Luận văn thạc sỹ: Phân tích BCTC khách hàng doanh nghiệp trong tín dụng ngân hàng tại ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu - Pdf 26

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ nghiên cứu nào.
Người cam đoan
Nguyễn Thị Lê Na
MỤC LỤC
- Tái cơ cấu tổ chức: Cải cách cơ cấu tổ chức và điều hành nhằm đưa
GP.Bank thành một ngân hàng hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế lấy
phục vụ khách hàng làm mục tiêu hoạt động 70
- Nâng cao cải tiến công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ: nâng cao năng lực
điều hành và phát triển các kỹ năng quản trị, nâng cao chất lượng và hiệu
quả công tác kiểm toán kiểm tra nội bộ 70
GP. Bank luôn phấn đấu trở thành một ngân hàng định hướng đến khách
hàng. Một tổ chức tạo ra lợi ích cao nhất cho khách hàng, cổ đông và người
lao động. Một tổ chức luôn luôn học hỏi. Một tổ chức xây dựng văn hoá
doanh nghiệp trên cơ sở các giá trị: sự tin tưởng, tính cam kết, chuyên
nghiệp, minh bạch và đổi mới 71
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra,cán bộ và công nhân viên ngân hàng GP.
Bank luôn luôn quán triệt các nguyên tắc: 71
Thứ nhất: Áp dụng các thông lệ quốc tế trong công tác điều hành ngân
hàng 71
Thứ hai: Phát triển và đưa ra thị trường những sản phẩm dịch vụ tài chính
đa dạng đá ứng nhu cầu của khách hàng, tạo lập danh tiếng về chất lượng
phục vụ khách hàng, độ tin cậy và mức giá cả cạnh tranh 71
Thứ ba: Đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, lấy công nghệ thông tin
làm cơ sở để phát triển mô hình ngân hàng hiện đại 71
Thứ tư: Hoạt động trên cơ sở thận trọng về tài chính và luôn nhận thức
được tầm quan trọng của quản lý rủi ro, bảo quản tài sản và duy trì khả
năng thanh toán là tối cần thiết cho sự thành công của ngân hàng, phát huy
tối đa nguồn lực tài chính trên nguyên tắc đảm bảo an toàn hoạt động và

NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
TCTD : Tổ chức tín dụng
SXKD : Sản xuất kinh doanh
DN : Doanh nghiệp
BCĐKT : Bảng cân đối kế toán
KH : Khách hàng
TSDH : Tài sản dài hạn
TSNH : Tài sản ngắn hạn
CSH : Chủ sở hữu
TSCĐ : Tài sản cố định
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
DTT : Doanh thu thuần
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu huy động phân theo kỳ hạn của GP. Bank Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.4: Tình hình hoạt động tín dụng của GP. Bank qua các năm Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu cho vay phân theo kỳ hạn của GP. Bank Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.6: Cơ cấu cho vay phân theo đối tượng của GP. Bank.Error: Reference
source not found
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tính cấp thiết của việc phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh
nghiệp trong tín dụng ngân hàng.
Hiện nay, cho vay là nghiệp vụ chủ yếu mang lại lợi nhuận cao nhất trong hệ
thống Ngân hàng. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng luôn thường trực và diễn ra hết sức
phức tạp khó phòng tránh nên việc cấp tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại phải

thiện hệ thống phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp: Trần Thị Cẩm Thanh
(năm 2001) với nghiên cứu “Hoàn thiện lập và phân tích báo cáo tài chính với việc
tăng cường quản lý tại các Công ty xổ số kiến thiết khu vực Nam Trung Bộ”;
Nguyễn Đình Hà (năm 2002) với đề tài “Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình
tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam”; Nguyễn Văn Hiếu (năm 2003)
với đề tài “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính với việc phân tích tài chính trong
các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam”; Năm 2008 có các đề tài luận văn thạc sỹ
nghiên cứu về phân tích báo cáo tài chính như: Tác giả Lã Thị Hương Giang nghiên
cứu đề tài: “Hoàn thiện nội dung phân tích báo cáo tài chính với việc nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn huy động tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam – Chi
nhánh Quang Trung, tác giả lựa chọn đối tượng nghiên cứu là hướng tới những nội
dung cơ bản về phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại trong nền
kinh tế thị trường và phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu phân tích báo cáo tài chính
tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Quang Trung”; Tác giả
Trịnh Thị Hà nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện lập và phân tích báo cáo tài chính
hợp nhất tại Tập đoàn Hòa Phát với đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận
về hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định hiện hành của Việt nam và
chuẩn mực kế toán quốc tế, phạm vi nghiên cứu là thực trạng công tác lập và phân
tích báo cáo tài chính tại Tập đoàn Hòa Phát”; Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân
nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Vàng, bạc,
đá quý thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam có đối
tượng và phạm vi nghiên cứu là cơ sở lý luận và thực trạng về phân tích báo cáo tài
chính tại Công ty vàng, bạc, đá quý thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam”
Về vấn đề tín dụng cho vay trong ngân hàng, đã có nhiều tác giả đề cập đến.
Năm 2009, tác giả Vũ Thị Minh Hằng với đề tài “Giải pháp mở rộng cho vay đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại ngân hàng TMCP ngoại thương
2
Việt Nam”; Tác giả Huỳnh Thị Thiên Kim với đề tài “Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam chi

