BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tiểu luận Cho vay kích cầu đối với các Doanh nghiệp của
các NHTM ở Việt Nam hiện nay (2008)
không có ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ vay sau này. Việc khách hàng sử dụng vốn
vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không t ạo ra
được ngân lưu để trả nợ cho ngân hàng.
Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho ngân
1
Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nh à nước v ề việc ban h ành Quy
chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày
03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban
hành theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. hàng. từ đó nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cố quan hệ vay vốn
giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
1.2.2 Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng
Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động
cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhà rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử
dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trong một
thời hạn nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn
trả lại cho khách hàng gửi tiền. Hơn nữa bản chất của qua hệ tín dụnglà quan hệ chuyển
nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được
hoàn trả, cả gốc và lãi.
1.3 Điều kiện vay
Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải bảo đảm các nguy ên
tắc như vừa nêu trên nhưng t hực t ế không phải khách hàng nào cũng có thể tuân thủ đúng
các nguyên tắc này. Do vậy để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng
chỉ xem xét cho vay khi khách hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhất định. Theo quy
chế cho vay khách hàng do N gân hàng Nhà nước ban hành, các điều kiện vay vốn khách
sản bảo đảm, phương thức trả nợ và các cam kết khác được các bên thỏa thuận. Ngoài ra
hợp đồng tín dụng cũng cần nêu rõ quyền và nghĩa vụ của hai bên; ngân hàng và khách
hàng.
Khách hàng vay có quyền: (1) từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng
với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, (2)khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín
dụng theo quy định của pháp luật. Về mặt nghĩa vụ, khách hàng vay có nghĩa vụ: (1) Cung
cấp đầy đủ, trung thực các thông t in, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm
về tính xác thực của các thông tin, tài liệu đã cung cấp. (2) Sử dụng vốn vay đúng mục
đích, thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết
khác; (3) Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; (4) Chịu trách
nhiệm trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thỏa thuận về việc trả
nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Về phía mình, ngân hàng có quyền: (1) Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng
minh phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vù đời
sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho
vay. (2) từ chối yêu cầu vay vốn cúa khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn hoặc
phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc
ngân hàng không có đủ nguồn vốn để cho vay; (3) Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử
dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng; (4) Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn
khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng; (5)
Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo quy định của
pháp luật;(6) Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thỏa
thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản đảm bảo vốn vay theo sự thỏa thuận
trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn; (7)
Miễn, giảm lãi suất cho vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định; mua
bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện nghĩa vụ đảo nợ,
khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của N gân hàng Nhà nước
Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng
giám đốc (Phó giám đốc) của tổ chức tín dụng.
Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết
định cho vay;
Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc
(Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc)
1.8 Các phương thức cho vay:
Phương thức cho vay là cách thức thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng của ngân
hàng. Hiện nay trong cho vay đối với doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại có thể thỏa
thuận với khách hàng về sử dụng loại phương thức cho vay. Tùy theo đặc điểm chu chuyển
vốn của khách hàng, ngân hàng và khách hàng có thể thỏa thuận lựa chọn phương thức cho
vay thích hợp. Đa số các NHTM đều có đưa ra các phương thức cho vay của mình cho
khách hàng tham khảo. Thực tiễn cho thấy, ngoài các phương thức cho vay phổ biến như
cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay theo dự án đầu tư, còn có
nhiều phương thức cho vay khác dành cho những hoàn cảnh vay vốn khác nhau được thực
hiện ở những ngân hàng khác nhau.
2. THỰC TRẠNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NĂM 2008.
Thực trạng cho vay của các NHTM
Tác động của lạm phát và thiểu phát đến lãi suất cho vay của NHTM.
Do tác động của lạm phát trong những tháng đầu năm 2008 nên lãi suất cao được coi
là công cụ hữu hiệu để kiềm chế lạm phát, các NHTM điều chỉnh lãi suất lên cao: 18% -
21%/ năm, cùng với việc tăng giá nguyên, nhiên vật liệu, đã làm tăng chi phí đầu vào của
doanh nghiệp (DN), làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá của Viêt Nam thấp, khó tiêu thụ.
