Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH LƯU BAN, BỎ HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN KHÁNH SƠN - Pdf 26

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Để dạy tốt phân môn Tập Làm Văn cho học sinh lớp 5A Trường Tiểu
học và Trung học cơ sở Ba Cụm Nam là vấn đề tôi rất quan tâm. Là giáo viên
dạy khối lớp cuối cấp ở bậc Tiểu học, không ai tránh khỏi những trăn trở, băn
khoăn làm thế nào để giúp học sinh lớp 5 nâng cao kỹ năng viết tập làm văn .
Qua thực tế 11 năm giảng dạy lớp 5 ở trường TH & THCS Ba Cụm Nam,
tôi nhận thấy có rất ít học sinh ham thích và học tốt phân môn này. Đây là một
phân môn mang tính thực hành tổng hợp. Việc dạy tập làm văn ở bậc tiểu học
có một vị trí rất quan trọng, nó góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực sử
dụng Tiếng Việt, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống và học
tốt các môn học khác.
Tuy nhiên việc dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm
văn nói riêng ở trường TH & THCS Ba Cụm Nam chưa đạt được kết quả như
mong muốn. Điều này thể hiện rất rõ qua bài kiểm tra khảo sát chất lượng đầu
năm của các em học sinh lớp 4 lên lớp 5. Khi chấm bài tập làm văn, tôi thấy đa
số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê các sự vật một cách
khô khan, cách diễn đạt rất lủng củng Từ đó dẫn đến điểm phân môn tập làm
văn rất thấp.
Vấn đề này là do nhiều nguyên nhân: Đa số học sinh chưa có kỹ năng
dùng từ đặt câu; chưa biết sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa khi miêu tả
để làm cho bài văn sinh động; chưa biết cách xây dựng các đoạn văn trong một
bài tập làm văn. Mặt khác đa số học sinh lớp 5A do tôi phụ trách là học sinh dân
tộc thiểu số( Chiếm 92.3% học sinh cả lớp), năng lực tư duy của các em còn
hạn chế, nghèo vốn từ tiếng việt, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt của
các em chưa được lưu loát , từ đó dẫn đến kết quả học tập phân môn tập làm
văn chưa cao.
Với những lý do trên tôi quyết định chọn và nghiên cứu đề tài : “Nâng
cao kỹ năng viết tập làm văn bằng cách luyện dùng từ đặt câu, xây dựng
đoạn văn cho học sinh lớp 5A, trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ba Cụm
Nam”. Nhằm nâng cao chất lượng viết tập làm văn cho học sinh lớp 5A.
Nghiên cứu này được áp dụng cho 13 học sinh lớp 5A, trường TH &

lượng đầu năm, điểm phân môn tập làm văn của lớp 5A rất thấp, cụ thể như
sau:
BẢNG TỔNG HỢP ĐIỂM KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM
NĂM HỌC 2013-2014
Stt Họ và tên Điểm phân môn Tập làm văn Ghi chú
1 Mấu Quốc Bình 2
2 Cao Minh Duẩn 1
3 Bo Bo Tro Thị Diệp 3
4 Cao Quốc khánh 3
5 Cao Thị Lụa 3
6 Tro Lược 2.5
7 Tro Thị Trinh Nữ 2
8 Nguyễn Thành Nhân 3
9 Mấu Hồng Phi 1
10 Hà Khánh Sơn 2.5
11 Tro Thanh Tài 2
12 Mấu Quốc Thùy 0.5
2
13 Tro Thanh Thuyền 3
- Danh sách trên gồm: 13 học sinh
0.5 điểm: 1 học sinh (chiếm: 7.7 %)
1 điểm: 2 học sinh (chiếm: 15.4 %)
2 điểm: 3 học sinh (chiếm: 23.1 %)
2.5 điểm: 2 học sinh (chiếm: 14.5 %)
3 điểm: 5 học sinh (chiếm: 38.5 %)
4 điểm: 0 học sinh (chiếm: 0 %)
5 điểm: 0 học sinh (chiếm: 0 %)
Bài viết của học sinh mang tính liệt kê nhiều hơn là miêu tả.
Cách sử dụng từ đặt câu còn vụng về, lủng củng.
Chưa có kỹ năng sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa khi miêu tả.

