Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: Bài luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi, đợc thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển và
nghiên cứu tình hình thực tiễn và dới sự hớng dẫn khoa học của PGS.TS Lê
Hoàng Nga.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cha từng đợc ai
công bố trong bất ký công trình nào khác.
Hà Nội, ngày . tháng . năm 2011
Tác giả luận văn
Trần Thị Phợng
Mục lục
Danh mục chi tiết các loại phí năm 2002 103
(Ban hành theo thông t 110.02.TT.BTC ngày 12/12/2002) 103
danh mục từ viết tắt
Từ viết tắt Giải thích
CTCK Công ty chứng khoán
NHNN Ngân hàng nhà nớc
NHTM Ngân hàng thơng mại
NHTW Ngân hàng trung ơng
TCTD Tổ chức tín dụng
TGTC Trung gian tài chính
TPCP Trái phiếu chính phủ
TTCK Thị trờng chứng khoán
UBCKNN
ủy ban chứng khoán nhà nớc
danh mục các bảng, biểu đồ
bảng
Danh mục chi tiết các loại phí năm 2002 103
(Ban hành theo thông t 110.02.TT.BTC ngày 12/12/2002) 103
STT 103
Tên phí 103
chứng khoán quốc tế.
Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi đã chọn đề tài luận văn Giải pháp nâng cao vai
trò của trung gian tài chính đối với thị trờng chứng khoán Việt Nam là đề tài
nghiên cứu nhằm góp phần vào việc khẳng định vị thế của các trung gian tài chính
trong cơ cấu điều tiết thị trờng chứng khoán.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu một số mô hình các trung gian tài chính trên thế giới và vai trò
của các trung gian tài chính trên thị trờng chứng khoán.
- Đánh giá thực trạng của các trung gian tài chính Việt Nam và hiện trạng
tham gia của các định chế này vào thị trờng chứng khoán.
- Kiến nghị một số giải pháp về vai trò của trung gian tài chính trên thị trờng
chứng khoán.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài này tập trung nghiên cứu các hoạt động chính, các kết quả đạt đợc của
trung gian tài chính vào thị trờng chứng khoán.
Phạm vi nghiên cứu đề cập đến một số trung gian tài chính hoạt động mang
1
tính chất nổi bật trên thị trờng chứng khoán, tập trung vào các ngân hàng thơng mại
và một số trung gian tài chính khác tham gia dới hình thức cung ứng các dịch vụ tài
chính và điều tiết thị trờng ( môi giới, t vấn, bảo lãnh phát hành, kế toán )
Đề tài đợc nghiên cứu trên giác độ là các trung gian tài chính ở Việt Nam giai đoạn
2006 2010.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu sau:
- Phơng pháp duy vật biện chứng
- Phơng pháp duy vật lịch sử
- Phơng pháp tổng hợp
- Phơng pháp thống kê
- Phơng pháp so sánh và phân tích kinh tế
5. Kết cấu của đề tài
những ngời cần vốn, giúp cho việc luân chuyển vốn đợc thuận lợi hơn. Các TGTC
thực hiện các chức năng chủ yếu là tạo vốn thông qua huy động vốn nhàn rỗi, cung
ứng vốn cho nền kinh tế, kiểm soát nhằm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra đối với
các hợp đồng vay và cho vay.
Hoạt động huy động và cho vay vốn của các TGTC có thể diễn ra trực tiếp với
các chủ thể kinh tế hoặc thông qua thị trờng tài chính. Lợi nhuận của các TGTC dới
dạng khoản chênh lệch giữa lãi suất mà chúng cho vay và đi vay và các khoản phí từ
cung cấp dịch vụ tài chính tiền tệ.
1.1.2 Phân loại
Căn cứ vào mục đích hoạt động, các TGTC đợc phân loại thành.
+ Các trung gian tài chính kinh doanh
Việc huy động vốn và đầu t vốn dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế giữa chi phí huy
động vốn và thu nhập từ việc sử dụng vốn, tức là kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận
(các NHTM, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu t, CTCK )
+ Các trung gian tài chính vì mục đích xã hội.