Dẫn đến một bộ phận không nhỏ DN đã chọn cách sản xuất cầm chừng, năng lực đến đâu,
đầu tư đến đó. Việc suy giảm đầu tư cùng với sự suy giảm thị trường tiêu thụ do sức cầu có
khả năng thanh toán giảm, cùng với những tác động của khủng hoảng kinh tế - tài chính thế
giới về tài chính, chứng khoán, thị trường tiêu thụ thu hẹp, đã làm cho nhiều DNNVV phải
ngừng hoạt động, thậm chí phá sản.
vay theo LS thoả thuận đối với một số dự án sản xuất-kinh doanh có hiệu quả cao ".
Nhưng thế nào là dự án hiệu quả cao thì không có tiêu chí để xác định. Mặt khác, LS
thỏa thuận mà các TCTD mong muốn là không bị ràng buộc bởi trần 150%, còn đã là dự án
hiệu quả cao thì NH nào cũng sẵn sàng cho vay với LS thấp hơn trần khá nhiều mà không
cần sự cho phép của Quốc hội. Chính phủ chỉ đạo NH Thương mại (NHTM) dãn nợ, gia
hạn nợ để giúp các DN có vốn phục vụ SX và kinh doanh, nhằm ổn định nền kinh tế.
Điều này cũng phù hợp với ý kiến của DN và một số NHTM, nhưng theo QĐ
493/2005/QĐ-NHNN của NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng thì các khoản vay khi đến hạn mà DN không trả
được nợ thì phải chuy ển nợ quá hạn, trích dự phòng rủi ro, ảnh hưởng đến kết quả kinh
doanh, xếp loại, đánh giá TCTD.
Nếu không có những hướng dẫn để tháo gỡ khó khăn thì T CTD khó có thể chủ động
dãn nợ, gia hạn nợ cho DN được Ngay cả về vấn đề cơ chế điều hành LS hiện cũng còn nhiều ý kiến. Trong khi đại diện một số NHTM nhà nước thì cho rằng LSCB nên hạ (về
7%/năm) để giảm tiếp trần LS cho vay, đỡ khó khăn cho khách hàng và kích thích nhu cầu
vay vốn thì một số NHTM CP lại cho rằng LS huy động bình quân của các NH đang cao
nếu giảm LSCB thì NHTM sẽ lỗ
Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp năm 2008
Theo Bộ Công thương thì 11 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu
dùng ước đạt 872.600 tỷ đồng, tăng 30,9% so cùng kỳ năm 2007, nhưng nếu loại trừ yếu tố
trượt giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá của 11 tháng đầu năm 2008 chỉ tăng 6,2% so cùng
kỳ năm trước (bằng một nửa so những năm trước đây).
Hiện các DN xuất khẩu rất ít đơn nhập hàng. Đã xuất hiện tình trạng bị huỷ hợp
đồng nhập hoặc bên nhập hàng không thanh toán vì bản thân các DN nước ngoài cũng
không vay được NH để thanh toán. Hiện các DN XK dệt may, da giày, hàng cơ khí,
container, gạo, thuỷ sản là những DN đang khó khăn nhất.
Về nhập khẩu, các DN nhập sắt, thép, clanke, hoá chất hiện đang tồn kho lớn, giá
nhập cao, giá trong nước hạ thấp. Vì vậy, các DN này đang hết sức khó khăn, vừa không
với lãi suất thấp, đồng vốn cũng không ra được nền kinh tế như mong muốn. Do đó, khắc
phục suy thoái kinh tế lúc này thì CSTK thậm chí phải đi trước và đóng vai trò chủ đạo,
CSTT có vai trò hỗ trợ, khi đó mới có thể nhanh chóng tháo gỡ khó khăn cho DN hiện nay.
