LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng, những phát hiện đưa ra trong luận văn là kết quả nghiên cứu của
tác giả.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tiến
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
còn nhận được được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân, tập thể trong và
ngoài trường.
Tôi xin cám ơn thầy cô, cán bộ ở khoa sau đại học, khoa Lịch sử, bộ môn
Nhân học trường đại học Khoa học xã hội & nhân văn Hà Nội đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Lâm Bá Nam – trưởng bộ môn
Nhân học trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn Hà Nội, đã tận tình
hướng dẫn giúp đỡ chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin cám ơn các hộ gia đình, các phòng ban xã Cổ Lũng, huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu và tạo điều kiện
thuận lợi nhất trong suốt quá trình khảo sát tại làng nghề.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn.
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tiến
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bq: Bình quân
đơn vị kinh tế tự chủ. Quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình tạo nên hiệu quả
không chỉ với sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, mà còn tác động
không nhỏ đến các quan hệ xã hội.
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta, vấn đề nông
nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới luôn là một
trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, một thực trạng phổ biến
đang diễn ra ở nhiều vùng nông thôn hiện nay, đó là sức hút từ khu vực kinh
tế nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp trồng lúa đang ngày càng suy giảm,
thực trạng người nông dân không thiết tha với đồng ruộng, bỏ ruộng, thoát ly
khỏi nông nghiệpdiễn ra ở nhiều địa phương, điển hình là các tỉnh Thái Bình,
Hưng Yên, Hà Nam…Việc người nông dân rời xa đồng ruộng của mình cũng
là điều dễ hiểu, bởi lẽ việc sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở độc canh cây
lúa không đem lại nguồn lợi kinh tế cao cho người nông dân, thậm chí còn bị
thua lỗ nhiều so với việc đầu tư công sức, thời gian làm công việc khác cho
nguồn lợi kinh tế cao hơn. Chính vì vậy, để có thể “ly nông bất ly hương”,
vừa canh tác nông nghiệp vừa có thể sống được trên chính mảnh đất làng xã
mà lại có nguồn thu nhập kinh tế ổn định và bền vững thì người nông dân
phải phát triển những nghề phụ, nghề thủ công truyền thống.
Hiện nay, cả nước có trên 3.000 làng nghề
1
, đóng vai trò tích cực trong
việc thúc đẩy kinh tế phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động ở khu
vực nông thôn. Riêng ở Thái Nguyên, theo thống kê của Hiệp hội làng nghề
tỉnh, tỉnh Thái Nguyên có hơn 100 làng nghề, các lĩnh vực ngành nghề chủ
1hp://langnghevietnam.vn
6
yếu bao gồm sản xuất và chế biến chè, đồ gỗ, mây tre đan Là một trong
những làng nghề truyền thống cấp tỉnh
2
, Bờ Đậu (thuộc xã Cổ Lũng, huyện
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi mong muốn trình bày cụ thể,
hệ thống về tình hình, lịch sử và quá trình phát triển của nghề làm bánh chưng
và vai trò của nghề với sự biến đổi kinh tế - xã hội làng Bờ Đậu - tỉnh Thái
Nguyên từ sau Đổi mới đến nay trong hệ thống các làng nghề truyền thống
của làng Việt ở Bắc Bộ.