Hoạt động của các định chế tài chính trung gian này nhằm mục đích hỗ trợ xã
hội, duy trì ổn định sản xuất, đời sống xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh thu
lợi nhuận (ngân hàng chính sách xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội )
Căn cứ vào mức độ thực hiện chức năng trung gian, các TGTC đợc phân loại thành:
+ Các định chế nhận tiền gửi
Các trung gian nhận tiền gửi là các TGTC mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên
là nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân, sau đó sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng
và thực hiện các hoạt động trung gian thanh toán (các NHTM, quỹ tín dụng )
+ Các trung gian tiết kiệm theo hợp đồng
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng thu nhận vốn định kỳ trên cơ sở hợp đồng
thỏa thuận với khách hàng. Các TGTC này có xu hớng sử dụng vốn vào các hoạt
3
động đầu t chứng khoán và các hoạt động đầu t trung và dài hạn khác (công ty bảo
hiểm: nhân thọ và phi nhân thọ, quỹ trợ cấp hu trí )
+ Các trung gian đầu t
+ Nhận tiền gửi của tổ chức.
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn
4
của tổ chức.
+ Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nớc và nớc ngoài; vay
NHNN dới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật NHNN Việt Nam.
+ Cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng.
+ Bảo lãnh ngân hàng.
+ Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhợng, các giấy tờ có giá khác.
+ Phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các hình thức
cấp tín dụng khác sau khi đợc NHNN chấp thuận.
Ngoài ra công ty tài chính còn thực hiện các hoạt động kinh doanh khác.
- Công ty cho thuê tài chính: là loại hình công ty có hoạt động chính là cho
thuê tài chính theo quy định. Công ty cho thuê tài chính đợc thực hiện một hoặc số
hoạt động ngân hàng:
+ Nhận tiền gửi của tổ chức.
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn
của tổ chức.
+ Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nớc và nớc ngoài theo
quy định của pháp luật; vay NHNN dới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật
NHNN Việt Nam.
+ Cho thuê tài chính.
+ Cho vay bổ sung vốn lu động đối với bên thuê tài chính.
+ Cho thuê vận hành với điều kiện tổng giá trị tài sản cho thuê vận hành không
vợt quá 30% tổng tài sản có của công ty cho thuê tài chính.
+ Thực hiện hình thức cấp tín dụng khác khi đợc NHNN chấp thuận.
Tổ chức tài chính vi mô.
Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số
hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu
nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.
hợp đồng bảo hiểm có thể do các công ty bảo hiểm nhân thọ hoặc công ty bảo hiểm
phi nhân thọ cung cấp.
Công ty bảo hiểm thực hiện trung gian tài chính bằng cách sử dụng phí bảo hiểm
đã thu đợc thông qua việc bán các hợp đồng bảo hiểm để đầu t kinh doanh sinh lời. Từ
kết quả hoạt động đầu t, công ty bảo hiểm sử dụng thanh toán cho các khoản tổn thất
do rủi ro bất ngờ trong phạm vi đợc quy định trong hợp đồng bảo hiểm.
1.1.2.3 Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là tổ chức có t cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng
khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự
doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, t vấn đầu t chứng khoán.
Nhờ có các tổ chức ở TTCK mà các cổ phiếu, TPCP, công ty đợc lu thông,
buôn bán qua lại trên TTCK. Qua đó, một lợng vốn khổng lồ đợc đa vào đầu t từ
những nguồn nhỏ lẻ, phân tán trong dân chúng đợc tập hợp lại.
