BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THỊ NGỌC
SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM
CHELAX SUGAR EXPRESS VÀ DELTA SOLU KĐẾN
MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ, SINH HÓA VÀ NĂNG
SUẤT GIỐNG CÀ CHUA F1 TOMATO TV-01 SAVI
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Duy Minh
Hà Nội, 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Duy Minh đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Ban giám hiệu trường
ĐHSP Hà Nội 2 cùng các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN
trường ĐHSP Hà Nội 2, Phòng sau đại học trường ĐHSP Hà Nội 2… đã tạo
mọi điều kiện trong thời gian tôi học tập chương trình thạc sĩ.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS. Nguyễn Văn Đính –
Trưởng khoa Sinh – KTNN đã giúp đỡ tận tình và những ý kiến góp ý vô
cùng quý báu trong suốt thời gian tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ThS. La Việt Hồng – Trưởng phòng
thí nghiệm Sinh lí thực vật và tập thể cán bộ Trung tâm hỗ trợ Nghiên cứu
khoa học và chuyển giao công nghệ - trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện
thuận lợi về thiết bị, phương tiện để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, góp ý
cho tôi trong thời gian qua.
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Ngọc
có thể trồng 4 vụ nên ở Việt Nam cây cà chua được xem là cây có giá trị kinh
tế cao. Diện tích cà chua lên tới hàng chục ngàn hecta, tập trung chủ yếu ở
đồng bằng Sông Hồng (Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh…) và trung du phía
bắc (Vĩnh Phúc, Phú Thọ…). Hiện nay có một số giống cà chua lai chịu nhiệt,
cho năng suất cao thích hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam và đang được
trồng phổ biến ở nước ta như: CS1, SB3, VM1, TV01 [2]
Muốn nâng cao năng suất đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu thì
ngoài việc sử dụng giống có năng suất cao còn phải sử dụng phân bón một cách
hợp lý.Trước kia người dân chủ yếu sử dụng phân bón đất, tuy nhiên sử dụng
loại phân bón này có những mặt hạn chế như cây thiếu dinh dưỡng xảy ra khi
khả năng hấp thụ của bộ rễ gặp giới hạn hoặc bị ngăn cản do rễ bị tổn thương
hoặc do đất bị thiếu oxi, thiếu nước, nhiệt độ quanh vùng rễ thấp làm giảm khả
năng hút nước [15]. Sử dụng các loại phân hữu cơ bón lá (Chelax, Delta,
Komic ) có nhiều ưu điểm hơn (hiệu suất sử dụng phân bón cao, chi phí thấp,
ít ảnh hưởng đến môi trường, cung cấp dinh dưỡng nhanh cho cây…), khắc
phục được những nhược điểm của phân bón đất. Nhanh chóng hiệu chỉnh hiện
tượng thiếu dinh dưỡng, khắc phục tình trạng thiếu dinh dưỡng, đáp ứng kịp
thời nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng giai đoạn.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đang sử dụng rộng rãi 2 loại phân
hữu cơ bón lá là Chelax và Delta. Đây là 2 loại phân hữu cơ bón lá nhằm kích
thích cây trồng ra hoa trái vụ, ra hoa đồng loạt, nuôi trái to hơn, ngọt hơn,
màu sắc sáng hơn và mùi vị thơm hơn… có thể sử dụng trên nhiều đối tượng
cây trồng như cà chua, dưa hấu, lúa… Tuy nhiên không phải tất cả các cây
trồng đều có phản ứng như nhau và cùng sử dụng với liều lượng như nhau.
Dùng phân bón lá như thế nào để có hiệu quả cao nhất, đồng thời không ảnh
hưởng đến chất lượng nông sản nói chung còn ít các tài liệu bàn đến. Chính vì
vậy tôi chọn đề tài: “So sánh ảnh hưởng của chế phẩm Chelax sugar
express và Delta solu K đến một số chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa và năng suất
giống cà chua F1 tomato TV-01 savi” nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng của 2
chế phẩm này đến các chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa và năng suất cây trồng từ đó
Cà chua là cây hằng niên (bộ NST 2n=24), ở nước ta việc phát triển
trồng cà chua còn có ý nghĩa quan trọng về mặt luân canh, tăng vụ và tăng
năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loại rau quả được khuyến
khích phát triển. Tuy nhiên, việc trồng cà chua chưa được phát triển mạnh
theo mong muốn vì cà chua trồng trong điều kiện nóng và ẩm ở nước ta dễ
mắc nhiều bệnh gây hại đáng kể như héo tươi, virus, khó phòng trị. Ngoài ra
mùa hè vùng nhiệt đới làm cà chua kém đậu trái vì nhiệt độ cao nên hạt phấn
bị chết (bất thụ)[1].
