GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 1
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
Tiểu luận Nâng giá tiền tệ và bình luận về sự kiện nâng giá đồng
Nhân dân tệ của Trung Quốc giai đoạn 2006- 2011
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 2
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
LỜ I MỞ ĐẦU
Trung Quốc, được coi là "công xưởng" của thế giới với ngành chế tạo có quy mô
khổng lồ, đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhữn g năm gần
đây. Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc được định giá thấp đã hỗ trợ rất lớn cho xuất khẩu
hàng hóa của Tr ung Quốc trong một thời gian dài.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều nước đặc biệt là Mỹ và nhiều quốc gia khác có
quan hệ thương mại với Trung Quốc cho rằng đồng Nhân Dân Tệ đang bị định giá thấp so với
giá trị thực tế của nó, gây r a nhiều bất lợi cho thương mại toàn cầu. Do vậy, Trung Quốc cần
có những chính sách nâng giá đồng Nhân dân tệ, đảm bảo công bằng cho giao dịch thương
mại quốc tế.
Chính vì vậy, nhóm học viên đã chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng giá tiền tệ và bình
Ví dụ:
Giả sử NHTW thiết lập: 1 USD = 20 500 VND, NHTW tiến hành nâng giá tiền tệ :
1USD = 18 000 VND
Khi đó, Tỷ giá hối đoái ở Việt Nam đã giảm:
VND nâng giá lên (20 500 – 18 000)/18000 = 13, 51%
USD giảm giá (18 000 – 20 500)/20 500 = - 12, 2%
Giá của VND đã tăng từ
1 VND = 4, 88 .10 -5 USD
lên 1 VND = 5, 56 . 10-5 USD
Tháng 10/1969, Mác Đức nâng giá lên 9,29%, tức là ở Đức tỷ giá hối đoái 1USD = 4
Mác đã giảm còn 1 USD = 3,66 Mác, tức là đô la giảm giá, ngược lại giá của Mác tăng từ 1
Mác = 0,25 USD lên 1 Mác = 0,27 USD.
Từ đó, ta có thể lưu ý:
•Nâng giá tiền tệ (revaluation) là thuật ngữ được dùng đối với tỷ giá cố định.
Trong chế độ tỷ giá cố định, tỷ giá là cố định, trong khi cung cầu ngoại tệ trên FOREX
luôn biến độn g, làm cho tỷ giá trung tâm lệch khỏi tỷ giá thị trường. Khi tỷ giá trung tâm quá
cao so với tỷ giá thị trường thì đồng nội tệ chịu áp lực nâng giá.
Tỷ giá trung tâm là tỷ giá do NHTW ấn định cố định, được áp dụng trong các chế độ
tỷ giá cố định. Thông thường, NHTW cho phép tỷ giá giao dịch trên FOREX được dao động
xung quanh tỷ giá trung một tỷ lệ ±% nhất định, gọi là biên độ dao động, thường từ 0,1% đến
5%. Các thành viên tham gia FOREX chỉ được m ua, bán trong biên độ dao động cho phép
xung quanh tỷ giá trung tâm.
1.2. Nguyên nhân
Một quốc gia nâng giá tiền tệ có thể do bốn nguyên nhân chính sau:
1.2.1. Áp lực của nước khác
Đây là một nguyên nhân phổ biến dẫn tới việc một nước phải thực hiện chính sách
nâng giá tiền tệ của mình.