1.1.2.4 Quỹ hu trí
Quỹ hu trí đợc thành lập với mục đích hỗ trợ cho ngời lao động khi về hu có
6
một mức thu nhập ổn định. Để đạt đợc mục đích này, các tổ chức, doanh nghiệp sử
dụng lao động, ngời lao động và các tổ chức công đoàn, chính phủ cùng nhau xây
dựng kế hoạch lơng hu trí, trong đó quy định tỷ lệ đóng góp định kỳ của những ngời
tham gia kế hoạch trong thời gian ngời lao động còn đang làm việc. Tiền lơng hu
của ngời lao động về hu đợc trả một lần hoặc đều đặn theo định kỳ. Nguồn vốn nhàn
rỗi của quỹ đợc đầu t vào các công cụ đầu t dài hạn nh cổ phiếu, trái phiếu công ty,
TPCP, gửi tiền ở các ngân hàng Việc đầu t nhằm bảo toàn và phát triển quỹ vừa
giúp đảm bảo thu nhập thờng xuyên ổn định cho ngời lao động về hu vừa giúp di
chuyển vốn nhàn rỗi đến tay các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế (trung gian tài
chính).
Các quỹ trợ cấp hu trí đợc thành lập với mục đích giúp cho ngời lao động khi
về hu có đợc những khoản thu nhập ổn định thông qua cung cấp các chơng trình l-
ơng hu. Các chơng trình lơng hu này quy định những khoản đóng góp định kỳ của
những ngời tham gia vào chơng trình trong thời gian những ngời này còn đang làm
hàng đầu t hàng đầu trên thế giới. ở Đức, ngân hàng đa năng (universal banks) đợc
thực hiện tất cả các hoạt động của NHTM lẫn ngân hàng đầu t. ở Việt Nam, các
NHTM cũng không đợc phép trực tiếp tham gia vào hoạt động bảo lãnh phát hành
chứng khoán nhng đợc phép thành lập các CTCK (securities company) hoạt động
độc lập để thực hiện các hoạt động nh các ngân hàng đầu t.
1.1.2.6 Công ty đầu t mạo hiểm
Nếu các ngân hàng đầu t hỗ trợ cho các công ty lớn huy động vốn thì các công
ty đầu t mạo hiểm (còn đợc gọi là các quỹ đầu t mạo hiểm) chuyên hỗ trợ cho các
doanh nghiệp mới thành lập (startup firms). Các doanh nghiệp này không chỉ thiếu
về vốn mà cả kinh nghiệm quản lý. Vì vậy các công ty đầu t mạo hiểm không chỉ
giúp họ huy động vốn mà còn cung cấp các dịch vụ t vấn. Các công ty đầu t mạo
hiểm sẽ rót vốn của mình vào doanh nghiệp và giúp đỡ ban giám đốc điều hành
công ty phát triển đến một mức độ nhất định, có thể phát hành cổ phần trực tiếp ra
thị trờng. Khi đó công ty đầu t mạo hiểm sẽ bán cổ phần mà mình nắm giữ ra công
chúng rồi chuyển sang một dự án đầu t mạo hiểm khác.
1.1.2.7 Quỹ đầu t
Các quỹ đầu t là các TGTC thực hiện việc huy động vốn từ các nhà đầu t cá
nhân thông qua phát hành các chứng chỉ góp vốn đầu t để đầu t vào chứng khoán
nhằm tận dụng những lợi thế về vốn lớn và kinh doanh chuyên nghiệp. Nhờ vào u
8
thế vốn đầu t lớn, các quỹ đầu t có thể giảm thiểu chi phí giao dịch bằng cách mua
bán chứng khoán với số lợng lớn và hạn chế rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục
các chứng khoán nắm giữ. Không chỉ vậy, u thế vợt trội của các quỹ đầu t so với các
nhà đầu t riêng lẻ còn thể hiện ở chỗ chúng đợc đặt dới sự quản lý của các chuyên
gia về kinh doanh chứng khoán. Bên cạnh các quỹ đầu t tơng hỗ đầu t vào cả cổ
phiếu và trái phiếu, còn xuất hiện các quỹ chuyên đầu t vào từng loại chứng khoán,
ví dụ các quỹ chuyên đầu t vào các cổ phiếu thờng hoặc các quỹ chuyên đầu t vào
các chứng khoán nợ.
