực hiện công cuộc đổi mới
và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khi nói đến vị trí vai
trò của trí thức thì không thể không nghiên cứu vị trí, vai trò của trí thức nữ
thành giáo dục đào tạo, bởi vì họ chính là một bộ phận của đội ngũ trí thức nói
chung và là một bộ phận của đội ngũ trí thức nói riêng.
Như chúng ta đều biết, từ xưa đến nay người phụ nữ Việt Nam luôn là
trung tâm, là linh hồn chủ đạo của gia đình và xã hội, đặc biệt họ có vai trò vô
cùng quan trọng trong công cuộc cách mạng XHCN. Trong xã hội trước phụ
nữ là trí thức rất hiếm nến không muốn nói là không có. Nhưng ở thời đại
ngày nay, nước ta đã xuất hiện đội ngũ cán bộ giáo viên nữ trong ngành giáo
dục đào tạo và họ chiếm số lượng lớn. Đội ngũ trí thức nữ ngành giáo dục đào
tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta hiện nay. Một triết gia đã từng nói rằng:
1
Giáo dục một người đàn ông thì được một con người.
Giáo dục một người đàn bà thì được một gia đình.
Giáo dục một người thầy thì được cả xã hội.
Điều đó chứng tỏ rằng đội ngũ cán bộ giáo viên nữ ngành giáo dục -
trân trọng này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Dưới góc độ chính trị xã hội, khóa luận đi vào nghiên cứu một bộ phận
trong đội ngũ trí thức với tư cách là: một lực lượng chính trị xã hội; một bộ
phận của lực lượng lao động đồng thời là những người góp phần to lớn vào
việc đào tạo nguồn nhân lực.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên khóa luận cần tập trung giải quyết những
vấn đề như:
- Khái niệm trí thức, trí thức nữ, trí thức ngành giáo dục đào tạo.
- Vị trí vai trò của trí thức nữ ngành giáo dục đào tạo trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Thực trạng về vị trí, vao trò của nữ cán bộ giáo viên ở nước ta hiện
nay.
- Những yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra đối với nữ
cán bộ giáo viên.
3
- Một số giải pháp chủ yếu nhằm giúp phụ nữ trí thức nữ ngành giáo
dục - đào tạo phát huy tốt vai trò của mình đối với công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
3. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề vị trí vai trò của đội ngũ trí thức và trí thức nữ đến nay đã có rất
nhiều đề tài nghiên cứu như:
- Phạm Tất dong: Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng (Nxb Chính
trị Quốc gia Hà Nội, 1995).
- Phụ nữ Việt Nam và khoa học - Trung tâm nghiên cứu Đại học Quốc
gia Hà Nội.
- Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI - Hội liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam.
Góp một phần vào việc nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức nữ ngành
giáo dục đào tạo nói chung.
Nâng cao nhận thức cho bản thân trong hoạt động thực tiễn sau này.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Đưa ra thực trạng và luận giải pháp chủ yếu để họ phát huy tốt vai trò
của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đó phục vụ tốt cho
công việc chuyên môn.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo. Nội dung chính của
khóa luận được chia làm 3 chương:
5
Chương 1: Vai trò của đội ngũ trí thức ngành Giáo dục và đào tạo trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng cơ cấu và chất lượng đội ngũ trí thức ngành giáo
dục và đào tạo ở nước ta hiện nay.
Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai
trò của đội ngũ trí thức nữ ngành giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC NGÀNH GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí, vai trò của trí
thức, trí thức nữ
Lịch sử xã hội phát triển cùng với sự phát triển của các trí thức mà con
người đã tích lũy được trong quá trình lao động và đấu tranh. Sự phát triển
của trí thức đã góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, từng bước giải phóng con
khối liên minh trí thức để giải phóng dân tộc. Mặt khác đội ngũ trí thức đã
ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm và có nhiều chính sách quy định
quyền lợi và nghĩa vụ của trí thức. Do đó đội ngũ trí thức tăng lên về số lượng
và mạnh lên về chất lượng. Nói cách khác là vị trí, vai trò của trí thức ngày
càng được xây dựng quan tâm đánh giá cao.