Làng nghề bánh chưng Bờ Đậu là một trong những làng nghề nổi tiếng
của tỉnh Thái Nguyên và các vùng lân cận. Với sự phát triển các sản phẩm
làng nghề đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh, đời sống của
người dân cũng ngày một tăng lên vật chất và tinh thần, đặc biệt là sự phát
triển của làng nghề kéo theo sự phát triển chung của toàn tỉnh với những giá
trị về văn hóa và du lịch làng nghề. Hiện nay, cùng với quá trình đô thị hóa,
công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn dẫn đến những thay đổi về nhiều
mặt của làng nghề như vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi kết cấu hạ
tầng, mức sống của đời sống của người dân, văn hóa làng xã cũng có những
nét thay đổi so với truyền thống. Ngoài ra, trong luận văn chúng tôi cũng tìm
hiểu thực trạng phát triển của làng nghề để tìm ra những định hướng nhằm
phát triển làng nghề bền vững hơn trong tương lai với những vấn đề đặt ra
hiện nay như: môi trường làng nghề, du lịch làng nghề, thị trường của làng
nghề, văn hóa và kinh tế làng nghề…
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tôi chọn nghề làm bánh chưng và làng nghề
bánh chưng Bờ Đậu làm đối tượng nghiên cứu. Trong đó, tôi tập trung nghiên
cứu về nghề làm bánh chưng với những đặc diểm như: lịch sử hình thành, kỹ
thuật, nguyên liệu, phân công lao động, thu nhập, thị trường tiêu thụ và làm rõ
8
sự tác động hay vai trò của nghề bánh chưng với sự biến đổi kinh tế - xã hội
của làng nghề từ những năm 1986 đến nay, qua đó tôi cũng tìm hiểu những
tác động của sự biến đổi đó đến mọi mặt đời sống của người dân trong làng
nghề nhằm giúp ra những giải pháp và định hướng phát triển làng nghề bền
của làng nghề…cố gắng dựng lại bức tranh toàn cảnh về làng nghề.
Phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích cũng là phương pháp tác
giả ưu tiên sử dụng vì đây là phương pháp giúp tác giả thông kê những con số
biến đổi hàng năm về kinh tế, số lượng dân cư tăng giảm, số nhà, số của hàng
xây mới, số lượng sản phẩm làng nghề… qua đó làm cơ sở dữ liệu để phân
tích thực trạng và biến đổi, so sánh đối chiếu giữa các làng với nhau.
Phương pháp hữu hiệu nhất được tác giả sử dụng là phương pháp điền
dã dân tộc học. Đây là phương pháp giúp tác giả thu thập tài liệu và quan sát,
phỏng vấn trực tiếp các vấn đề trong luận văn. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng
các phương pháp liên ngành và các nguồn tài liệu của các ngành khoa học
khác nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác và xử lý tài liệu.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống đầu
tiên về một làng có nghề làm bánh chưng ở Thái Nguyên. Đây sẽ là một công
trình đóng góp vào kho tàng kiến thức về văn hóa, kinh tế - xã hội làng nghề
và nghề thủ công nghiệp của cả nước. Luận văn nghiên cứu về sự hình thành,
phát triển cùng những biến đổi về nhiều khía cạnh của làng nghề trong giai
đoạn hiện nay, nhằm đi giải quyết bài toán: Định hướng và phát triển làng
nghề trong những năm tới. Có thể nói đây là công trình nghiên cứu mang tính
mô tả và thực nghiệm để tạo cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo.
10
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3
chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa
bàn nghiên cứu.
- Chương 2: Sự hình thành nghề làm bánh chưng và quá trình tạo ra
sản phẩm.
- Chương 3: Tác động của nghề làm bánh chưng đến biến đổi kinh tế,
văn hóa - xã hội làng Bờ Đậu.
với xóm Dọc Cọ và Làng Ngói, phía Nam giáp với xóm Cổng Đồn, phía Tây
12
giáp xóm Cây Cài, phía Đông giáp xóm Bá Sơn. Các xóm trên đa phần là các
cư dân thuần nông nghiệp, nên vấn đề sử dụng lao động dư thừa từ các xóm
này cho công việc làng nghề bánh chưng thuận lợi vì giá thành nhân công rẻ.