1.1.2.8 Các quỹ đầu t tơng hỗ thị trờng tiền tệ
Các quỹ đầu t này hoạt động tơng tự nh các quỹ đầu t tơng hỗ trên thị trờng.
bán các chứng khoán đợc niêm yết trong danh sách của thị trờng.
+ Thị trờng OTC: là thị trờng không chính thức, không có địa điểm giao dịch
cụ thể, hàng ngàn hãng môi giới trong cả nớc giao dịch mua bán chứng khoán với
nhau thông qua hệ thống điện thoại và hệ thống vi tính nối mạng. Đây cũng là một
loại thị trờng bậc cao, đợc tự động hóa cao độ, phân tán, không phải là thị trờng hiện
hữu. Chứng khoán giao dịch trên thị trờng OTC không đòi hỏi các điều kiện tiêu
chuẩn cao nh giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán.
- Theo công cụ lu thông:
+ Thị trờng cổ phiếu: là thị trờng phát hành và mua đi bán lại các cổ phiếu đã
đợc phát hành. Hoạt động của thị trờng cổ phiếu chứa đựng cả 2 lĩnh vực đầu t và
kinh doanh chứng khoán.
+ Thị trờng trái phiếu: đây là thị trờng phát hành và mua đi bán lại các trái phiếu đã
đợc phát hành, bao gồm thị trờng trái phiếu doanh nghiệp và thị trờng TPCP.
+ Thị trờng chứng khoán phái sinh: là thị trờng phát hành và mua đi, bán lại
các chứng khoán phái sinh đã đợc phát hành. Đây là loại thị trờng cao cấp chuyên
giao dịch những công cụ tài chính cao cấp, do đó thị trờng này chỉ xuất hiện ở
những nớc có TTCK phát triển mạnh.
1.2.1.3 Chủ thể tham gia thị trờng
- Chủ thể phát hành:
+ Chính phủ: nhà nớc tham gia TTCK chủ yếu với t cách là ngời vay nợ, bao gồm:
Chính phủ trung ơng, chính quyền địa phơng và các tổ chức của chính phủ.
+ Các doanh nghiệp: các doanh nghiệp phát hành chứng khoán khi có nhu cầu
huy động vốn và đáp ứng đợc các điều kiện phát hành theo quy định của Luật chứng
khoán của mỗi nớc. Các công ty là chủ thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty.
+ Các tổ chức tài chính: là ngời phát hành trái phiếu, chứng chỉ thụ hởng theo
luật định.
- Chủ thể đầu t:
+ Các nhà đầu t cá nhân: đây là loại chủ thể tham gia TTCK quan trọng nhất.
10
Họ là những ngời có tiền tiết kiệm và muốn đầu t số tiền để dành của mình vào việc
của các nhà đầu t. Việc không bỏ trứng vào cùng một giỏ luôn đợc áp dụng. Khi
đến với các quỹ đầu t, nhà đầu t đã phần nào đa dạng danh mục đầu t để phân tán rủi
ro.
11
1.2.2.3 Vai trò giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí hợp đồng và chi phí xử lý
thông tin
Các TGTC là các nhà đầu t chuyên nghiệp. Các tổ chức này có thể dễ dàng thu
hút đợc những ngời gửi tiền và những ngời đi vay. Hoạt động của các TGTC giúp
giảm chi phí để những ngời này tìm kiếm nhau. Với đông đảo nhân viên đợc đào tạo
chuyên phân tích và quản lý các công cụ tài chính, các TGTC có thể soạn thảo các
hợp đồng chuẩn hoặc những hợp đồng phức tạp hơn, giám sát việc tuân thủ các điều
kiện của hợp đồng cho vay và những hành động cần thiết khác nhằm tối thiểu hóa
chi phí hợp đồng, chi phí xử lý thông tin cũng nh bảo vệ lợi ích cho chính bản thân
các TGTC.