Do vị trí, vai trò của trí thức đã được quan tâm và phát triển nên thành
phần của đội ngũ trí thức cũng thêm đa dạng, không chỉ có trí thức là nam giới
mà có cả trí thức là nữ giới. Trong cm xã hội chủ nghĩa phụ nữ đóng vai trò vô
cùng quan trọng, họ cũng như nam giới có thể tham gia vào công cuộc xây
dựng chủ nghĩa ch. Để hoạt động của họ mang lại kết quả cao thì phải dạy cho
họ kiến thức, giáo dục trình độ chuyên môn cho họ, nâng cao trình độ nhận
8
thức, trình độ học vấn cho họ thì mới phát huy tiềm năng vốn có của đội ngũ
phụ nữ. Vì vậy mà ngay từ thời Mác - AWnghen còn sống, các ông luôn vận
động và hướng cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội
và chỉ khi có trình độ học càng nhiều vào các hoạt động xã hội và chỉ khi có
trình độ học vấn thì họ mới có khả năng làm tốt công việc của xã hội.
Để phụ nữ có vị trí, vai trò đặc biệt trong gia đình và trong xã hội, nhất
là trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thì trước hết giải phóng phụ nữ về mặt
gánh nặng gia đình để họ có điều kiện tham gia vào các hoạt động xã hội. Mặt
khác phải thực hiện được chính sách bình đẳng nam - nữ để họ thoát khỏi tư
tưởng trọng nam khinh nữ từ bao đời nay. Ănghen cho rằng: "Chừng nào mà
phữ nữ vẫn còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất xã hội và còn bị bó hẹp
trong công việc riêng từ gia đình thì chừng đó phụ nữ chưa thể giải phóng và
cũng chưa thể hiện có sự bình đẳng giữa nam và nữ" [19; 58].
Vị trí vai trò của phụ nữ đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn cm xã hội
chủ nghĩa. Lênin đã khẳng định rằng: "Nếu một phần lớn phụ nữ lao động không
tham gia một cách tích cực thì không thể có cách mạng xã hội chủ nghĩa được"
[16; 22]. Lênin đã nhận thấy vai trò to lớn của phụ nữ đối với sự nghiệp cm xã
hội chủ nghĩa nhờ tính chắc chắn và sự giác ngộ của mình.
đào tạo và bồi dưỡng gắn bó với sử dụng nhân tài và đó là việc quan trọng đầu
tiên phải làm vì nó quyết định sự tồn vong hưng thịnh của một giang sơn xã
tắc. Vì, “hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước
mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy”. Vậy nên, các đấng
10
thánh đế, minh vương không ai không coi trọng việc bồi dưỡng nhân tài, tin
dùng kẻ sĩ, vun đắp nguyên khí là việc nên làm trước tiên.
Truyền thống coi trọng trí thức được thừa kế từ đời này sang đời khác,
từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó là một nét đẹp của truyền thống văn hóa
Việt Nam, bởi lẽ trí thức Việt Nam đã góp phần xứng đáng sức lực, trí tuệ và
tính mạng vào cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ, trí thức Việt Nam đã góp phần đắc lực vào việc phát
triển khoa học quân sự, chế tạo, cải tiến vũ khí cũng như phát triển kinh tế,
văn hóa xã hội… trong sự nghiệp xây dựng đất nước trí thức Việt Nam thật sự
là thành viên không thể thiếu được. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Kiến thiết cần
có nhân tài” cần có tri thức, những nhà khoa học, kĩ thuật giỏi, những nhà văn,
nghệ sĩ có tài để phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng
suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống nhân dân.
Rõ ràng là bất luận trong hoàn cảnh chiến tranh hay hòa bình đều cần
đến các chuyên gia – những nhà trí thức. Sự liên minh chặt chẽ giữa trí thức
với giai cấp công nhân và giai cấp nông dân đã góp phần to lớn trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, trở thành nền tảng của cách
mạng Việt Nam.
Ngay từ khi mới ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi tri thức là một
“động lực” của cách mạng. Trong các văn kiện đầu tiên của Đảng ta đã đặt
vần đề: phải hết sức liên lạc với trí thức lôi kéo về hàng ngũ của giai cấp công
nhân và giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động tiến hành cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo, đảng luôn coi trọng việc giác
ngộ trí thức, khởi động ở họ tinh thần yêu nước và tiềm năng cách mạng, giáo
dục lý tưởng cách mạng, tập hợp họ vào hàng ngũ cách mạng, làm cho họ thực
quen mấy nghìn năm để lại vì thế nó ăn sâu vào đầu óc mọi người, mọi gia
đình, mọi tầng lớp. Bởi vậy cuộc đấu tranh chống phân biệt đối xử với phụ nữ
là một cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn để xóa bỏ được những tư
tưởng lạc hậu, bảo thủ còn tồn tại dai dẳng trong xã hội ta.