- Tả phẩm chất
Ví dụ: Bài “Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên” , Tiếng việt lớp 5, tập 1-
(Luyện từ và câu)
Bài tập: Tìm những từ ngữ tả bầu trời trong mẫu chuyện nêu trên.Những
từ ngữ nào thể hiện sự nhân hóa, những từ ngữ nào thể hiện sự so sánh.
- Trong phân môn tập làm văn, giáo viên có thể giúp học sinh làm giàu
vốn từ theo các kiểu bài.
Ví dụ: Tìm từ láy miêu tả âm thanh trên dòng sông hoặc con suối
(xôn xao, ì ầm, ào ào)
- Thông qua các bài tập đó, ngoài các từ học sinh tìm được, giáo viên có
thể cung cấp thêm cho học sinh một số từ ngữ khác để vốn từ tiếng việt của học
sinh ngày càng phong phú , tạo điều kiện thuận lợi cho việc dùng từ đặt câu khi
viết văn.
- Khi áp dụng biện pháp này, tôi nhận thấy vốn từ tiếng việt của các em
được cải thiện một cách rõ rệt, thể hiện qua nhưng câu trả lời của học sinh,
những câu văn học sinh tự đặt trong các tiết luyện từ và câu, góp phần nâng cao
kĩ năng viết tập làm văn.
b. Rèn cho học sinh cách dùng từ đặt câu
- Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách sắp xếp các từ ngữ hợp lí để tạo
thành những câu văn có đủ chủ ngữ, vị ngữ và có nghĩa.
- Các tiến hành: Bằng những câu hỏi gợi ý của giáo viên, học sinh rèn kĩ
năng dùng từ đặt câu thông qua một số bài tập trong phân môn luyện từ và câu
và tập làm văn .
- Luyện dùng từ: Đây là bài tập bổ trợ cho học sinh trước khi nâng cao kỹ
năng viết câu cho học sinh
Ví dụ : Điền các từ sau vào chỗ trống trong đoạn văn dưới đây sao cho
phù hợp: ( màu vàng; vàng; vàng lịm; vàng hoe; vàng xuộm)
Đoạn văn:
Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn…………những……… rất khác
nhau .Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cứng và sáng

Miêu tả cảnh
Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so
sánh hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm của cảnh vật đang tả, giúp người
đọc như đang đứng trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người
viết.
Ví dụ :
Sau đây xin trích một số câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm
Đức (Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những chòm
cây cao, rồi nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.”
5
Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà lẫn”
với “ánh sáng trắng nhợt”.
Tác giả cũng đã dùng mắt để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng
tối, đã dùng tai để nghe tiếng dế và dùng mũi để cảm nhận hương vườn và cũng
đã sử dụng nghệ thuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế,
khi viết:
“Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi
vật.”
“Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.”
“ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung
tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.”
Sau khi học sinh đã có một vốn từ nhất định, giáo viên giúp học sinh các
cách sử dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối
(đỏ mọng, đặc sệt, trong suốt ), sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh,
nhân hoá, ẩn dụ ).
Ví dụ 1: Cho các từ “ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ
từ ”
Hãy chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: “Tiếng
chim báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời nhô lên sau luỹ tre xanh.
Khói bếp nhà ai bay trong gió. Đàn gà con gọi nhau, theo chân mẹ. Đường