Đức là một nước có cán cân thanh toán và cán cân thương mại dư thừa đối v ới Mỹ,
Anh và Pháp. Để hạn chế x uất khẩu hàng hóa c ủa Đức vào nước mình, Mỹ, Anh và Pháp thúc
ép Đức phải nâng giá Mác Đức. Sau khi nâng hàm lượng vàng của Mác Đức lên 5% vào năm
lai, nếu không có những biện pháp ngăn chặn kịp thời để làm nguội dần nền kinh tế trước khi
đưa nó về trạng thái phát triển cân bằng và ổn định. Khi một quốc gia đang tăng trưởng nóng,
một trong những biện pháp hữu hiệu là có biện pháp giảm xuất khẩu hàng hóa, đồng thời cần
phải khuyến khích nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại, bên cạnh đó cần ph ải hạn chế đầu tư
vào trong nước. Đó chính là lúc nhà nước đưa ra chính sách nâng giá tiền tệ. Để thực hiện
được những mục tiêu“giảm nhiệt” cho nền kinh tế. Tuy nhiên, tùy vào trình độ phát triển và
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 5
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
tình hình thực tế mà mỗi quốc gia cần phải biết cách lựa chọn thời điểm để tiến hành nâng giá
tiền tệ sao cho ph ù hợp nhất với hoàn cảnh của mình.
1.2.3. Xây dựng sự ảnh hưởng ra nước ngoài
Chính phủ của các nước có thể xem xét sử dụng biện pháp nâng giá tiền tệ để có thể
nâng cao sự ảnh hưởng của nước mình đối với các nước khác trên thế giới. Một khi thực hiện
biện pháp này sẽ tăng cường đầu tư và xuất khẩu vốn ra bên ngoài, từ đó sẽ khiến nền k inh tế
của nước nhận đầu tư sẽ ph ần nào bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế của nước đầu tư. Nguyên
nhân này chủ yếu xảy ra ở các nước có nền kinh tế đã phát triển, lượng vốn đang ở trạng thái
bão hòa, khôn g còn có thể tăng được h iệu quả của dòn g vốn đầu tư. Do đó, những nhà đầu tư
mong muốn di chuyển nguồn vốn của mình ra những nước có nền kinh tế kém phát triển hơn.
Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Việc nâng giá đồng Yên của Nhật Bản không những
đã tạo điều kiện cho Nhật Bản chuyển vốn đầu tư và giữ vững được thị trường bên ngoài mà
Nhật Bản đã tạo được một sự ảnh hưởng lớn đến các nước nhận đầu tư, nhằm xây dựng một
nước Nhật “kinh tế” trong lòng các nước khác.
1.2.4. Tránh luồng đầu tư ồ ạt từ nước ngoài vào nước mình
Nguyên nhân n ày có thể xảy ra ở những nước không m uốn phụ thuộc và chịu ảnh
hưởng từ nước có sử dụng đồng tiền đô la yếu. Những nước này muốn ngăn ch ặn nguồn vốn
nước ngoài ồ ạt chạy vào nước mình, chi phối lớn đến các ngành kinh tế của đất nước. Nếu
không có biện pháp ngăn chặn này thì các n ước mạnh hơn sẽ lợi dụn g xuất khẩu tư bản để gây
tác động đến tình hình k inh tế trong nước và từ đó ảnh hưởng tới chính trị, x ã hội làm cho đất
nước ph ải ph ụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Một trong những biện pháp được chính phủ áp
dụng là việc nâng giá đồng nội tệ.
triển giao dịch thương mại quốc tế, gây ra nhiều ảnh hưởng không tốt đến việc phân bố các
nguồn lực trong xã hội.
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 7
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
II. SỰ KIỆN NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ C ỦA TRUNG QUỐC GIAI
ĐOẠN 2006- 2011
2.1. Sức ép nâng giá đồng nhân dân tệ của Trung Q uốc
2.1.1. Sức ép từ phía Mỹ
Trong những năm gần đây nền kinh tế Trung Quốc phát triển rất nhanh, hàng hóa x uất
khẩu Trung Quố c tràn ngập trên thị trường quốc tế với ưu thế giá rẻ. Điều này khiến cho sức
ép buộc T rung Quốc phải nâng giá đồn g nhân dân tệ là rất lớn, đặc biệt là Mỹ thị trường tiêu
thụ sản phẩm Trung Quốc lớn nhất thế giới hiện nay. Việc Mỹ liên t ục ra tăng sức ép lên
Trung Quốc về việc nâng giá đồng nhân tệ xuất phát từ cả nguyên nhân về kinh tế lẫn chính
trị.
tự do giữa Trung Quốc v à ASEAN.