Thứ hai là ruộng đất nông nghiệp cũng được giao khoán cho các hộ thuộc
xóm bên cạnh canh tác rồi lấy sản phẩm. Thứ ba, đây là nơi cung cấp một
phần nguyên nhiên liệu cho làng nghề như gạo nếp, than, củi và cũng là một
thị trường tiêu thụ các sản phẩm của làng nghề. Là vùng ngoại thành nên vấn
đề nông nghiệp chăn nuôi cũng phát triển, đặc biệt là ngoài nghề nông một số
hộ gia đình còn chăn nuôi lợn với số lượng lớn, thuận lợi cho việc cung cấp
các mặt hàng nông sản, là nguyên liệu sẵn có cho việc phát triển nghề làm
bánh chưng
Với vị trí tiếp giáp với những thị trường tiêu thụ bánh chưng lớn, có
một vùng có các cư dân có truyền thống ăn đồ nếp như người Tày, Nùng,
Thái, Sán Chay… phía các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ và tỉnh
Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng đã thúc đẩy cũng như yếu tố duy trì được
nghề làm bánh chưng tồn tại và phát triển mạnh mẽ như ngày nay.
Có thể nói rằng, nằm trong vị trí thuận lợi nên Bờ Đậu là làng nghề đã
có nhiều chuyển biến tích cực cả về kinh tế và xã hội trong những năm gần
đây. Dù có lợi thế của vùng đồng bằng cho phát triển nông nghiệp, nhưng
với diện tích không lớn (28 ha), dân số lên tới hơn 1 nghìn người (2011),
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bờ Đậu sang hướng đẩy mạnh sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (mà nghề chính là chế biến lương thực,
thực phẩm) và dịch vụ là một hướng đi đúng đắn. Bởi lẽ Bờ Đậu có lợi thế
về lao động, về nguyên liệu, lại thuộc vùng có thuận lợi về vị trí địa lý, với
thị trường tiêu thụ lớn là thành phố Thái Nguyên và các vùng lân cận. Nghề
sản xuất bánh chưng đã có mặt khá lâu ở Bờ Đậu và ngày càng phát triển,
mở rộng cả về quy mô và sản phẩm cũng như thị trường tiêu thụ.
13
----":,
3+,2;
Sự hình thành và phân bố tài nguyên đất phụ thuộc vào địa chất, địa
hình, nguồng nước do vậy theo kết quả điều tra và tổng hợp trên bảo đồ thổ
nhưỡng của huyện Phú Lương thì xã Cổ Lũng có diện tích tự nhiên là
1.696,92 ha
14
Tài nguyên của đất đa dạng, đất thuận lợi cho trồng lúa khoảng 572,6
ha chiếm 34,7% diện tích tự nhiên. Đất thích hợp trồng cây công nghiệp, cây
ăn quả, lâm nghiệp là 1022 ha chiếm 61,94% diện tích tư nhiên, đây là thế
mạnh của xã để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển cây công nghiệp
hàng hóa dài ngày.
+,<
Trên địa bàn xã có 2 nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và sinh
hoạt của nhân dân là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm
- Nguồn nước măt: Xã có nguồn nước mặt tương đối phong phú, có
sông Giang Tiên chảy quanh xã, có 5 hồ đập với diện tích 5 ha. Một nguồn
nước mặt khác là nước mưa, với lượng mưa bình quân trên 2000 mm/năm đã
bổ sung nguồn nước quan trọng cho sinh hoạt và sản xuất. Tài nguyên nước
tương đói dồi dào nhưng do địa hình, địa thế dốc, phân cắt mạnh, thảm thực
vật che phủ thấp, nên mùa khô cạn kiệt, việc khai thác sử dụng còn nhiều hạn
chế. Bên cạnh đó, xã có 60 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, nhưng do chưa có
kênh mương nên chưa phát huy khả năng thủy sản của xã.
- Nguồn nước ngầm: Có ở độ sâu từ 6÷12 m với chất lượng nước được
coi là đảm bảo vệ sinh, về trữ lượng nước tuy chưa xác định được chính xác
nhưng về mùa khô trữ lượng ít, một số nơi không đủ nước để phục vụ cho đời
sống sinh hoạt của nhân dân. Nguồn nước này chủ yếu khai thác từ giếng khơi.