Xóa bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ chính là giải phóng cho người phụ
nữ khỏi tư tưởng tự ti, rụt rè, không tin tưởng ở khả năng của mình, không
giám đấu tranh cho quyền lợi của mình. Giành quyền bình đẳng chống phân
biệt đối xử với phụ nữ không thể trông chờ ai làm hộ chính mình mà chính chị
em phụ nữ phải vươn lên tự giải phóng. Phụ nữ phải đấu tranh tự cường, tự lập
để giữ quyền lợi của mình.
Thực hiện quyền bình đẳng giữa nam và nữ là mục tiêu của phụ nữ Việt
Nam, nhưng lực lượng cơ bản để thực hiện mục tiêu đó trước hết là người phụ
nữ. Thực tế gần 60 năm qua chứng minh, khi tư tưởng, tình cảm của người
phụ nữ được thức tỉnh, họ sẽ không còn thụ động, tiêu cực mà giám nghĩ,
giám nói, giám làm, phát huy tài năng sáng tạo của mình đóng góp cho xã hội.
Sự giác ngộ cách mạng tự ý thức về thân phận nô lệ và địa vị thấp kém họ còn
gánh chịu là những yếu tố cơ bản kích thích họ đứng lên làm chủ xã hội, làm
chủ bản thân mình.
Hồ Chí Minh đã nói: về phần mình chị em phụ nữ không nên ngồi chờ
Đảng và chính phủ ra chỉ thị giải phóng cho mình mà phải tự mình, phải tự
cường, phải đấu tranh.
Thực tế cho thấy chỉ khi phụ nữ đã hoàn toàn được giải phóng thì đội
ngũ trí thức nữ mới phát triển cả về số lượng và chất lượng. Do tư tưởng trọng
nam khinh nữ của thời kì phong kiến mà đội ngũ trí thức nữ không được hình
thành và phát triển. Trong suốt 10 thế kỉ, nếu tính từ khoa thi đầu tiên của
13
triều Lí ( năm 1075) đến khoa thi cuối cùng của nhà Nguyễn ( năm 1919), các
triều đại phong kiến nước ta đã tuyển chọn được 2. 898 hiền tài. Nhưng trong
số đó lại không có một phụ nữ nào mà hiền tài lại toàn là nam giới. Đặc biệt ở
thế kỉ 16 có bà Nguyễn Thị Duệ đã giả trai thi đỗ tiến sĩ, nhưng sau khi bị phát
chất lượng, đã thể hiện chính sách của Đảng và nhà nước ta là rất đúng đắn
trong vấn đề giải phóng phụ nữ. Vấn đề phụ nữ đã được đưa vào Hiến pháp
năm 1946, 1960, 1986 và 1992 của nước Việt Nam với những điều khoản cụ
thể tạo cơ sở pháp lí quan trọng cho mọi quyền và nghĩa vụ hoạt động của phụ
nữ trên mọi lĩnh vực. Nó còn được đưa vào các bộ luật, các luật như bộ luật
hình sự (năm 1986), Bộ luật dân sự (năm 1994), luật hôn nhân và gia đình
( năm 1996), luật lao động (năm 1994)…Đã có nhiều điều khoản quy định các
quyền và bảo vệ quyền lao động, quyền sống, quyền hạnh phúc của phụ nữ
trong cộng đồng.
Nhờ đó mà phụ nữ có điều kiện để khẳng định mình, để lấy lại địa vị
của mình trong gia đình và trong xã hội đã bao đời nay bị mất. Đặc biệt là
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay vị trí vai trò
của người trí thức nữ nói chung và trí thức nữ ngành giáo dục đào tạo nói
riêng hết sức to lớn, nó thúc đẩy sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong những năm đổi mới đất nước trí thức nữ Việt Nam, đặc biệt là nữ
cán bộ giáo viên ngành giáo dục đào tạo tuy có nhiều cơ hội để phát triển
nhưng cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách. Nhưng được sự
quan tâm của Đảng và Nhà nước, hơn nữa lại kế thừa truyền thống yêu nước,
15
anh hùng, bất khuất, trung hậu đảm đang, truyền thống cần cù lao động, trí
thông minh sáng tạo của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử mà đội ngũ trí thức
nói chung và trí thức nữ ngành giáo dục nước ta hiện nay đã vươn lên vượt
qua khó khăn, thử thách góp phần không nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước. Cũng qua đó mà họ khẳng định được vị thế vai trò của
mình đối với sự phát triển của xã hội.