3
hàng? Trong công tác quyết định cho vay thì việc phân tích báo cáo tài chính
quan trọng như thế nào? Và đặc biệt phân tích báo cáo tài chính giảm thiểu
rủi ro tín dụng ra sao?
- Nhân tố nào ảnh hưởng đến kết quả phân tích báo cáo tài chính khách hàng
doanh nghiệp? Phương hướng và giải pháp hoàn hiện hệ thống phân tích báo
cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp
1.5. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đi sâu nghiên cứu hoạt động cho vay tại GP. Bank. Đối tượng
khách hàng là các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ, hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất, thương mại và xuất khẩu trong các ngành nghề.
1.6. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài, tác giả vận dụng phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư duy để phân tích những vấn đề lý
luận và thực tiễn về vai trò của phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh
nghiệp trong tín dụng ngân hàng. Luận văn yêu cầu quán triệt các quan điểm của
Đảng, chính sách của nhà nước về doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu. Tác
giả nghiên cứu luận văn bằng phương pháp thu thập thông tin, đánh giá phân tích
từ đó rút ra kết luận.
1.7. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Phân tích báo cáo tài chính là phân tích hiện trạng tài chính và các dự báo
về tài chính của khách hàng nhằm tìm kiếm và tiên lượng các trường hợp xấu có
thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng. Phân tích báo cáo tài chính
gồm đánh giá khái quát về quản trị và hoạt động kinh doanh, phân tích hệ số tài
chính phân tích lưu chuyển tiền tệ, phân tích dự báo tài chính…
Như vậy phân tích báo cáo tài chính để đánh giá thực trạng kinh doanh và
TCDN nhằm quyết định đầu tư đúng đắn, quyết định phương hướng, quy mô tài
trợ vốn và khả năng thu hồi vốn. Vai trò ra quyết định đúng đắn của ngân hàng sẽ
là: có nên quyết định đầu tư hay không và nếu đầu tư thì sẽ đầu tư như thế nào
cho hợp lý và hiệu quả

2.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng trong ngân
hàng thương mại
2.1.1. Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh tế xuất hiện từ rất lâu trong
lịch sử xã hội loài người. Sự ra đời và phát triển của hoạt động ngân hàng (NH) từ
mức độ thô sơ cho đến đa dạng, phức tạp như ngày nay luôn gắn liền với sự phát
triển không ngừng của kinh tế hàng hoá và sự phát triển ngày càng cao của con
người. Mỗi quốc gia, vùng, miền, dân tộc khác nhau có hệ thống luật pháp, phong
tục tập quán khách nhau nên cách nhìn nhận và quan niệm về ngân hàng cũng có sự
khác biệt.
Luật ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: Ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức
ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ
chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Hay như Luật ngân hàng của ấn Độ
1950, được bổ sung 1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác
để cho vay hay tài trợ, đầu tư. Những định nghĩa như vậy là căn cứ vào tính chất và
mục đích hoạt động.
Một loạt định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt động.
Ví dụ như Luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: những nhà băng
thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề
thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện
các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm
Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng khi phân tích, khai thác
nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy các NHTM đều có
chung một tính chất là huy động vốn, cho vay và các dịch vụ kinh doanh khác
6
của ngân hàng.
Tại Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức kinh tế hoạt
động, kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tìên gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.