+,0=
Xã có 342,25 ha diện tích rừng sản xuất. Diện tích rừng tự nhiên được
khoanh nuôi bảo vệ kết hợp với các chính sách giao đất giao rừng, các khu
con. Trong đó: đàn trâu, bò 291 con; đàn lợn 9.143 con, đàn gia cầm 67 ngàn
con. Tuy nhiên việc chăn nuôi chủ yếu là tự phát chưa có khu quy hoạch chăn
nuôi tập trung, chưa có đầu ra ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản là 60,74
ha, sản lương đạt 40 tấn. Hình thức nuôi chủ yếu là chăn thả, loài nuôi chủ yếu là
cá thịt và sản suất cá giống.
Xã Cổ Lũng là xã nằm phía Nam của huyện Phú Lương, tuy nhiên các
ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển còn chậm và mang tính
16
nhỏ lẻ, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp chưa có sự đa dạng, chủ yếu
tập trung ở các lĩnh vực như: Khai thác khoáng sản, may mặc, cơ sở gia công
cơ khí máy công cụ, sản xuất gạch, ngói với quy mô tự phát, không mang tính
quy hoạch đồng bộ.
Trong những năm vừa qua, khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp của xã đã có bước phát triển, ước tính năm 2010 giá trị ngành công
nghiệp, xây dừng trên địa bàn xã là 4,2 tỷ đồng mỗi năm tăng 5%. Hoạt động
thương mại trên địa bàn xã phát triển khá mạnh xong vẫn chiếm tỉ trọng thấp.
Xã có 1 hợp tác xã dịch vụ kinh doanh tổng hợp, 2 tổ hợp tác, 1 làng nghề và
403 cơ sở dịch vụ, thương mại như: buôn bán hàng tạp hóa, buôn bán lương
thực, thực phẩm, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận tải phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật, cung ứng giống, dịch vụ thủy lợi,
Tình hình cung ứng dịch vụ các sản phẩm đầu ra cho trồng trọt, chăn
nuôi chủ yếu là do một số tổ chức được chính quyền ủy quyền và tư thương
làm đầu mối hoặc trung gian bao tiêu sản phẩm. Trong những năm tới cần đẩy
mạnh các hoạt động dịch vụ thương mại, phát triển kinh tế. Chú trọng đưa các
sản phẩm nông nghiệp thành sản phẩm hàng hoá trên thị trường.
----CDEF372G&
Theo thống kê năm 2013, dân số của xã Cổ Lũng là người 9200, tổng
số hộ là 2320 hộ, mật độ dân số là 525 người/km². Làng Bờ Đậu hiện nay có
236 hộ và 864 khẩu. Tuy làng nhỏ nhưng do đặc thù của khu vực miền núi,
nên có các dân tộc sống xen kẽ với nhau, làng có 7 thành phần dân tộc, bao
b. Thuỷ lợi
Xã có hệ thống thủy lợi tương đố hoàn chỉnh. Xã có 3 hồ đập lớn nhỏ
chứa nước, 4 trạm bơm nước, với tổng diện tích đất thủy lợi là 3,50 vá đất sông
suối, mặt nước chuyên dùng là 44,78ha, với 4km kênh tưới đẫ bê tông hóa đã
cung cấp cho 50% diện tích gieo trồng. Hiện nay cơ bản đã chủ động tưới tiêu
cho sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt của nhân dân.
18
c. Y tế
Trên địa bàn xã có 01 trạm y tế phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của
nhân dân, cơ bản đảm bảo tiêu chuẩn, định mức. Hiện nay, trạm Y tế xã có 04
cán bộ y tế, trong đó có 1 trạm trưởng và 3 cán bộ chuyên môn phục vụ tốt công
tác khám, chữa bệnh cho nhân dân trong xã. Các trang thiết bị phụ vụ công tác y
tế chăm sóc sức khỏe cho người dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn; công tác y
tế hàng tháng đều tiến hành tổ chức kiểm tra định kỳ về vệ sinh an toàn thực
phẩm và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Duy trì và thực hiện tốt các
chương trình tiêm chủng mở rộng và các chương trình y tế quốc gia.Trong năm
2013 Trạm y tế xã đã khám và chữa bệnh cho trên 11.255 lượt người.
d. Cơ sở hạ tầng khác
+ Bưu điện - Hệ thống thông tin bưu điện: hiện nay, xã đã có điểm bưu
điện văn hoá, hệ thống thông tin liên lạc của xã trong những năm gần đây đã
được đầu tư, hoàn thiện, cơ bản đã đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của
người dân địa phương.