1.1.1. Đặc điểm thực vật học của cà chua
*Rễ: Rễ cây cà chua thuộc loại rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh,
khả năng phát triển rễ phụ rất lớn. Trong điều kiện tối hảo những giống tăng
trưởng mạnh có rễ ăn sâu 1 - 1,5m và rộng 1,5 - 2,5m. Vì vậy cà chua chịu
hạn tốt.Khi cấy rễ chính bị đứt, bộ rễ phụ phát triển và phân bố rộng nên cây
cũng chịu đựng được điều kiện khô hạn. Bộ rễ phát triển mạnh hay yếu đều có
liên quan đến mức độ phân cành và phát triển của bộ phận trên mặt đất, do đó
khi trồng cà chua tỉa cành, bấm ngọn, bộ rễ thường ăn nông và hẹp hơn so với
điều kiện trồng tự nhiên[21], [23],[24].
*Thân: Thân cây cà chua tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông,
khi cây lớn gốc thân dần dần hóa gỗ. Thân mang lá và chồi nách.Chồi nách ở
các vị trí khác nhau có tốc độ sinh trưởng và phát dục khác nhau, thường chồi
nách ở ngay dưới chùm hoa thứ nhất có khả năng tăng trưởng mạnh và phát
dục sớm so với các chồi nách gần gốc.
* Lá:Lá cà chua thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3 - 4 đôi lá
chét,ngọn lá có 1 lá riêng gọi là lá đỉnh, rìa lá chét đều có răng cưa nông hay
sâu tùy giống, phiến lá thường phủ lông tơ. Đặc tính lá của giống thường thể
hiện đầy đủ sau khi cây có chùm hoa đầu tiên.
*Hoa: Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính. Sự thụ
phấn chéo ở cà chua khó xảy ra vì hoa cà chua tiết nhiều tiết tố chứa các
ancaloit độc nên không hấp dẫn côn trùng và hạt phấn nặng không bay xa được.
Số lượng hoa trên chùm thay đổi tùy giống và thời tiết, thường từ 5 - 20 hoa.
râm, cường độ tối thiểu để cây tăng trưởng là 2.000 - 3.000 lux, không chịu
ảnh hưởng quang kỳ. Ở cường độ ánh sáng thấp hơn hô hấp gia tăng trong khi
quang hợp bị hạn chế, sự tiêu phí chất dinh dưỡng bởi hô hấp cao hơn lượng
vật chất tạo ra được bởi quang hợp, do đó cây sinh trưởng kém
*Nước: Yêu cầu nước của cây trong quá trình dinh dưỡng không giống
nhau. Khi cây ra hoa đậu trái và trái đang phát triển là lúc cây cần nhiều nước
nhất, nếu đất quá khô hoa và trái non dễ rụng; nếu đất thừa nước, hệ thống rễ
cây bị tổn hại và cây trở nên mẫn cảm với sâu bệnh.Nếu gặp mưa nhiều vào
thời gian này trái chín chậm và bị nứt. Lượng nước tưới còn thay đổi tùy
thuộc vào liều lượng phân bón và mật độ trồng
*Đất và chất dinh dưỡng: Cà chua có thể trồng trên nhiều loại đất khác
nhau nhưng thích hợp nhất vẫn là đất thịt pha cát, nhiều mùn hay đất phù sa,
đất bồi giữ ẩm và thoát nước tốt và chứa tối thiểu là 1,5% chất hữu cơ. Cà
chua trồng tốt nhất sau vụ cải bắp hay dưa leo, những loại cây cần bón nhiều
phân hữu cơ và đạm, cà chua thích hợp trên đất có pH = 5,5 - 7,0. Đất chua
hơn phải bón thêm vôi.
Cà chua cho thu hoạch khoảng 75-80 ngày sau khi trồng, tuy nhiên thời
gian cho thu hoạch cũng phụ thuộc điều kiện chăm sóc.