Trong bài văn “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123). Tác giả
miêu tả người thợ rèn đang làm việc:
“Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống. Dưới những nhát
búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.”
Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh
người thợ rèn như một người chinh phục dũng mãnh và thấy rõ quá trình biến
thỏi thép thành một lưỡi rựa.
Vì thế, để làm được bài văn tả người thành công, giáo viên cần giúp học
sinh xác định các yêu cầu sau:
Chú ý tả ngoại hình hoạt động:
Khi tả người cần chú ý đến tuổi tác- mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có sự phát
triển về cơ thể, về tâm lý riêng biệt khác nhau và có những hành động thể hiện
theo giới tính, thói quen sinh hoạt, hoàn cảnh sống…. Khi miêu tả cần tập trung
vào việc làm sao nêu được cái chung và cái riêng của con người được miêu tả.
Quan sát trò chuyện trực tiếp:
Khi tả người, điều cần nhất là quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý
kiến với người đó. Quan sát khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách
nói, cử chỉ, thao tác lúc làm việc…để rút ra nét nổi bật (chọn và quan sát
người định tả trong thời gian chuẩn bị bài mới ở nhà). Ta cũng cần dùng cách
quan sát gián tiếp là thông qua trí nhớ hoặc nhận xét của một người khác về
người định tả để bổ sung những thông tin cần thiết.
Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động:
Khi miêu tả có thể tách riêng từng mặt,từng bộ phận để tả nhưng để nội
dung bài văn miêu tả đạt được sự gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình,
tính nết đan xen với tả hoạt động.
Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình:
Khi tả người, điều quan trọng là cần tả chân thật những nét tiêu biểu về
người đó, không cần phải tô điểm người mình tả bằng những hình ảnh hoa mĩ,
vẽ nên một hình ảnh toàn diện. Làm như vậy bài văn sẽ trở nên khuôn sáo, thiếu
7

Câu 2: Hương lúa níu giữ đôi bàn chân nhỏ bé của em trên đường đi học
Hướng dẫn học sinh dùng biện pháp thay thế từ ngữ để liên kết 2 câu
trên như sau:
Hương lúa con gái dâng lên thơm ngát nó níu giữ đôi bàn chân nhỏ bé
của em trên đường đi học.
Với cách liên kết câu như vậy các em dần tạo ra được từng đoạn văn và
bài văn miêu tả sinh động, rành mạch, rõ ràng đúng yêu cầu đề bài.
Trước đây, khi học sinh viết tập làm văn các em thường lặp từ rất nhiều,
việc lặp từ đã làm cho nội dung bài văn trở nên khô khan, gây sự nhàm chán
cho người đọc và người nghe. Để khắc phục tình trạng này tôi mạnh dạng cho
8
học sinh dùng các từ ngữ đồng nghĩa hoặc đại từ để thây thế nhằm liên kết các
câu trong đoạn văn nhằm khắc phục việc lặp từ không cần thiết. Việc này được
tôi áp dụng trong các tiết lập dàn ý và làm văn miệng. Có thể nói biện pháp này
đã mang lại hiệu quả và thể hiện rất rõ qua các bài kiểm tra của học sinh.
e. Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh
Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát: quan
sát những gì, quan sát từ đâu ? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đối
tượng cần miêu tả. Để khắc phục điều này giáo viên cần phải thực hiện như sau:
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người để
giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy, tức là lấy câu văn
để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự vật, giúp người đọc như được nhìn tận
mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả. Vì vậy, khi dạy văn miêu tả, giáo viên cần
chú ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả theo các trình tự hợp lý :
Tả theo trình tự không gian:
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong, từ trái qua phải, (hoặc ngược lại). Ở lớp 5 trình tự này được
vận dụng khi miêu tả đồ vật, cảnh vật,
Ví dụ 1:
Tả từ ngoài vào trong: “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa

4. Hiệu quả:
Qua 4 tháng áp dụng các biện pháp trên, đến kiểm tra cuối học kỳ I năm
học 2013 – 2014 Tôi đó thu được kết quả như sau:
Tập làm văn: 5 ( điểm)
Đề bài: Hãy viết bài văn tả người bạn mà em yêu mến.
- Hướng dẫn đánh giá cho điểm
- Học sinh viết được bài văn miêu tả người theo yêu cầu của đề bài : Tả một
người bạn mà em yêu mến.
- Chữ viết rõ ràng, sạch sẽ, đúng cấu tạo bài văn tả người , tùy theo mức độ
sai soát về ý, cách diễn đạt và chữ viết có thể cho các mức điểm : 5; 4,5 - 4 ; 3,5 –
3 ; 2,5 – 2; 1,5 – 1; 1- 0,5 .
Kết quả đạt được như sau:
BẢNG TỔNG HỢP ĐIỂM KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
( PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN)
NĂM HỌC 2013– 2014
Stt HỌ VÀ TÊN ĐIỂM KHẢO SÁT ĐIỂM CUỐI HKI
1
Mấu Quốc Bình 2 3
2
Cao Minh Duẩn 1 2.5
3
Bo Bo Tro Thị Diệp 3 4
4
Cao Quốc khánh 3 4
5
Cao Thị Lụa 3 5
6
Tro Lược 2.5 4.5
7
Tro Thị Trinh Nữ 2 4