Ngoài ra, Mỹ cần gia tăng sức ép để các chính khách Mỹ tranh thủ lá phiếu cử tri
tháng 11/2010 là năm nước Mỹ có kỳ bầu cử nên các nghị sĩ phải chứng tỏ rằng họ quan tâm
tới việc làm của n gười dân và quyền lợi doanh nghiệp. Cho nên cả hành pháp và lập pháp Mỹ
đều m uốn nâng sức cạnh tranh của Mỹ và n găn ngừa khả n ăng cạnh tranh của Trung Quốc
bằng hối suất thấp.
Để thực h iện ý đồ của mình từ năm 2003, nhiều đoàn đại biểu Mỹ đã san g Trung Quốc
để kêu gọi Trung Quốc thay đổi chính sách kinh tế tài chính hòng đối phó với những vấn đề
song phương giữa hai nước. Trong đó nổi bật nhất là chuyến đi của bộ trưởng ngân khố Mỹ
John Snow sang Trung Quốc vào đầu tháng 9 năm 2003 nhằm đòi hỏi nước này phải thả nổi
tỷ giá đồng nhân dân tệ.
Ngày 30/3/2010 Chính phủ Mỹ thông báo sẽ tăng thuế đánh vào các mặt hàng giấy
nhập khẩu từ Trung Quốc từ 10,9% tới 20,4% với lý do trừng phạt các biện pháp trợ cấp của
Bắc Kinh dành cho các công ty trong nước.
Ngày 28/9/2010 Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật gây sức ép buộc Trung Quốc nâng
giá đồng nhân dân tệ. Dự luật sẽ tạo điều kiện cho Chính phủ Mỹ bổ sung thêm thuế quan đối
với hàng hóa nhập khẩu từ các nước bị coi là để giá đồng tiền của họ thấp hơn nhằm hỗ trợ
xuất khẩu. Mặc dù dự luật không đề cập cụ thể đến Trung Quốc nhưng sẽ tạo điều kiện cho bộ
tài chính Mỹ dễ dàng hơn trong việc quy kết Bắc Kinh lũng đoạn tiền tệ của mình và tạo điều
kiện cho các công ty Mỹ tìm kiếm các biện pháp thuế quan để trả đũa hàng hóa Trung Quốc.
2.1.2. Sức ép của châu Âu và các tổ chức quốc tế
Cũng tương tự Mỹ, các nước châu Âu cũng đang gặp phải rất nhiều vấn đề lo ngại
trước chính sách neo tỷ giá thấp hơn giá trị thật của Trun g Quốc.
Xét về tỷ trọng, mức độ thâm hụt của khối này với Trung Quốc cũng chiếm tới hơn
50% tổng kim ngạch thương mại. Và đây cũng là mức độ thâm hụt thương mại khó có thể
chấp nhận được đối với EU. Gần đây các nước Tây Âu cũng bắt đầu công khai tăng áp lực
cho việc yêu cầu Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ. Ủy ban Châu Âu còn mở cuộc điều
tra với nghi vấn Trung Quốc đang đưa ra biện pháp hỗ trợ thiếu công bằng với các công ty sản
xuất giấy của nước này. Trọng tâm điều tra của Ủy ban châu Âu là việc liệu các công ty sản
xuất giấy dùng cho sách và tờ rơi có nhận được hỗ trợ tài chính và bán sản phẩm giấy tại châu
những mục tiêu chính của kế hoạch năm năm lần thứ 12 là tăng thu nhập cũng như tăng tiêu
dùng của các hộ gia đình nhanh hơn tăng trường GDP. Trong tình hình xuất khẩu như hiện
nay thì việc tăng tiêu dùng của các hộ gia đình sẽ dẫn đến thiếu hụt sản xuất điều này sẽ làm
tăng nhanh giá hàng hóa sản xuất trong nước. Như vậy có nghĩa là để kích thích tiêu dùng thì