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng, y học và kinh tế của cà chua
* Giá trị dinh dưỡng
Cà chua là nguồn thực phẩm quan trọng, có chứa lượng đáng kể các
chất dinh dưỡng như: beta-caroten, vitamin C, một số muối và kali, lycopen
và các polyphenol, tỉ lệ các chất đạm, chất béo thấp.
- Gluxit: hàm lượng gluxit trong cà chua phụ thuộc vào giống và
điều kiện trồng trọt, chiếm khoảng 4 – 8%. Trong thành phần gluxit bao gồm
các chất:
+ Đường: 2 – 5%, phần lớn là fructozơ, glucozơ còn saccarozơ chiếm
rất ít (<0,5%)
+ Tinh bột: chỉ có ở dạng vết khoảng 0,07% – 0,26%. Trong quá trình
chín, tinh bột sẽ chuyển thành đường.
đây là chất cótác dụng chống oxy hóa rất quan trọng, làm tiêu diệt một số tế
bào có nguy cơ gây ung thư, những người có hàm lượng lycopen trong cơ thể
cao sẽ ít có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.
- Ngoài ra, các sắc tố hồng trong cà chua có tác dụng làm hòa tan mỡ
và đường giống như caroten.
* Giá trị kinh tế:
Cà chua có giá trị kinh tế cao, ở một số nước cà chua còn là mặt hàng
xuất khẩu.Ở Mỹ giá trị xuất khẩu của cà chua cao gấp 4 lần lúa mì và 20 lần
so với đại mạch. Cà chua còn là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế
biến, đồ hộp, mứt, bánh kẹo…[20].
1.1.4. Diện tích và năng suất ở Việt Nam và trên thế giới
Ở Việt Nam, cây cà chua được xếp vào các loại rau quả có giá trị kinh
tế cao, diện tích trồng cà chua lên đến chục ngàn hecta (dao động trong
khoảng 12.000- 13.000 ha) tập trung chủ yếu ở đồng bằng và trung du phía
Bắc. Hiện nay có một số giống chịu nhiệt mới lai tạo chọn lọc có thể trồng
tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ nên diện tích ngày càng được mở
rộng. Nhiều giống cà chua lai ghép chất lượng tốt được phát triển mạnh ở Đà
Lạt, Lâm Đồng. Một số giống cà chua chất lượng cao đã được xuất khẩu ra
thị trường thế giới.
Về sản lượng cà chua chiếm 1/6 sản lượng rau quả trên thế giới.Diện tích
trồng cà chua trên thế giới trung bình khoảng 2.5 triệu ha/năm, đứng vị trí thứ 2
sau khoai tây. Mỹ đứng đầu về năng suất và sản lượng, đứng thứ 2 là Hy Lạp
sau đó là Italia, châu Á đứng thứ nhất về sản lượng sau đó là châu Âu[20].
1.2.Khái quát về phân bón lá
Phân bón lá là loại phân bón nhằm cung cấp các nguyên tố cần thiết và
các chất điều hòa sinh trưởng cần thiết cho cây qua bộ lá của chúng, mặc dù
cây trồng vẫn phải được cung cấp đầy đủ các dinh dưỡng từ đất qua bộ rễ. Đất
là một thực thể tự nhiên phức tạp ảnh hưởng đến đời sống của cây qua nhiều
con đường khác nhau. Hệ thống đất - cây là một hệ tương tác phức tạp.Dự trữ
các chất dinh dưỡng ở tầng đất canh tác khác nhau có thể thỏa mãn nhu cầu
-10
-14
% chất khô) bao gồm các
nguyên tố I, As, Ge…
Các nguyên tố này được thực vật hấp thụ qua đất là chủ yếu và được bổ
sung từ phân bón do con người cung cấp. Theo các nghiên cứu khoa học,
phân bón lá cung cấp dinh dưỡng một cách nhanh chóng, kịp thời cho cây
trồng. Cây trồng hấp thụ được khoảng 95% chất dinh dưỡng từ phân bón
lá.Chính vì vậy
cácnguyêntốvilượngđóngvaitròrấtquantrọngtrongcảithiệnnăngsuấtcâytrồng[47]
.