phần của bài văn miêu tả .Cách sử dụng từ đặt câu có tiến bộ nhiều so với đầu
năm học, cách diễn đạt lưu loát đặc biệt một số học sinh đã biết cách sử dụng
một số hình ảnh so sánh, nhân hóa khi làm văn miêu tả, biết cách lựa chọn từ
ngữ thích hợp để miêu tả, biết cách liên kết các câu trong đoạn bằng cách thay
thế từ ngữ đã làm cho bài văn thêm phần sinh động.
Qua các biện pháp trên, kĩ năng quan sát và ghi kết quả quan sát của học
sinh lớp 5A ngày càng tiến bộ. Học sinh biết lựa chọn những đặc điểm nỗi bật
của đối tượng miêu tả để quan sát.
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Căn cứ vào thực trạng của trường TH & THCS Ba Cụm Nam, tôi đã
mạnh dạng đưa “ một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng viết tập làm văn đối
với học sinh lớp 5 của trường và thu được một số kết quả rất khả quan.
Tôi thấy đây là một số biện pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động
của học sinh, các em hoàn toàn chủ động trong quá trình nhận thức. Đây là một
trong những nguyên tắc giáo dục có hiệu quả. Cụ thể tôi thấy khi vận dụng
các phương pháp dạy học trên - các tiết học tập làm văn diễn ra tự nhiên, nhẹ
nhàng và hiệu quả hơn. tất cả các em đều được thực hành luyện tập nhiều. Khắc
sâu nội dung kiến thức từng bài học. Biết vận dụng lý thuyết vào thực tế một
cách linh hoạt, sáng tạo.
11
Kĩ năng quan sát khi miêu tả dần được hình thành, học sinh biết ghi lại kết
quả quan sát một cách chi tiết, cụ thể, đúng yêu cầu của đề bài. Cách sử dụng từ
đặt câu rõ ràng, rành mạch.
Học sinh biết sử dụng một số biện pháp tu từ trong bài văn miêu tả một
cách linh hoạt và sáng tạo.Vì vậy bài viết của các em đã có nhiều sáng tạo và
chuyển biến rõ rệt so với đầu năm.
Các biện pháp trên đã được áp dụng thường xuyên ở khối lớp 5 trong giờ
học tập làm văn .Tôi tin chắc rằng các biện pháp trên khi áp dụng dạy cho học
sinh dân tộc thiểu số sẽ mang lại hiệu quả cao.

Thit k hot ng 2 bi luyn tp t cnh ( Ting Vit 5 tun 3)
KE HOAẽCH BAỉI HOẽC
Ngy dy : 17/09 /2013
Mụn: Luyn t v cõu
Bi 1: T NG NGHA.
I/ Mc tiờu:
- Bc u bit t ng ngha l nhng t cú ngha ging nhau hoc gn
ging nhau; hiu th no l t ng ngha hon ton , t ng ngha khụng hon
ton( ni dung ghi nh)
-Tỡm c t ng ngha theo yờu cu bi tp 1, 2( 2 trong s 3 t); t cõu
c vi mt cp t ng ngha , theo mu bi tp 3.
- HS khỏ , gii: t cõu c vi 2 cp t ng ngha tỡm c.
II/ dựng dy- hc:
- Bng ph vit sn ni dung on vn ca BT1.
- Bỳt d v 2, 3 t phiu photocopy cỏc BT2.
III/ Cỏc hot ng dy- hc:
1/ Khi ng:
2/ Bi mi:
A/ Gii thiu bi: GV gii thiu, ghi bng.
B/Dy bi mi:
Hot ng GV Hot ng HS
H1: Hng dn HS tỡm hiu phn nhn
xột
Bi 1: So sỏnh ngha ca cỏc t in m trong
mi vớ d:
- Cho HS c v tỡm hiu yờu cu bi.
- Cho HS lm vic theo cp : tỡm hiu ngha
ca tng t v so sỏnh ngha ca chỳng.
+ cõu a: xõy dng , kin thit
+ cõu b: vng hoe , vng lm, vng

