NHỮNG CÁCH THÔNG DỤNG ĐỂ TẠO
TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG MÔN TIN HỌC LỚP 11
I. Đặt vấn đề.
Thế giới đang trên đà phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật,
công nghệ thông tin cũng từ đó mà phát triển theo, những ứng dụng
của tin học vào trong đời sống xã hội là rất lớn và dần trở thành một
vấn đề then chốt cho sự phát triển của mỗi quốc gia. Việt Nam là một
nước áp dụng công nghệ thông tin chậm so với rất nhiều nước trên thế
giới và trong khu vực,đã từng bước khắc phục, đem công nghệ thông
tin vào mọi mặt của đời sống xã hội và đã thu được những kết quả
nhất định, vậy để làm sao mọi người dân Việt Nam không còn xa lạ
với chiếc máy Vi tính nữa, mỗi con người Việt Nam đều biết sử dụng
máy Vi tính để sánh vai cùng sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
của đất nước, Bộ GD – ĐT đã đưa chương trình tin học vào phổ thông
từ năm 2006, đây là một môn học mới nên tránh khỏi sự mâu thuẫn về
nội dung chương trình SGK, PP dạy học của GV và khả năng tiếp thu
của học sinh. Đặc biệt là SGK tin học lớp 11 đã có rất nhiều những ý
kiến đóng góp từ giới chuyên môn và học sinh như: Nội dung chương
trình quá nặng với khả năng của học sinh, không phù hợp với học sinh
…vv, để giải quyết vấn đề này rất khó, và phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố, vậy theo tôi tại sao chúng ta không bàn cách nào để GV có thể
truyền đạt tốt những kiến thức đó tới học sinh, để học sinh có thể học
tốt được nội dung chương trình này. Thật ra mà nói thì nội dung
chương trình cũng không đến nỗi khó quá đối với học sinh, chúng ta
thử thông kê lại, toàn bộ chương trình Tin học 11 học sinh phải học có
bao nhiêu câu lệnh Pascal, không nhiều đến nỗi mà học sinh của
chúng ta không thể nhớ được, vậy nguyên nhân chính ở đây vẫn là PP
giảng dạy của GV Tin học chúng tôi còn chưa tốt, kinh nghiệm còn
chưa nhiều và nó lại khá mới mẻ với các em học sinh. Để giải quyết
vấn đề này là rất khó, trên phương diện là GV đã trực tiếp tham gia
giảng dạy môn này tôi cũng chỉ mạnh dạm đưa ra đề tài “ Những cách
2 2 3 3 4 4 5 6 7
đến đây học sinh có thể nhận biết rằng số thứ hai không phải là số lớn
thứ 2 nữa rồi, khi dó học sinh suy nghĩ được rằng tìm phần tử đầu tiên
khác phần tử thứ nhất chính là phần tử lớn thứ 2.
2. Lật ngược vấn đề.
Ví dụ: Sau khi học sinh đã được học hàm Upcase(x) cho kí tự viết
hoa tương ứng của x, vậy để có kí tự viết thường tương ứng của kí tự
viết hoa ta làm thế nào? Đây là một tình huống mà học sinh phải suy
nghĩ.
3. Xét tương tự .
Ví dụ: Từ đã biết là viết chương trình tính độ dài của một đoạn thẳng
khi biết toạ độ của hai điểm đầu, ta có thể cho học sinh viết chương
trìnhn nhập vào toạ độ của n điểm ( không có 3 điểm nào thẳng hàng).
Tính tổng độ dài của các đoạn thẳng được tạo ra từ n điểm đã cho.
4. Khái quát hoá.
Ví dụ: Khái quát các trường hợp tính diện tích của một tam giác khi
cho toạ độ của 3 đỉnh và tính diện tích của một tứ giác khi cho toạ độ
của 4 đỉnh, có thể gợi ra vấn đề “tính diện tích của một đa giác (bỏ
qua kiểm tra tính lồi) n đỉnh khi cho toạ độ của n đỉnh”.