Lúc này cần thiết phải nới tỷ lệ cho vay chứng khoán, nới tỷ lệ tham gia mua cổ phần
của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài vào các ngân hàng thương mại Việt Nam để kích
thị trường chứng khoán khởi sắc. Các NHTM trong nước phải chấp nhận san xẻ thị phần để
lấp đi những yếu kém về năng lực tài chính, trình độ công nghệ và năng lực quản lý một
ngân hàng t hương mại hiện đại, biến họ từ đối thủ sang đồng minh hoạt động trên thị
trường tài chính Việt Nam. Một khi các nhà đầu tư được tiếp vốn từ ngân hàng, với những
điều kiện cho vay được đảm bảo, thì không chỉ có ngân hàng xử lý được tình trạng thừa
thanh khoản, mà còn tạo cú hích cho thị trường chứng khoán khởi sắc do thu hút các nhà
đầu tư quay lại thị trường, DN lại có điều kiện huy động vốn trung và dài hạn, và thu hút
một lượng lớn lao động có công việc làm.
3.2 Giải pháp từ chính các Ngân hàng
Chọn lọc một số đối tượng áp dụng cho vay kích cầu, hạn chế cho vay kích cầu đối với
vay kinh doanh chứng khoán, tài chính, ngân hàng, vay vốn để trả nợ các hợp đồng tín
dụng khác…
Ngân hàng thương mại nên mở rộng dịch vụ bảo lãnh tín dụng đối với các doanh
nghiệp để các doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, đặc biệt là các doanh
nghiệp xuất khẩu.
Để giải quyết lượng vốn huy động dư thừa trong thời điểm lãi suất cho vay quá cao,
các ngân hàng nên xem xét chính sách cho vay trong thời gian này ví dụ giảm lãi suất cho
vay, thời hạn trả nợ gốc và lãi được kéo dài, thẩm định các dự án tốt có thể cho vay với lãi
suất hấp dẫn… Nâng cao quản trị ngân hàng thương mại, trong đó trọng tâm là quản trị rủi ro nhằm
đạt hệ số an toàn vốn và các chuẩn mực an toàn tiến dần tới chuẩn mực quốc tế; Củng cố và
hoàn thiện bộ máy kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ.
Trong hoạt động tín dụng, rà soát lại chất lượng tín dụng, cần có sự nhìn nhận rõ
vốn chủ sở hữu phù hợp nhất. Hàng loạt các yếu tố khác không kém phần quan trọng trong quản lý nợ là thời hạn vay nợ, kỳ hạn trả nợ trả lãi, đồng tiền vay và trả nợ cũng cần được
chủ DNN&V quan tâm và lập kế hoạch cụ thể.
Nâng cao năng lực điều hành của doanh nghiệp cả về nhân lực cũng như về công nghệ
để bắt kịp xu thế kinh tế thế giới hiện nay.
DN phải nỗ lực hơn nữa để nâng cao năng lực, chủ động trong việc XD dự án, phương
án đầu tư phù hợp với năng lực vốn, công nghệ và con người. Đặc biệt phải minh bạch về
tài chính. Thuyết phục được NH về hiệu quả kinh doanh một cách rõ ràng những tiêu chí
như: khó khăn và thuận lợi của dự án, chi phí ban đầu, doanh thu, kế hoạch trả nợ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Thống Kê,(2007)
2. GS.TS. Lê Văn Tư, Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính, NXB Thống Kê, (2001).
MỤC LỤC
1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
2
1.1 Các khái niệm 2
1.2 Nguyên tắc vay vốn 2
1.2.1 Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng 2
1.2.2 Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồn g tín
dụng 3
1.3 Điều kiện vay 3
1.4 Thẩm định và quyết định cho vay: 3
1.5 Hợp đồng tín dụng: 4
1.6 Giới hạn và hạn chế cho vay: 5
1.7 Những trường hợp không cho vay: 5
1.8 Các phương thức cho vay: 6
2.
THỰC TRẠNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NĂM 2008.
6
2.1 Thực trạng cho vay của các NHTM 6