1.2.2.4 Vai trò tạo lập các cơ chế cho việc thanh toán chứng khoán
Ngày nay đa số các giao dịch đợc thực hiên mà không dùng tiền mặt. Việc
thanh toán có thể sử dụng séc, thẻ tín dụng, chuyển tiền điện tử, Các TGTC sẽ đảm
nhận những phơng thức thanh toán này, từ đó giúp giảm lợng tiền mặt lu thông trên
thị trờng.
Ngoài ra, các TGTC nhờ việc chuyên môn hóa và thành thạo trong nghề
nghiệp, các tổ chức này đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời những yêu cầu giữa
ngời cần vốn và ngời có vốn. Do cạnh tranh, đan xen và đa dạng hóa hoạt động, các
TGTC thờng xuyên thay đổi lãi suất một cách hợp lý, làm cho nguồn vốn thực tế đợc
tài trợ cho đầu t tăng lên mức cao nhất.
1.2.2.5 Chứng khoán hóa
Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp
khác nhau của những ngời đi vay đợc tập hợp lại và đóng gói rồi đợc dùng làm đảm
bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền
từ ngời mua các chứng khoán này sẽ đợc chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay
thế chấp để các tổ chức này cho ngời đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán
tán rủi ro và tăng khả năng bán chứng khoán ra công chúng, ngời quản lý chính mời
các tổ chức môi giới chứng khoán và các tổ chức tài chính khác tham gia vào bảo
lãnh và thành lập tổ hợp bảo lãnh. Tùy theo khả năng tài chính của mình mà mỗi
thành viên tham gia vào việc bảo lãnh ở mức độ khác nhau. Theo mức độ và trách
nhiệm tham gia vào việc phát hành mà các thành viên bảo lãnh sẽ nhận đợc khoản
tiền khác nhau. Tổ chức bảo lãnh chính có thể lập các tổ hợp bảo lãnh để giảm thiểu
rủi ro và có thể xác định đợc các đối tợng tham gia đầu t vào tổ chức phát hành. Đại
lý phân phối là các công ty mà tổ chức bảo lãnh chính dành chứng khoán cho họ để
họ phân phối. Tổ chức bảo lãnh mua chứng khoán trực tiếp từ tổ chức phát hành còn
đại lý phân phối mua chứng khoán từ tổ chức bảo lãnh chính hoặc tổ chức bảo lãnh
13
thành viên và bán lại các chứng khoán đó. Đại lý phân phối không đóng vai trò của
tổ chức bảo lãnh vì vậy không chịu các rủi ro nếu đợt phát hành không thành công.
1.3.2.2 Các trung gian tài chính tạo hàng hóa cho thị trờng chứng khoán
Các TGTC đợc thành lập dới nhiều loại hình tổ chức khác nhau nh trách nhiệm
hữu hạn, t nhân hay nhà nớc. Cổ phiếu, trái phiếu của trung gian tài chính trở thành
một loại hàng hóa quan trọng trên thị trờng.
Trên TTCK, ngoài các chứng khoán vốn, và chứng khoán nợ, còn có các chứng
khoán phái sinh. Các TGTC cũng là chủ thể tạo ra hầu hết các loại chứng khoán phái
sinh đó. Trên thế giới chứng khoán phái sinh là loại hàng hóa rất đợc a chuộng và
các giao dịch loại hàng hóa này rất phát triển.
1.3.2.3 T vấn phát hành chứng khoán
Một công ty cổ phần khi muốn phát hành chứng khoán ra công chúng thì họ
phải tiến hành rất nhiều thủ tục, họ phải có phơng pháp phát hành tốt nhất cũng nh
cơ cấu giá hợp lý. Những công việc phải chuẩn bị cho đợt phát hành chứng khoán
không hề đơn giản và không phải công ty cổ phần nào cũng am hiểu thị trờng và có
khả năng tính toán đa ra đợc phơng án tối u. Với đội ngũ các chuyên gia giàu kinh
nghiệm trong lĩnh vực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng một phơng án khả
thi nhất có thể đảm bảo cho sự thành công của đợt huy động vốn thông qua cam kết
bảo lãnh phát hành chứng khoán.
chứng khoán với các mức giá và số lợng đã yết. Các TGTC thực hiện công việc tạo
lập thị trờng với 2 mục tiêu chủ yếu: đảm bảo tính thanh khoản của thị trờng và tìm
kiếm lợi nhuận.