Phun qua lá (Foliar spray) là kĩ thuật được sử dụng rộng rãi trong việc
cung cấp nguyên tố vi lượng đặc biệt là sắt và mangan cho nhiều loại cây
trồng khác nhau. Các loại muối vô cơ tan thường tác động giống như các hợp
chất chelat tổng hợp trong phương pháp phun qua lá này, vì thế các muối vô
cơ được lựa chọn vì giá rẻ hơn so với áp dụng các hợp chất chelat. Nếu phun
qua lá với nồng độ thích hợp thì có thể khắc phục được các triệu chứng thiếu
hụt vi lượng ngay trong một vài ngày đầu sau phun[38].
*Các kết quả nghiên cứu phun các nguyên tố khoáng đơn lẻ hoặc phối
hợp
Tác giả Ali và cộng sự cũng nghiên cứu trên đối tượng cây lúa cho thấy
năng suất đạt cao nhất (6087kg/ha) khi xử lí đồng thời NPK + Zn
2+
+ Cu
2+
+
Fe
2+
+ Mn
2+
tăng tốc độ ra hoa sớm
hơn so với ZnSO
4
. Kết quả cho thấy nồng độ 2% của cả hai FeSO
4
và ZnSO
4
riêng lẻ và hỗn hợp làm tăng số lượng hoa, chiều cao cây (83,47 cm), chiều
dài của hoa tăng đột biến (66.03cm), số lá (9,52/cây), tăng số hoa (11,55/cụm
hoa)[38].
Một số tác giả như Chaudry và cs [28]; Habib [31]; Mandal và cs [36];
Saira Shabee Khosa và cs [44]; Nadim và cs [45] nghiên cứu chất khoáng đa
lượng và vi lượng phun lên lá đều có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và năng
suất cây trồng.
Theo tác giả Nguyễn Văn Đính và cs nghiên cứu ảnh hưởng của phun
bổ sung KCl (2g/l) lên lá khoai tây thấy phun bổ sung KCl có tác dụng làm
tăng cường độ quang hợp, tăng hàm lượng diệp lục, tăng số củ/khóm, tăng
khối lượng củ/khóm và tăng năng suất 113,77% ở giống KT3 và 104,7% ở
giống khoai tây Mariella so với ĐC [6], [7], [8], [9], [10].
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Minh về hiệu lực của
molypden tẩm vào hạt và phun trên lá cây đậu xanh cho thấy: khi sử dụng ở
các nồng độ 1, 5, 10, 20mg/l Mo tẩm vào hạt làm tăng đáng kể tỷ lệ nảy mầm
của đậu xanh, còn khi sử dụng dung dịch bổ sung molypden phun qua lá ở các
giai đoạn 7 lá, 9 lá, ra hoa và tạo quả đều làm tăng chiều cao cây, tăng diện
tích lá, giảm cường độ thoát hơi nước, tăng khả năng chịu hạn và năng suất
của đậu xanh[19].
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Hải Lan [10] cũng cho thấy xử
lý hạt lúa bằng KCl đã làm tăng hàm lượng một số chất có vai trò giúp cây lúa
chịu được hạn.
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Khánh và cs [25] Mo có khả năng
Các tác giả G.Mustafasajid và cs [39]; Pulkrabek và cs [43] cũng
khẳng định các chất điều hòa sinh trưởng khi được sử dụng phun bổ sung lên
lá có ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng, khả năng ra hoa, tạo quả của
cây trồng.
Theo nhóm tác giả Đinh Thị Dinh, Đặng Văn Đông, Trần Duy Quí
(2014) nghiên cứu trên giống lan Đai Châu Trắng Đốm Tím cho thấy phun
GA3 có tác dụng làm tăng sinh trưởng và ra hoa Đai Châu Trắng Đốm Tím 1
hoặc 2 năm tuổi. Với cây 1 năm tuổi phum GA3 với nồng độ 150ppm có thể
rút ngắn từ thời gian trông đến ra hoa từ 3 năm xuống còn 2 năm, tỷ lệ ra hoa
đạt 47% trong khi ĐC không ra hoa. Với cây 2 năm tuổi phun GA3 nồng độ
200ppm tăng chiều dài lá, chiều dài cành hoa, số hoa/cành và tỷ lệ ra hoa đạt
80% so với ĐC chỉ đạt 51% [5].