+ Hệ thống lưới điện: Trong những năm qua mạng lưới điện đã được
đầu tư xây dựng với hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm. Nhìn chung
hệ thống điện đã đảm bảo chuyển tải đủ điện năng cho các cơ quan Nhà nước,
đơn vị và các hộ dân trong xã có điện thắp sáng và phục vụ cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh trên địa bàn xã.
+ Hệ thống cung cấp nước sạch: Hiện nay xã chưa có hệ thống cung
cấp nước sạch, người dân chủ yếu sử dụng nước sinh hoạt từ hệ thống giếng
khơi của hộ gia đình. Trong những năm tới, cần đầu tư, xây dựng hệ thống
and Vincent J. Houben chủ biên (Passau University, 1999). Chương trình hợp
tác Việt - Pháp ,WG !.&3G_2:`EN:
(1996-1999) dưới sự chỉ đạo của GS Nguyễn Duy Quý, Lê Bá Thảo và
Philippe Papin, xuất bản thành tập sách $G_D#EN:a
.;2bcc do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên (Hà Nội,
20
2002). Chương trình hợp tác nghiên cứu NNN&?G !
D#EN:\30d?"FT.ef3/U của
các nhà khoa học trong Hội nghiên cứu Việt Nam của Nhật Bản
Riêng về mảng làng nghề, thủ công nghiệp làng xã, nghề cổ truyền làng
xã , có thể kể đến: [)f7/EJ?0@XN&?.&3(Phan
Gia Bền, 1957), $XN0F.&3 (Bùi Văn Vượng,
1998), O:`L.&3 (Lâm Bá Nam,
1999), .EFN2:`L (Nguyễn Quang Ngọc,
1993), +5@XN2,AL#0 (Chu Quang Trứ,
2000), XN07);ABG_2:`L (Nguyễn
Văn Chính, 1989)
Cũng đã có nhiều chuyên khảo, luận văn, luận án lấy đối tượng nghiên
cứu là từng làng xã cụ thể, như: g.:`L
(Nguyễn Hải Kế, 1996), gN'e.:`
EN:(Nguyễn Tùng chủ biên, 2003), +0FGB2#07
;0(2:.&T\3AB\f,W$3+ !N
$3&7W*+DU (Nguyễn Văn Chính, 1994), O&#
0GP2NaXN+09( (Lâm Bá Nam, 1992),
Xét về mảng biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội làng nói chung và làng
nghề nói riêng cũng có khá nhiều các tác giả nghiên cứu như Lương Văn Hy
(1992), Nguyễn Tùng (1999), Tô Duy Hợp (2000), Nguyễn Thị Phương
Châm (2009), B2#GI3\,&3, NXB Văn hóa Thông
Tin, Nguyễn Văn Sửu hN/I3N&?I3GE>@2#EAB
NODGP2Nh. Đề tài nghiên cứu Nhóm B, Đại học
nhau, giữa làng với nước, hệ thống chính sách của nhà nước về làng nghề.
Thứ tư, là các công trình nghiên cứu về các nghề riêng lẻ như nghề làm
nước mắm, nghề sơn, nghề kim hoàn, nghề làm chiếu, nghề mộc, nghề gốm ở
22
một địa phương nào đó…đây là các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tính
khái quát cao về một nghề cụ thể từ lịch sử hình thành, tới sự phát triển, biến
đổi của nghề ấy qua chiều dài biến thiên của thời gian.