Nhà tạo lập thị trờng thờng thực hiện công việc để đáp ứng các lệnh từ phía
nhà đầu t. Do yêu cầu phải liên tục chào mua và chào bán, với những thị trờng mà có
nhiều nhà tạo lập thị trờng cùng tham gia, việc canh tranh để thu hút khách hàng đặt
lệnh, khi đã nhận đợc lệnh từ phía nhà đầu t, các nhà tạo lập thị trờng sẽ thực hiện
một trong hai việc:
Thứ nhất là nhà tạo lập thị trờng có thể đóng vai trò đối tác trong giao dịch, có
nghĩa là nếu lệnh đặt đến là lệnh mua, nhà tạo lập thị trờng sẽ bán các chứng khoán
tơng ứng trong kho của mình. Còn nếu lệnh đặt đến là lệnh bán, nhà tạo lập thị trờng
sẽ tiến hành mua khối lợng chứng khoán mà nhà đầu t muốn bán. Lệnh mua hay bán
mà nhà tạo lập thị trờng nhận đợc chính là lệnh đáp lại các chào mua, chào bán mà
nhà tạo lập thị trờng đã yết ra trên thị trờng. ở thị trờng mà tồn tại các nhà tạo lập
thị trờng, trong các chào mua và chào bán của nhà tạo lập, giá yết ra do yêu cầu
cạnh tranh nên sẽ thờng phải bám sát với tình hình thị trờng. Khối lợng yết ngoài do
nhà tạo lập thị trờng quyết định tùy theo các phân tích của mình còn phải chịu thêm
tác động của luật định về khối lợng nhỏ nhất phải đảm bảo giao dịch đối với mỗi
15
lệnh yết ra. Thông thờng để có thể chuyển sang yết mức giá khác, hay tham gia với
một loại chứng khoán khác, nhà tạo lập thị trờng phải thực hiện một giao dịch với số
lợng tối thiểu theo quy định, điều này đảm bảo tính thanh khoản mà mỗi giao dịch
tạo ra.
Thứ hai là trong trờng hợp lệnh đặt mua đến nhng nhà tạo lập thị trờng không
có đủ số chứng khoán đặt mua trong tài khoản của mình, hoặc lệnh đặt bán đến nh-
ng nhà tạo lập thị trờng không đủ khả năng để mua toàn bộ số chứng khoán đặt bán
của khách hàng thì để đảm bảo giao dịch, nhà tạo lập thị trờng sẽ phải tìm một lệnh
đối ứng khác thỏa mãn toàn bộ hoặc một phần khối lợng của khách hàng đặt ra. Để
tìm lệnh đối ứng này, nhà tạo lập thị trờng này sẽ phải tìm đến một nhà tạo lập thị tr-
ờng khác. Nhà tạo lập thị trờng kia có thể trực tiếp mua hoặc bán hoặc cũng có thể
chỉ định thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình thanh toán bù trừ nhanh và chính
xác.
Ngân hàng giám sát: để cho một quỹ đầu t hoạt động có hiệu quả là quỹ đầu t
chứng khoán cùng với công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo
quản, lu ký tài sản của quỹ đầu t chứng khoán và giám sát công ty quản lý quỹ nhằm
bảo vệ lợi ích của nhà đầu t.