Thông qua tín dụng NH, có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng
trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ.
Hiểu cách khác, theo quan điểm của tôi, tín dụng ngân hàng được hiểu là một
giao dịch trong đó ngân hàng sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong
một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Tóm lại, khái niệm tín dụng ngân hàng cũng có thể được phát biểu ngắn
gọn hơn như sau: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ giao dịch giữa ngân hàng và
khách hàng trong đó ngân hàng chuyển giao vốn bằng tiền cho khách hàng sử
dụng với sự tin tưởng rằng khách hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khi đến
thời hạn thoả thuận.”
Từ các khái niệm về tín dụng, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài
sản trên cơ sở có hoàn trả có các đặc trưng sau:
- Tín dụng xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi
chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi
vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
- Giá trị hoàn trả thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác
người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện nguyên tắc này
thì phải xác định lãi xuất danh nghĩa lớn hơn tỉ lệ lạm phát, hay nói cách khác
phải xác định lãi suất thực dương.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín
dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ thực chất chỉ là một lệnh phiếu
trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn
thanh toán.
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu
cầu kinh doanh của các đối tượng, đặc biệt là đối tượng doanh nghiệp. Khả năng
cung ứng vốn của tín dụng ngân hàng góp phần đẩy mạnh nhịp độ tích tụ, tập
trung và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tín dụng doanh
nghiệp còn được sử dụng như một công cụ để phát triển các ngành kinh tế chiến

từ chối hoặc nên lựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay chuyển sang một
quy trình mới, phần lớn sẽ phụ thuộc vào kết quả phân tích tài chính có chất lượng.
Loại hình quyết định đang được xem xét sẽ là yếu tố quan trọng của phạm vi phân
tích, nhưng mục tiêu ra quyết định là không thay đổi. Chẳng hạn, cả những người
mua bán cổ phần lẫn nhà cho vay ngân hàng đều phân tích các báo cáo tài chính và
coi đó như là một công việc hỗ trợ cho việc ra quyết định tuy nhiên phạm vi chính
trong những phân tích của họ sẽ khác nhau. Nhà cho vay ngân hàng có thể quan tâm
9
nhiều hơn tới khả năng cơ động chuyển sang tiền mặt trong thời kỳ ngắn hạn và giá
trị lý giải của các tài sản có tính cơ động. Còn các nhà đầu tư cổ phần tiềm năng
quan tâm hơn đến khả năng sinh lợi lâu dài và cơ cấu vốn. Tuy nhiên, trong cả hai
trường hợp, sự định hướng vào việc ra quyết định của công tác phân tích là đặc
trưng chung.
Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính,
đồng thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh. Thứ nhất, mục tiêu
ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để “hiểu được các con số”
hoặc để “nắm chắc các con số”, tức là sử dụng các công cụ phân tích tài chính như
là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo. Như vậy,
người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu tả những
quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu. Thứ hai, do
sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra quyết định, một
mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương
lai. Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài chính hay tất cả
những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai. Do đó, người ta sử dụng các
công cụ kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn
cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích tình hình tài chính
trong quá khứ và hiện tại, đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng của những sự cố
kinh tế trong tương lai.
Phân tích báo cáo tài chính là một trong những nội dung cơ bản của phân tích
kinh doanh. Trong quá trình phân tích không chỉ đơn thuần đánh giá tình hình tài

của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ hoặc vốn
huy động của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu doanh lợi trong khuôn khổ pháp
luật. Do đó, TCDN phản ánh quan hệ kinh tế đa dạng trong quá trình tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, tình hình tài chính của
doanh nghiệp được thể hiện khá đầy đủ và rõ nét thông qua báo cáo tài chính và các
chỉ tiêu tài chính đặc trưng.
Như vậy phân tích báo cáo tài chính nhằm đánh giá thực trạng kinh doanh
của doanh nghiệp để quyết định đầu tư đúng đắn, quyết định phương hướng, quy
mô tài trợ vốn và khả năng thu hồi vốn. Vai trò ra quyết định đúng đắn của ngân
hàng sẽ là: có nên quyết định đầu tư hay không và nếu đầu tư thì sẽ đầu tư như thế
nào cho hợp lý và hiệu quả
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng với đối tượng kinh doanh là tiền tệ
vốn dĩ là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Vì vậy để bảo tồn được vốn vay và
đảm bảo thu nhập cho mình các NHTM không thể không quan tâm đến lĩnh vực
11
kinh doanh của doanh nghiệp trước khi tài trợ vốn. Các NHTM chắc chắn sẽ
không quan hệ tín dụng với khách hàng là doanh nghiệp làm ăn luôn trong tình
trạng thua lỗ, phương án kinh doanh không hiệu quả. Cùng với việc phân tích các
khía cạnh khác, những doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, khả năng
sinh lời cao và có triển vọng phát triển tốt trong tương lai sẽ được ngân hàng ưu
tiên lựa chọn để cấp tín dụng.
Khi đã quyết định tài trợ vốn, thì việc phân tích tài chính doanh nghiệp mà tập
trung chủ yếu vào phân tích báo cáo tài chính thực chất là quá trình xác định các
yếu tố chi tiết về khoản vay. Căn cứ vào tình hình hoạt động, phương án xin vay
vốn…ngân hàng xác định quy mô của nhu cầu vay hợp lý. Bên cạnh đó ngân hàng
cũng xác định thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ cho khoản tín dụng đã được cấp
cho doanh nghiệp. Như vậy phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp NHTM có
quyết định tín dụng đúng đắn từ đó làm tăng khả năng sinh lời và hạn chế đề phòng
rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
2.2.2.2. Phân tích báo cáo tài chính giúp NHTM xác định rõ khả năng thanh