phải giảm xuất khẩu, một trong những biện pháp được áp dụng là tăng giá trị đồng nhân dân
tệ GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 10
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
2.2 Q uá trình nâng giá đồng C NY của Trung Q uốc giai đoạn 2006-2011
Ngày 21/7/2005, Ngân hàng Nhân dân T rung Quốc, sau gần một thập kỷ cố định tỷ
giá đồng nhân dân tệ (NDT) với đồng USD trong một khung dao động rất hẹp là 8,26 - 8,28
USD/nhân dân tệ kể từ năm 1996, đã tuyên bố khởi động cải cách cơ chế hình thành tỷ giá
đồng NDT, bắt đầu thực hiện chế độ thả nổi tỷ giá hối đoái có quản lý với việc lấy cung cầu
của thị trường làm cơ sở, tham khảo rổ tiền tệ để tiến hành điều tiết. Nâng tỷ giá hố i đoái của
đồng NDT so với đồng USD một lần lên 2%, tức là 8,11 NDT đổi 1 USD, được coi là giá
trung gian trong giao dịch giữa các ngân hàng ngoại hối được chỉ định trên thị trường ngoại
hối giữa các ngân hàng. Trước sức ép từ nhiều phía Trung Quốc tính toán rằng mức nâng giá
2% đủ để xoa dịu Mỹ và các đối tác thương mại của Trung Quốc, đồng thời báo hiệu rằng
đồng NDT sẽ còn được điều chỉnh trong tương lai.
Bước vào quý 3 của năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ bắt
nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp của Mỹ đã khiến cho các nước bao gồm cả
Trung Quốc phải áp dụng biện pháp khác thường. Cơ quan giám sát quản lý tiền tệ Trung
Quốc đã áp dụng cơ chế tỷ giá hối đoái đặc biệt là đồng NDT thực sự nhắm vào đồng USD,
mức dao độn g bình quân trong ngày của đồng NDT từ 0,5% thu hẹp xuống còn 0,3%, đồng
NDT trong một mức độ nhất định đã giữ được sự ổn định tương đối, đóng góp quan trọng cho
tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.
Nhưng, cùng với việc ph ục hồi mạnh mẽ của kinh tế thế giới và kinh tế Trung Quốc,
Từ tháng 9/2008 từ sau khi bùng nổ khủng hoảng tài chính vòng này đến tháng
6/2010, nhằm đối phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài ch ính, Trung Quốc đã áp dụng
cơ chế tỷ giá đặc biệt là đồng NDT thực sự nhắm vào đồng USD.
Ngày 19/6/2010, Ngân hàng TW Trung Quốc tuyên bố, trên cơ sở cải cách tỷ giá của
năm 2005 thúc đẩy hơn nữa cải cách cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái của đồn g NDT, tăng
cường tính đàn hồi của tỷ giá hối đoái đồng NDT.
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
CNY/USD
8,1826
7,9602
7,5811
đồng tiền khác. Lạm phát ở Mỹ hay Châu Âu làm giảm giá trị của trái phiếu dựa trên đồng
USD hay đồn g EUR. Ngay cả khi lạm phát ở Mỹ không tăng nhưng đồng USD mất giá thì
cũng làm giảm giá trị khối lượng tài sản này của Trung Quốc. Để giảm rủi ro này Trung Quốc
buộc phải giảm khối lượng giấy tờ có giá của mình bằng ngoại tê.