1.3.4.3 Sự tham gia của trung gian tài chính vào việc thành lập các tổ chức
định mức tín nhiệm
Các công ty định mức tín nhiệm đóng vai trò nổi bật trong TTCK mới nổi cũng
nh TTCK phát triển. Do nhu cầu cấp thiết để phát triển một thị trờng trái phiếu và thị
trờng tiền tệ nhiều biến động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn trong tơng lai, vai trò
của các tổ chức định mức tín nhiệm ngày càng hết sức quan trọng. Thông thờng, các
công ty định mức tín nhiệm thành công hơn sau khi sự tự do hóa thị trờng tài chính
gây áp lực đến thị trờng và quyết định của t nhân đóng vai trò to lớn trong việc tham
gia vào TTCK. Việc chuẩn hóa các thông tin tài chính về công ty phát hành chứng
khoán ra công chúng sẽ tạo điều kiện cho việc so sánh của các nhà phát hành và
thống nhất hơn trong việc đánh giá các công ty có mức độ rủi ro nh nhau. Việc
thành lập tổ chức định mức tín nhiệm cần phải đầu t lớn về tài chính và có hiểu biết
nhất định về kỹ thuật, do đó rất cần có nhà bảo trợ và trợ giúp kỹ thuật quốc tế. Một
công ty định mức tín nhiệm phụ thuộc vào sự chính xác và tin cậy của các thông tin
mình có về các nhà phát hành chứng khoán. Có rất nhiều mô hình của công ty định
mức tín nhiệm trong đó mô hình thành lập tổ chức tín nhiệm dới dạng một công ty
cổ phần trong đó các cổ đông chính sẽ là Bộ Tài Chính, UBCKNN, các TGTC lớn
và có uy tín nh NHNN và các NHTM, tổng công ty bảo hiểm, các công ty tài chính
17
và CTCK là mô hình hoạt động có hiệu quả cao bởi vì sự tham gia của các TGTC có
uy tín và kinh nghiệm trong cơ cấu sở hữu của tổ chức định mức tín nhiệm là một
đảm bảo rất quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực có chuyên môn
nghề nghiệp cao trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, tiết kiệm đợc chi phí đào tạo cơ
bản.
tăng trởng kinh tế là yếu tố rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển TTCK.
Bên cạnh đó cũng phải chú ý đến vấn đề tập quán, thói làm ăn nhỏ manh mún của
phần lớn công chúng qua đó mà có những tác động định hớng, tạo sự hiểu biết mới,
hình thức đầu t mới để công chúng quen dần và coi đó là một hình thức đầu t có thể
thực hiện đợc với bất cứ ai có vốn, có ý muốn đầu t. Không những thế còn phải duy
trì tốc độ tăng trởng, lạm phát đợc kiểm soát, giá trị đồng nội tệ và mức lãi suất đợc
bình ổn mới tạo sự tin tởng của các nhà đầu t và của ngời dân khi đầu t vào chứng
khoán. Ngợc lại khi nền kinh tế có những biểu hiện sa sút, mất ổn định sẽ ảnh hởng
rất mạnh đến khả năng sinh lời của việc đầu t chứng khoán, các nhà đầu t sẽ dừng
hoạt động đầu t vào chứng khoán và nh vậy số lợng đầu t giảm làm cho TTCK hoạt
động kém hiệu quả và có thể đi đến phá sản. Thực tế đã chứng minh rằng nhân tố
đóng góp vào sự phát triển mạnh mẽ của các thị trờng mới nổi trong những thập kỷ
qua, ở phần lớn là các nớc đang phát triển có sự kết hợp linh hoạt giữa định hớng
phát triển nền kinh tế thị trờng với vai trò quản lý vĩ mô của nhà nớc trong hoạt động
của TTCK.
Những nhân tố này, có ảnh hởng trực tiếp tới sự phát triển các TGTC, Các
chính sách kinh tế vĩ mô cơ bản tác động tới tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế,
thông qua đó tác động tới tăng trởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô (kiểm soát lạm
phát và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế), tạo công ăn việc làm. Sự phát triển
của một nền kinh tế sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển các dịch vụ cung ứng trên
TTCK cả về số lợng và chất lợng.
1.4.2 Chịu ảnh hởng bởi các chính sách về thuế, phí, lệ phí
Trong việc thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, thuế đợc Chính phủ sử dụng nh
một công cụ quan trọng tác động lên toàn bộ quá trình phát triển của nền kinh tế.