trích lập dự phòng từ lợi nhuận ròng để lại, nhằm đảm bảo cho hoạt động của ngân
hàng được đảm bảo vững chắc, vì lợi ích và sự phát triển lâu dài của ngân hàng.
2.2.2.4. Phân tích báo cáo tài chính giúp ngân hàng xác định rõ triển vọng của
ngân hàng với doanh nghiệp trong tương lai
Hoạt động kinh doanh tín dụng của các NHTM luôn có những rủi ro xác định,
vì vậy quan hệ tín dụng trước hết phải được xây dựng trên cơ sở lòng tin giữa ngân
hàng và khách hàng. Các ngân hàng lựa chọn và cấp tín dụng cho khách hàng khi
ngân hàng tin tưởng vào sự sẵn sàng trả nợ cả gốc và lãi đúng hạn của khách hàng.
Những doanh nghiệp lần đầu tiên quan hệ với ngân hàng thì niềm tin mà doanh
nghiệp tạo cho ngân hàng ngoài các yếu tố phi tài chính, thì năng lực tài chính lành
mạnh (thể hiện ở các chỉ tiêu tài chính) là một yếu tố quan trọng.
Trong bối cảnh các tổ chức tài chính và phi tài chính đang có sự cạnh tranh
gay gắt để tồn tại phát triển. Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng không
dừng lại ở việc khách hàng cần vốn tìm cách tiếp cận với ngân hàng để được cấp tín
dụng, mà ngân hàng cũng phải tự xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh,
chiến lược marketing phù hợp để có thể duy trì quan hệ lâu dài đối với khách hàng,
duy trì lòng trung thành của doanh nghiệp đối với ngân hàng; đảm bảo sự hợp tác
phát triển lâu dài của cả hai bên. Nói cách khác, đối với một khách hàng là doanh
nghiệp khi ngân hàng đã xác định là có triển vọng và tiềm năng thì chính sách áp
dụng đối với khách hàng đó cũng có sự khác biệt, ngân hàng còn là nhà tư vấn tài
chính cho doanh nghiệp để tình hình tài chính của doanh nghiệp trở nên lành mạnh
hơn, đây là điều có lợi cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Chính vì vây, việc xây
13
dựng hệ thống phân tích báo cáo tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát
triển bền vững của ngân hàng. Vì thực tế việc một doanh nghiệp thường xuyên thay
đổi ngân hàng cung cấp tín dụng thì lại bắt đầu quá trình tạo dựng lòng tin với ngân
hàng đó và sự công khai tài chính cũng gây ảnh hưởng tới yêu cầu bảo mật thông
tin cho doanh nghiệp. và đối với ngân hàng thì việc xác định doanh nghiệp để quan
hệ lâu dài cũng là một thuận lợi giảm chi phí giao dịch và tạo sự phát triển bền vững
cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.

chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái giá trị. Từ đó, cho
phép ta đánh giá khái quát tình hình tài chính qua các chỉ tiêu trên.
+) Đánh giá những biến động của tài sản và nguồn vốn giữa các kỳ kế toán
căn cứ vào hai số liệu ở hai thời điểm đầu năm và cuối kỳ. (Các chỉ tiêu trong bảng
cân đối kế toán được phản ánh tại một thời điểm nhất định, thời điểm đó thường là
vào ngày cuối cùng của kỳ hạch toán.
+) Có thể biết được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, hình thái vật
chất, cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn.
Bảng cân đối kế toán có kết cấu 2 phần, thực chất là phản ánh tính hai mặt
của một lượng tài sản, cho nên tổng tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn, tức là:
Tài sản = Nguồn vốn
Hay: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Hoặc: Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả.
Như vậy, bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan trọng để ngân hàng
nghiên cứu đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử
dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
* Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (Mẫu số B02-DN)
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết
tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của khách hàng tại những thời
kì nhất định; cung cấp các thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết quả sử
dụng các tiềm năng về sử dụng vốn, lao động, kĩ thuật và trình độ quản lý sản xuất
kinh doanh của khách hàng. Đồng thời báo cáo cũng giúp phân tích so sánh được
doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh
và số tiền thực xuất quỹ để thực hiện kinh doanh. Ngoài ra theo quy định của Việt
Nam, báo cáo thu nhập còn có thêm phần kê khai tình hình thực hiện nghĩa vụ của
khách hàng đối với ngân sách nhà nước và tình hình thực hiện thuế giá trị gia tăng.
Như vậy, thông qua phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
15
kinh doanh, ngân hàng có thể nhìn nhận hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
như thế nào? Việc thực hiện nghĩa vụ với cơ quan nhà nước hàng năm có ổn định

chi ra liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào hoặc chi ra liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
* Thuyết minh báo cáo tài chính.
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình
hình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính đồng thời, giải
thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày,giải
thích rõ ràng cụ thể như các thông tin về đặc điểm hoạt động của khách hàng, chế
độ kế toán áp dụng, tình hình và lí do biến động một số tài sản và nguồn vốn.
2.2.3.2. Nguồn thông tin từ bên ngoài
Ngoài các báo cáo tài chính từ doanh nghiệp gửi lên cho ngân hàng. Ngân
hàng cần thu thập thông tin từ các nguồn sau
- Trung tâm thông tin tín dụng (CIC)
- Thông tin từ các báo cáo thuế, cơ quan kiểm toán độc lập.
- Thông tin từ các đối tác kinh doanh với doanh nghiệp.
- Thông tin từ các tổ chức tín dụng mà doanh nghiệp đã có quan hệ trước đây.
2.2.4 Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp
trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
2.2.4.1. Phương pháp so sánh
Là phương pháp phổ biến được sử dụng trong phân tích để xác định xu
hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến hành so sánh phải
xác định số gốc để đặt ra điều kiện so sánh và mục tiêu so sánh. Gốc so sánh được
chọn là gốc không gian và gốc thời gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc
kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc
số bình quân.
Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu,
số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước với năm trước, tháng này với
tháng trước.
Khi nghiên cứu nhịp điệu thực hiện nhiệm vụ kinh doanh từng khoảng thời
gian trong một năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước (tháng hoặc quý).

nhiều nhân tố chất lượng thì xác định nhân tố chủ yếu trước rối mới đến nhân tố thứ
yếu sau;
- Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối
tượng nghiên cứu một cách lần lượt. Cần lưu ý là có bao nhiêu nhân tố thì thay thế
bấy nhiêu lần và nhân tố nào đã thay thế thì được giữ nguyên giá trị đã thay thế (kỳ
18
phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng;
- Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so với số biến động tuyệt đối của
chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc.
Phương pháp thay thế liên hoàn có thể được khái quát như sau:
Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là Q và Q chịu ảnh hưởng của các
nhân tố a, b, c, d. Các nhân tố này có quan hệ với Q và được sắp xếp theo thứ tự từ
nhân tố số lượng sang nhân tố chất lượng, chẳng hạn Q = abcd. Nếu dùng chỉ số 0
để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ
phân tích thì Q
1
= a
1
b
1
c
1
d
1
và Q
0
= a
0
b
0

∆ b = a
1
b
1
c
0
d
0
- a
1
b
0
c
0
d
0
.
∆ c = a
1
b
1
c
1
d
0
- a
1
b
1
c

1
- Q
0
= ∆ a + ∆ b + ∆ c + ∆ d.
Trong đó:
∆ a = (a
1
- a
0
)b
0
c
0
d
0
.
∆ b = (b
1
- b
0
)a
1
c
0
d
0
.
∆ c = (c
1
- c

Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ
giá trị của các nhân tố ở kỳ phân tích thì M
1
= a
1
+b
1
-c
1
và M
0
= a
0
+b
0
-c
0
d
0
. Gọi ảnh
hưởng của các nhân tố a, b, c đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của
chỉ tiêu M (ký hiệu là ∆M) lần lượt là ∆ a, ∆ b, ∆ c ta có:
∆ M = M
1
- M
0
= ∆ a + ∆ b + ∆ c
Trong đó:
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố a: ∆a = a
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status