*Các kết quả sử dụng các chế phẩm hỗn hợp
Theo tác giả Siddareddy (1988) quan sát thấy khi phun qua lá chế phẩm
mixtalol (1-2ppm) làm tăng hàm lượng đường khử, hàm lượng đường không
khử, đường tổng số và protein ở quả cà chua[45].
Chế phẩm Pix (mepiquat chlorid)là một chất điều hòa sinh trưởngthực
vật được sử dụng rộng rãi giúp làm tăng năng suất ở cây bông nhưng không
làm ảnh hưởng đến chất lượng sợi [29]. Tuy nhiên, cũng có một số
nghiên cứu cho rằng hợp chất này làm giảm năng suất cây bông [46].
Nhóm tác giả Khan, M.B nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm
Sheltertrên đối tượng lúa mì bằng phương pháp phun qua lá cho thấy có sự
gia tăng số hạt trên bông, trọng lượng 1000 hạt, năng suất kinh tế, năng suất
sinh học… [32], [33].
Trên đối tượng cây dâu, nghiên cứu của tác giả Trần Thị Ngọc (2011)
đã tiến hành thí nghiệm phun chế phẩm bón lá Pomior lên cây dâu với 3
ngưỡng nồng độ 0,4%; 0,5%; 0,6% và khoảng cách giữa 2 lần phun là 10
ngày. Kết quả thí nghiệm cho thấy: Chế phẩm Pomior đã có tác dụng làm tăng
khả năng sinh trưởng của cây dâu, từ đó tăng năng suất lá dâu từ 18,73% đến
44,95% ở vụ xuân hè và 12,41% đến 55,11% ở vụ hè thu. Chế phẩm Pomior
Folic.
- Tổ chức xin đăng ký: Greendelta Co. Ltd.
- Mô tả: Là sản phẩm sử dụng đường tự nhiên, amino và axit folic đầu
tiên để giúp cây trồng nuôi quả, củ và hạt; làm quả, củ, hạt lớn nhanh, nặng và
chắc, tăng lượng đường rất nhanh cho nông sản.
- Liều lượng sử dụng: Gói 5ml cho 2 bình phun (10 lít)
Chế phẩm Delta (là sản phẩm chứa các yếu tố khoáng đa lượng và
vi lượng)
- Thành phần: 50% K
2
O , 18%S (46% SO
3
), 450 ppm Ca, 600 ppm Mg,
150 ppm Fe.
- Tổ chức xin đăng ký: Greendelta Co. Lt
- Mô tả: Là sản phẩm giúp cây trồng ra hoa trái vụ, ra hoa đồng loạt,
nuôi trái to, ngọt, nặng, màu sắc sáng và mùi vị thơm
- Liều lượng sử dụng: Gói 5ml cho 2 bình phun (10 lít)
*Các máy móc và hóa chất phục vụ cho nghiên cứu: máy cất đạm tự
động, máy quét lá, máyđo hàm lượng diệp lục tổng số OPITI-SCIENCES
model CCM -200 (do Mỹ cung cấp), máy đo huỳnh quang diệp lục
Hansatech, máy đo cường độ quang hợp Ultra Compact Phososysthesic
System LCi của hãng ADC (Anh) v.v. Hóa chất gồm: n-hexan, axeton,
Iốt,v.v…
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Cách bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm ngoài đồng ruộng theo nguyên tắc khối ngẫu nhiênhoàn
chỉnhvới 3 lần nhắc lại. Gồm các công thức sau:
- Công thức đối chứng: Không phun các chế phẩm mà chỉ phun với
nước lã vào cùng thời điểm với phun các chế phẩm.
: Giá trị huỳnh quang của diệp lục khi bắt đầu chiếu sáng.
F
m
: Giá trị huỳnh quang tối đa cùng một cường độ ánh sáng.
F
vm
: Thành phần biến thiên của huỳnh quang (huỳnh quang hữu hiệu)
* Cường độ quang hợp: Được xác định trên máy Ultra Compact
Phososynthesic System LCi của hãng ADC (Anh)
2.2.3.3 Phương pháp phân tích các yếu tố cấu thành năng suất
Các yếu tố cấu thành năng suất: số quả/cây; khối lượng quả/cây (g/cây),
mỗi công thức xác định ở 30 cây ngẫu nhiên. Năng suất thực thu (kg/360m
2
)
được tính từ năng suất thực thu trên các ô TN, sau khi đã quy đổi ra kg/360m
2
.