Ngoài ra với một đồn g nhân dân tệ mạnh hơn sẽ làm giảm lạm phát ở trong n ước. Một
đồng nhân dân tệ mạnh sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn và có lợi cho người tiêu dùng
cũng như doanh nghiệp Trung Quốc. Giá nhập khẩu giảm có ý nghĩa rất lớn với Trung Quốc
vì Trung Quốc là nước phải nhập khẩu nhiều loại hàng tiêu dùng, máy m óc, thiết bị cũn g như
nguyên liệu. Trong tương lai điều n ày còn có ý nghĩa lớn hơn vì Trung Quốc chủ trương kích
cầu trong nước đặc biệt là khuyến kh ích các hộ gia đình đẩy mạnh tiêu dùng. Một trong
những mục tiêu chính của kế hoạch năm năm lần thứ 12 là tăng thu nhập cũng như tăng tiêu
dùng của các hộ gia đình nhanh hơn tăng trường GDP. Trong tình hình xuất khẩu như hiện
nay thì việc tăng tiêu dùng của các hộ gia đình sẽ dẫn đến thiếu hụt sản xuất điều này sẽ làm
tăng nhanh giá hàng hóa sản x uất trong nước. Như vậy để kích thích tiêu dùng thì phải giảm
xuất khẩu, một trong những biện pháp được áp dụng là tăng giá trị đồng nhân dân tệ
3.2 Tác động đối với Việt Nam
3.2.1. Trong lĩnh vực xuất khẩu
Theo lý thuyết thì khi đồng NDT tăng giá, hàng xuất khẩu của Trung Quốc trở nên đắt
hơn, đây sẽ là cơ hội đối với ngành xuất khẩu của Việt Nam để thâm nhập vào thị trường
Trung Quốc đặc biệt là khi đồng tiền thanh toán là đồng đô la. Qua đó Việt Nam có thể hy
vọng giảm bớt thâm hụt mậu dịch đối với bạn hàng Trung Quốc.
Tuy nhiên, x uất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc cũng không có sự đột biến nào, các
mặt hàng đứng đầu như khoán g sản, nguyên liệu thô và nông sản thự phẩm tiểu ngạch giá trị
rất thấp và không ổn định. Giá cả của nhữn g hàng hóa này phụ thuộc nhiều vào giá thế giới và
mức độ co giãn cầu đối với giá cũng không nhiều. Như vậy, việc điều chỉnh nhẹ tỷ giá sẽ
không có tác động nhiều đến xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc.
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 13
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
3.2.2. Trong lĩnh vực nhập khẩu
Trung bình, nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc lớn gấp 2-3 lần xuất khẩu, và
Việt Nam. Việc điều chỉnh tỷ giá thậm chí 5% có thể sẽ không ảnh hưởng nhiều đến giá cả
các mặt hàng Trung Quốc trên thị trường. Trên thực tế, NDT đã lên giá so với VND khá mạnh
trong suốt thời gian qua, nhưng mức độ ảnh hưởng đến lạm phát không quá lớn.
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Nhàn Trang 14
Tiểu luận Tài chính quốc tế Hà Nội, 2012
KẾT LUẬN
Với vị thế ngày càng cao trong hoạt động thương m ại quốc tế, việc duy trì tỷ giá cố
định của Trung Quốc trong một thời gian dài đã tạo ra lợi thế rất lớn cho quốc gia này trong
việc khuyến khích x uất khẩu của các doanh nghiệp. Việc Trung Quốc tiến hành nâng giá tiền
tệ trong giai đoạn 2006- 2011 đã phần nào làm giảm áp lực của hàng x uất khẩu giá rẻ Trung
Quốc đang tràn ngập thị trường nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Có thể nói, đồng Nhân dân tệ tăng giá chỉ có tác dụng giảm nhẹ căng thẳng giữa các
đối tác thương mại và thể hiện cam kết của Trung Quốc trong việc tái cân bằng kinh tế toàn
cầu, nhưng tác dụng này ch ưa đủ lớn để có thể gây xáo trộn trên thị trường tài chính thương
mại toàn cầu, n goại trừ tác độn g tâm lý. Đối với Việt Nam, nhân dân tệ tăng giá buộc các
doanh nghiệp phải điều chỉnh cơ cấu xuất nhập khẩu v à chuyển h ướng sang những thị trường
khác, các doanh nghiệp cần theo dõi diễn biến tỷ giá và thị trường quốc tế để xây dựng chiến
lược phát triển dài hạn.