Từ những công trình trên đã gợi mở cho tôi những kiến thức về chuyên
ngành, liên ngành, những phương pháp nghiên cứu, lý thuyết tiếp cận về lĩnh
vực làng xã, làng nghề, nghề, lao động và phương hướng phát triển ổn định,
bền vững làng nghề. So sánh và tiếp thu những thành tựu của các công trình
trước, cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào riêng biệt về làng nghề
làm bánh chưng nói chung, làng nghề bánh chưng Bờ Đậu nói riêng. Đây là
một dạng nghiên cứu trường hợp về một làng nghề của một tỉnh trung du
miền núi phía Bắc, đang trong thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ theo định
hướng CNH – HĐH.
1.3 Lý thuyết nghiên cứu
Làng nghề thủ công là một phần không thể thiếu của làng xã nông
nghiệp cổ truyền, vì nó phản ánh đầy đủ thuộc tính tự cung, tự cấp và tính
khép kín cố hữu của làng xã nông nghiệp. Mặt khác, làng nghề lại biểu hiện
tính năng động, sáng tạo của người nông dân trong quá trình thích ứng với
điều kiện địa lý, kinh tế xã hội nhất định, đồng thời thể hiện rất rõ yếu tố mở
của xã hội tiểu nông.
Trước tiên, các sản phẩm của nghề thủ công khi sản xuất ra là để đáp
ứng nhu cầu thường ngày của từng gia đình, sau đó mới trao đổi trong cộng
đồng làng xã. Sau này, do nhu cầu của xã hội nên nghề thủ công được chuyên
môn hoá, hình thành nên các làng nghề, phường/hội nghề. Ngoài ra, làng nghề
còn được hình thành bởi yếu tố địa - văn - hoá và sức thu hút của các trung
tâm chính trị, kinh tế. Đây là một quy luật bất biến, bởi làng nghề hay
phường/hội thủ công nảy sinh để đáp ứng nhu cầu nội tại của cộng đồng và
phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung
24
quanh và tới thị trường đô thị, thủ đô… và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có
thể xuất khẩu ra nước ngoài” [Trần Quốc Vượng, 2000, 27- 28].
Theo tác giả Trần Văn Vượng trong $XN0F,
quan niệm về làng nghề là “làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy, không
nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công
nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân). Nhưng
yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng
truyền thống ngay tại làng quê của mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác.
Khi nói đến một làng nghề thủ công truyền thống, ta không chỉ chú ý các mặt
đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt, tính hệ thống, toàn diện của làng
nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất
và thủ pháp nghệ thuật” [Trần Văn Vương, 2002, 13].
Theo tác giả Đặng Kim Chi trong Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước
về$.&3GN0, “có thể hiểu thuật ngữ “làng nghề” là
làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp
chiếm ưu thế về số lao động và có thu nhập so với nghề nông” [Đặng Kim
Chi, 3]. Điểm chung trong quan niệm của hai tác giả trên là đều nhấn mạnh
đến nguồn gốc hình thành và đặc điểm nổi bật của làng nghề là trình độ kĩ
thuật, còn quan điểm thứ ba lại nhấn mạnh đến căn cứ về mặt kinh tế.
Như vậy, có thể hiểu làng nghề: là những làng trước đây nguồn thu
cũng dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, nhưng do điều kiện khách quan nào đó
(vị trí địa lý thuận lợi, nghề phụ có thị trường tiêu thụ rộng lớn trên bình diện
vùng, miền ) các làng này đã chuyển hẳn sang sản xuất các sản phẩm mang
tính chuyên biệt và nguồn thu của các sản phẩm là nguồn thu nhập chính của
làng. Ngoài ra, có một số làng nghề có quá trình hình thành rất đặc biệt. Ví dụ
như làng gốm Bát Tràng ven sông Hồng: làng được hình thành trên cơ sở bãi
bồi ven sông, chỉ thuần tuý làm nghề gốm từ khi lập nghiệp (nhưng quê gốc
25