Thông qua chính sách thuế Chính phủ thực hiện chính sách u đãi khuyến khích hoặc
hạn chế sự phát triển của các ngành nghề lĩnh vực theo từng vùng lãnh thổ trong nền
kinh tế quốc dân. Về phí thì đây là khoản tiền mà các chủ thể tham gia thị trờng
phải đóng góp cho Nhà nớc. Ví dụ: phí thành viên, phí lu ký .Lệ phí đây là khoản
tiền mà tổ chức phải nộp cho Nhà nớc để nhận đợc các giấy phép cần thiết cho hoạt
19
động giữa các tổ chức TGTC trong việc thu hút tiền nhàn rỗi trong dân c, đây là
động lực để các TGTC đa dạng và phong phú các sản phẩm dịch vụ cũng nh năng
20
lực cạnh tranh của mình qua đó góp phần tạo nên các TGTC lớn mạnh.
- TTCK: Nh một quy luật có tính phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới ở đâu có
TTCK phát triển thì ở đó có hệ thống các tổ chức TGTC phát triển, ngợc lại ở đâu có
cạnh tranh các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính sôi động thì ở đó giao
dịch trên TTCK cũng sôi động. TTCK phát triển làm cho môi trờng đầu t phát triển
và các TGTC có nhiều cơ hội đầu t hơn. Sự tham gia của trung gian vào TTCK nh: là
tổ chức lu ký, bảo lãnh phát hành, đại lý phân phối chứng khoán, ngân hàng chỉ định
thanh toán sự tham gia đó đem lại cho các định chế này những khoản phí và lệ phí
thu về nhất định, thị trờng càng phát triển thì khoản này thu đợc càng lớn. Bên cạnh
đó sự phát triển của TTCK làm cho các công cụ huy động vốn của các tổ chức này nh
trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ tiền gửi có môi tr ờng giao dịch từ đó tạo khả năng
thanh khoản cao cho các công cụ này và đảm bảo cho các tổ chức này có khả năng
huy động vốn nhanh và rẻ hơn. Với một thị trờng phát triển sôi động và ổn định sẽ
thúc đẩy các trung gian tham gia tích cực hơn bởi lợi ích của việc tham gia TTCK
khoán đem lại là rất lớn, nó sẽ khẳng định vị thế và uy tín đối với thị trờng từ đó có
thể đem lại đợc lợi nhuận lớn nhất cho mình.
Tác động tích cực của trung gian tài chính đối với thị trờng tài chính.
- Thị trờng tiền tệ: với sự phát triển của các TGTC, đặc biệt là tổ chức tín
dụng, với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ NHTW tiến dần tới phù
hợp với thông lệ quốc tế, các NHTM và tổ chức tín dụng đợc chủ động trong các
hoạt động huy động vốn và cho vay của mình, tham gia tích cực, năng động và cạnh
tranh mạnh mẽ với nhau trên thị trờng tiền tệ, theo đó nó cũng tạo điều kiện thúc
đẩy thị trờng tiền tệ phát triển lành mạnh và bền vững
- Với TTCK: các TGTC tham gia trực tiếp vào thị trờng làm cho thị trờng
ngày càng sôi động. TGTC kích thích mong muốn đầu t bởi họ có lợi thế trong việc
thu thập và phân tích thông tin liên quan đến đối tợng đầu t, do đó đảm bảo an toàn
cho các khoản đầu t. Ngoài ra, TGTC còn cung cấp các công cụ đầu t với tính lỏng
chính, vai trò giảm rủi ro đến mức thấp nhất thông qua việc đa dạng hóa danh mục
đầu t, vai trò giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí hợp đồng và chi phí xử lý thông
tin và vai trò tạo lập các cơ chế cho việc thanh toán.
Mỗi một loại hình TGTC, trong quá trình hoạt động, thực hiện chức năng của
mình đã đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. Cái đợc lớn nhất đó là tạo ra
những dòng vốn lớn, cho kinh tế xã hội, thúc đẩy thị trờng tài chính nói chung,
TTCK nói riêng ngày một lớn mạnh, phát triển bền vững
22