Trí thức nữ ngành giáo dục đào tạo là một bộ phận của đội ngũ trí thức
cả nước đang hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, họ chiếm một tỉ lệ
không nhỏ trong tổng số trí thức nữ nói chung. Cùng với sự phát triển của đất
nước họ đã vươn lên cả về số lượng và chất lượng.
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa hoạc – công nghệ đang diễn ra nhanh
của mỗi quốc gia và dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, mà có nhiều
định nghĩa khác nhau về trí thức. Trong cuốn từ điển triết học đã giải thích
“Trí thức là tập đoàn xã hội gồm những người lao động trí óc. Giới trí thức
bao gồm: kĩ sư, kĩ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, thầy giáo và là người làm
công tác khoa học và là một bộ phận viên chức”. [37; 15]. Lênin khi nói về trí
thức, đại diện người đã khái quát: “ Trí thức là tất cả những người có học thức
đại diện cho những người tự do nói chung, đại diện cho những người lao động
trí óc khác với lao động chân tay”[15; ]
Nhìn chung trong nhiều định nghĩa cho thấy trí thức có một số đặc
trưng cơ bản sau: là một tầng lớp xã hội, lao động trí óc phức tạp, có học vấn
17
và chuyên môn cao, tạo ra những tri thức tuyên truyền và ứng dụng khoa học
thúc đẩy nhanh sự phát triển của xã hội.
Trí thức là người lao động trí óc, nhưng không phải người lao động trí
óc nào cũng đều là trí thức. Bởi vì, lao động trí óc là khái niệm bao gồm tất cả
các mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp. Những người lao động trí óc
giản đơn mang tính chất thừa hành, chưa phải là trí thức. Chỉ những người nào
lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, cần thiết cho
lĩnh vực lao động ấy, mới có khả năng trở thành trí thức. Nhưng trình độ học
vấn mới là điều kiện cần chứ chưa đủ để trở thành trí thức. Vì có nhiều người
có trình độ học vấn cao đẳng, đại học hoặc cao hơn nữa nhưng vì nhiều lí do
nào đó họ lại không tham dự vào lao động trí óc phức tạp. Vì vậy muốn trở
thành trí thức còn phải có một điều kiện nữa có ý nghĩa quyết định đó là lao
động sáng tạo.
Lao động sáng tạo của trí thức sẽ đưa lại nội dung khoa học mới, tiến
bộ, hữu ích, truyền đạt lại nó trong xã hội và ứng dụng vào thực tiễn để nâng
cao chất lượng hoạt động xã hội tương ứng. Lao động sáng tạo của trí thức
còn có khả năng phức tạp của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa. Đặc trưng
lao động sáng tạo ấy của trí thức là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt tầng
lớp này với các nhóm xã hội khác.
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục
đại học và sau đại học gọi là giảng viên, giáo sư, phó giáo sư là các chức danh
của nhà giáo đang giảng dạy, đào tạo đại học và sau đại học. [14;]
19
Trước cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, sự có mặt của phụ nữ trong
giới trí thức là rất hiếm. Chỉ có một số chị em hoạt động trong các lĩnh vực
giáo dục, y tế, văn hóa với số lượng không nhiều. Nhờ có công cuộc giải
phóng phụ nữ và chính sách nam nữ bình đẳng đã đem lại một số nét mới
trong cơ cấu đội ngũ trí thức. Đó là sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng
cán bộ nghiên cứu nữ, học sinh sinh viên và cán bộ giảng dạy, giáo viên nữ
trong các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và phổ thông. Theo số liệu thống kê, tính đến nay trí thức nữ ngành
giáo dục đào tạo chiếm 70% toàn bộ giáo viên trong ngành. Điều đó nói lên
một phần năng lực của chị em, một phần thể hiện sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước để đảm bảo quyền bình đẳng nam – nữ trong phân công lao động xã
hội. Nhưng con số đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của đội ngũ
nữ giáo viên ngành giáo dục đào tạo, họ vẫn còn nhiều mặt hạn chế chưa phát
huy hết khả năng của mình.
Từ những khái niệm nêu trên ta thấy rằng trí thức nữ ngành giáo dục
đào tạo là một bộ phận của trí thức nữ nói chung và là một bộ phận quan trọng
của đội ngũ trí thức nữ nói riêng. Do vậy trí thức nữ ngành giáo dục đào tạo có
mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với đội ngũ trí thức và trí thức nữ.
Họ đều là những người lao động trí óc phức tạp và sản phẩm họ làm ra mang
tính sáng tạo.