Đây là một tình huống gợi vấn đề bởi vì các em làm tương tự như tứ
giác, dùng các đường chéo xuất phát từ một đỉnh (chẳng hạn đỉnh thứ
nhất) để chia ra các tam giác. Vấn đề là ở chỗ là làm thế nào để lưu trữ
toạ độ của các tam đỉnh? Giáo viên có thể gợi ý cho các em dùng một
mảng hai chiều có n dòng và hai cột để lưu toạ độ của mỗi điểm trên
một dòng, cột 1 là hoành độ cột 2 là tung độ của điểm đó. Từ đó các
em giải quyết vấn đề, sẽ đưa ra chương trình như sau (chương trình
chưa tối ưu)
Program dientichdagiac;
Uses crt;
Const n=9; s:real=0;
bởi 3 đỉnh M1,M3,M4 thì tam giác này đã biết cạnh M1M3 đã được
tính ở tam giác trước rồi, như vậy không cần tính độ dài của cạnh
này.Điều đó có nghĩa là từ tam giác thứ hai ta chỉ phải tính hai cạnh
không kề với tam giác liền trước đó. Một cạnh là cạnh của đa giác,
cạnh kia là đường chéo còn lại nối đỉnh M1. Saun những cải tiến
chương trình cho hợp lý, các em sẽ có chương trình như sau:
Program dientichdagiac;
Uses crt;
Const n=9; s:real=0;
Var array[1 n,1 2] of real; k: byte; c1:real;
Function canh(g,h:byte):real;
Begin
Canh:= sqrt( sqr(a[h,1] – a[g,1]) - sqr(a[h,2] – a[g,2]));
End;
Function dttg(var c1:real; k: byte):real;
Var c1,c2,c3,p:real;
Begin
c2:=canh(k,k-1); c3:=canh(k,1);
P:=(c1+c2+c3)/2;
Dttg:=sqrt(p*(p-c1)*(p-c2)*(p-c3));
C1:=c3;
End;
Program vaomang;
Begin
Writeln(‘ Vao hoanh do, tung do cho tung diem’);
For k:=1 to n do
Begin
gotoXY(9*k-8,4);
write(‘X’,k,’=’); readln(a[k,2]);
end;
nếu thầy đã ra quá nhiều bài tập xa lạ đối với yêu cầu của chương
trình, quá khó đối với đa số học sinh thì tác dụng gợi nhu cầu nhận
thức và khơi dậy niền tin vào khả năng huy động tri thức, kĩ năng của
bản thân học sinh trong tình huống bài tập nói chung sẽ bị giảm sút
hoặc không còn. Trong trường hợp, tình huống 5 chưa chắc đã là tình
huống gợi vấn đề.
Thứ hai, không nên tuyệt đối hoá chỉ một cách tạo tình huống gợi vấn
đề, đặc biệt là tình huống 5 với sự hạn chế có thể có như vừa được lưu
ý ở trên. Hơn nữa, trong tình huống 5, vấn đề được nêu sẵn trong bài
toán, học sinh ít có điều kiện rèn luyện khả năng phát hiện vấn đề.
Tình huống 6: Khi học sinh được yêu cầu tìm sai lầm trong một lời
giải, so Giáo Viên đưa ra thì tức là tình huống bao hàm một vấn đề,
bởi vì nói chung không có thuật giải để phát hiện sai lầm. Tình huống
này gợi nhu cầu nhận thức bởi lẽ bản thân học sinh cũng rất muốn tìm
ra sai lầm của lời giải, không thể chấp nhận một lời giải sai. Nó cũng
gây cho người học niềm tin ở huy động tri thức, kĩ năng sẵn có của
bản thân mình vì họ thấy rõ lời giải có sai lầm chỉ liên quan tới những
tri thức đã học.
Tình huống 7: sau khi phát hiện thấy một sai lầm học sinh đứng trước
một nhiệm vụ nhận thức: Tìm nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai
lầm. Đó là một tình huống gợi vấn đề bởi vì đối chiếu với 3 điều kiện
của tình huống gợi vấn đề, ta thấy:
- Học sinh chưa có sẵn câu trả lời và cũng không biết một thuật
giải nào để có câu trả lời;
- Học sinh có nhu cầu giải quyết vấn đề, họ không thể chấp nhận
để nguyên sai lầm mà không sửa chữa;
- Vấn đề này liên quan tới kiến thức sẵn có của họ, không có gì
vượt quá yêu cầu. Họ thấy nếu tích cực suy nghĩ và vận dụng
kiến thức đã học thì có thể tìm ra nguyên nhân sai lầm và sửa
chữa sai lầm.