2.2.3.4. Phương pháp phân tích chất lượng quả cà chua
*Phương pháp xác định Lycopen và β-Caroten[41].
Nguyên tắc của thí nghiệm: các sắc tố khác nhau diệp lục, lycopen, β-
Caroten được chiết bằng hệ dung môi axeton : n-Hexan (4:6), có độ hấp thụ
cực đại đặc trưng ở các bước sóng tương ứng: 663nm và 645nm, 505nm và
453nm.
Quy trình:
- Lấy 1g mẫu quả cà chua, nghiền kỹ trong 10-20ml hệ dung môi (axeton:n-
Hexan, 4:6) thành dạng đồng thể trong cối chày sứ.
- Thu dịch chiết vào ống nghiệm, để quá trình tự lắng diễn ra trong 30 phút.
- Đo độ hấp thụ OD
663, 645, 505,453nm.
Thao tác trên máy quang phổ UV-Vis 2450
Chuẩn độ hàm lượng vitamin C bằng Iôt được mô tả trong tài liệu thực
hành hóa sinh học của tác giả Phạm Thị Trân Châu và CS [3].
Nguyên tắc:
Dựa vào tính chất khử của axit ascorbic đối với các chất màu để định
lượng vitamin C trong nguyên liệu.
Hóa chất:
Cà chua thu thập từ các công thức thí nghiệm, HCl 2%, tinh bột 0,5%,
I
2
0,01N
Dụng cụ, thiết bị:
- Cối chày sứ, cốc thủy tinh, bình định mức, pipet, buret…
Cách tiến hành:
- Cho vào cối sứ 2g nguyên liệu và 10ml HCl 2%, nghiền nhỏ, chắt
nước chiết sang cốc (V=50ml). Cho thêm 10ml HCl2% vào cối sứ tiếp tục
nghiền, chắt nước trong sang cốc. Lặp lại lần thứ 3, kết thúc quá trình
chiếtrút.Dùng 10ml HCl 2% tráng lại cối chày sứ.
- Chuyển toàn bộ dịch chiết và dịch tráng cối chày sứ sang bình định
mức (V=50ml), dùng nước cất dẫn đến mức của bình.
- Để bình định mức trong bóng tối khoảng 10 phút để cho lượng axit
ascorbic có trong nguyên liệu hòa tan hoàn toàn, lọc lấy dịch trong. Lấy 10ml
dịch lọc cho vào bình nón (V=100ml), thêm vào đó 10 giọt hồ tinh bột 0,5%,
lắc nhẹ.
- Dùng I
2
0,01N chuẩn độ đến khi dung dịch bắt đầu xuất hiện
màu xanh lam nhạt là được.
X: Hàm lượng vitamin C có trong nguyên liệu (%)
V
c
trong 1000ml nước cất. Bảo quản trong lọ thủy tinh màu nâu.
- Dung dịch sắt sunfat: hòa tan 1g Fe
2
(SO
4
)
3
trong 10ml H
2
SO
4
đặc. Đổ
từ từ dung dịch vào nước cất có sẵn trong bình định mức, pha loãng đến mức
1000ml.
- Gelatin 10%: cân 10g gelatin với 100ml nước cất, để lên máy gia
nhiệt ở nhiệt độ 50
0
C để hòa tan gelatin.
- Dung dịch sắt sunfat axit gelatin: trộn lẫn dung dịch sắt sunfat axit với
gelatin 10% theo tỉ lệ 20:1. Hỗn hợp chỉ sử dụng trong ngày.
Dụng cụ, thiết bị:
- Cối chày sứ, cốc thủy tinh, bình định mức, pipet…
- Máy li tâm
- Máy gia nhiệt
- Máy quang phổ tử ngoại khả kiến UV-vis Shimadzu 2450 (Nhật Bản)
Cách tiến hành:
- Cho vào ống nghiệm 2ml dịch chiết đường và 2ml dung dịch
kaliferixianua khuấy đều, đun sôi trong 15 phút, vừa đun vừa khuấy.
- Sau đó để nguội, thêm vào ống 4ml dung dịch sắt sunfat axit gelatin,
khuấy đều, dẫn nước đến mức 30ml.