1. 2. VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC NỮ NGÀNH GIÁO DỤC
ĐÀO TẠO TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI
HÓA ĐẤT NƯỚC
Phụ nữ ngành giáo dục đào tạo là một bộ phận của phụ nữ Việt Nam
với lao động mang nét đặc thù của một nghề nghiệp mà xã hội tôn vinh từ bao
đời nay với tên gọi quen thuộc là “nhà giáo”, bản thân tên gọi đã mang dấu ấn
xu thế tất yếu, đồng thời cũng mở ra triển vọng và cơ hội mới để phụ nữ phát
triển tài năng và trí tuệ.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước đòi hỏi người lao
động không chỉ có sức khỏe mà điều quan trọng là cần có tri thức, kĩ năng,
trình độ học vấn, chuyên môn kĩ thuật. Nói cách khác nguồn nhân lực phải có
chất lượng cao. Nguồn nhân lực đó như hội nghị trung ương khóa VIII đã chỉ
ra: “ Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt
đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn
liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại”.
Để làm được việc đó bên cạnh chính sách giáo dục của Nhà nước thì
phải kể đến vai trò của trí thức nữ ngành giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang cần có
những chuyên gia giỏi về kinh tế, quản trị, chính trị, giáo dục, văn hóa, y tế,
những nhà quản lí có đầu óc thực tế. Đồng thời còn đông đảo những người lao
động có tay nghề thành thạo, có lương tâm nghề nghiệp có trình độ học vấn và
năng lực để đối phó kịp thời với những biến động trong sản xuất và hoạt động
nghề nghiệp.
Đất nước cũng không thể thiếu được các nhà hoạt động nghệ thuật, văn
nghệ sĩ xuất sắc đáp ứng yêu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân ta, cũng
như cuộc sống nội tâm về tình cảm tư tưởng của họ, bảo toàn và phát triển
những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam.
22
Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì
người phụ nữ ngành giáo dục đào tạo phải thực hiện tốt vai trò của mình đối
với giáo dục để tạo ra những nguồn nhân lực chất lượng cho đất nước. Vì giáo
dục là một trong những động lực chủ yếu để phát triển kinh tế và xã hội. Nên
đầu tư cho giáo dục sẽ tích lũy vốn, nhân lực là chìa khóa để duy trì sự tăng
trưởng và nâng cao thu nhập.
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cần phải phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mà trong sự nghiệp giáo dục thì đội
ngũ trí thức nữ góp phần chủ yếu để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Muốn đạt kết quả cao trong giáo dục thì phải tiếp tục thực
hiện các chủ trương đa dạng hóa các hình thức giáo dục, đào tạo, củng cố các
trường công, chuyển một số sang trường bán công, tiếp tục đầu tư xây dựng hệ
thống trung tâm chất lượng cao và xây dựng các trường chuyên lớp chọn, có
chính sách mở các trường dân lập, trường dạy nghề, tiếp tục mở các trung tâm
đào tạo, các trường đại học để đào tạo lại đội ngũ cán bộ. Khuyến khích các
hình thức tự học, học tại chức song phải đảm bảo chất lượng. Mở rộng dạy và
học ngoại ngữ, tin học, hạn chế tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học giữa chừng – có
biện pháp hữu hiệu để củng cố nâng chất lượng giáo dục trong vùng đồng bào
dân tộc.
Bên cạnh đó cũng cần tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường lớp,
trang thiết bị phụ cho dạy và học. Củng cố xây dựng đội ngũ thầy cô giáo, bồi
24
dưỡng nâng cao kiến thức trình độ chuyên môn, khả năng hướng dẫn thực
hành và phẩm chất đạo đức người giáo viên. Đảm bảo đủ số lượng và chất
lượng thầy cô giáo ở mỗi cấp học. Có chính sách khuyến khích các thầy cô
giáo đến công tác ở vùng sâu, vùng xa và các địa bàn khó khăn.
Thực hiện chủ trương trên, trí thức các nhà giáo mới đưa sự nghiệp giáo
dục phát triển, mới có thể góp phần chủ yếu vào đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thực tế cho thấy do đội ngũ nam trí thức ngành giáo dục phát triển sớm
nhưng lại có số lượng ít hơn đội ngũ giáo viên nữ. Vì vậy phụ nữ nói chung và
phụ nữ trí thức ngành giáo dục - đào tạo nói riêng là phải không ngừng nâng
cao hơn nữa trình độ học vấn của mình góp phần xây dựng thành công XHCN.
Cùng với việc nâng cao trình độ học vấn cho nữ giáo viên cũng cần thấy