- GV nhận xét và chốt lại :Nhóm từ đồng
nghĩa là: nước nhà- non sơng ; hồn cầu –
năm châu.
BT2: Tìm từ đồng nghóa với mỗi từ sau:
đẹp , to lớn , học tập
- Cho HS đọc u cầu bài.
- Cho HS làm việc theo nhóm 4.
- Chọn 2 từ và tìm từ đồng nghóa của 2 từ
đó.
- Cho HS trình bày.
- GV cung cấp thêm cho học sinh một số
từ đồng nghĩa với các từ trên, nhận xét và
chốt lại.
BT3: Đặt câu với một cặp từ đồng nghóa
vừa tìm được ở BT2
- Cho HS đọc u cầu bài.
- GV hướng dẫn : Em hãy chọn một cặp từ
đồng nghĩa và đặt câu với cặp từ đó.
- GV nhận xét .
- Nêu lại ghi nhớ.
- GV nhận xét tiết học.
- Dặn HS chuẩn bò bài : :” Luyện tập về
từ đồng nghóa”
- HS làm bài , trình bày
- Lớp nhận xét.
- Vài HS đọc ghi nhớ.
- HS đọc, lớp đọc thầm.
- HS thực hiện.
- Lớp nhận xét.
-1HS đọc , lớp đọc thầm.

2/ KTBC: Gọi 2 học sinh nêu bảng thống kê bài tập 2 tiết trước
3/ Bài mới:
A/ Giới thiêu bài: Giới thiệu và ghi đề lên bảng
B/Dạy bài mới:
Hoạt động của GV
Hoạt động của học sinh
Hoạt động 2:lập dàn ý bài văn tả một
cơn mưa
a. Mục tiêu:
- Biết lập dàn ý cho bài văn tả một cơn
mưa
b. Cách tiến hành
- Thực hiện cả lớp
- Cho học sinh đọc đề và phân tích đề
* Đề bài : Từ những điều quan sát
được, hãy lập dàn ý bài văn miêu tả
một cơn mưa
- Treo bảng phụ ghi hệ thống câu hỏi
gợi ý để giúp học sinh lập dàn ý chi
tiết cho bài văn tả một cơn mưa
a. Mở bài
1. Những dấu hiệu nào báo cơn mưa
sắp đến?
- Đọc đề và phân tích đề
- 2 học sinh đọc các câu hỏi gợi ý
17
b. Thân bài
1. Những từ ngữ tả tiếng mưa, hạt
mưa lúc bắt đầu đến lúc kết thúc cơn
mưa?

4 Cao Quốc khánh 3
5 Cao Thị Lụa 3
6 Tro Lược 2.5
7 Tro Thị Trinh Nữ 2
8 Nguyễn Thành Nhân 3
9 Mấu Hồng Phi 1
10 Hà Khánh Sơn 2.5
11 Tro Thanh Tài 2
12 Mấu Quốc Thùy 0.5
13 Tro Thanh Thuyền 3
- Danh sách trên gồm: 13 học sinh
0.5 điểm: 1 học sinh (chiếm: 7.7 %)
1 điểm: 2 học sinh (chiếm: 15.4 %)
2 điểm: 3 học sinh (chiếm: 23.1 %)
2.5 điểm: 2 học sinh (chiếm: 14.5 %)
3 điểm: 5 học sinh (chiếm: 38.5 %)
4 điểm: 0 học sinh (chiếm: 0 %)
5 điểm: 0 học sinh (chiếm: 0 %)
19
Phiếu ghi tên ghi điểm thời điểm cuối học kỳ 1 năm (2013 – 2014)
BẢNG TỔNG HỢP ĐIỂM KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
NĂM HỌC 2013-2014
Stt Họ và tên Điểm phân môn Tập làm văn Ghi chú
1 Mấu Quốc Bình 3
2 Cao Minh Duẩn 2.5
3 Bo Bo Tro Thị Diệp 4
4 Cao Quốc khánh 4
5 Cao Thị Lụa 5
6 Tro Lược 4.5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status