Các phương pháp tiết kiệm chi phí trong hoạt động kinh doanh dịch vụ tại khách sạn Kim Liên - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU,
SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 2.1. Bảng giá phòng khách sạn Kim Liên I……………………………….... 36
Bảng 2.2: Bảng giá phòng khách sạn Kim Liên II………………………………....37
Bảng 2.3 . Cơ cấu lao động tại các phòng ban của Công ty ks Kim Liên:
……………………………………………………………………………………44
Bảng 2.4: Cơ cấu trình độ của đội ngũ lao động trong khách sạn Kim
Liên…………………………………………………………………………………….45
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu trình độ đội ngũ lao động trong khách sạn Kim Liên
………………………………………………………………………………………….46
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy của khách sạn Kim Liên………………………………49
Bảng 2.5 .Bảng cơ cấu tình hình khách tại khách sạn Kim Liên trong giai đoạn 2002-
2007………………………………………………………………………………53
Biểu đồ 2.2 : Tình hình khách tại khách sạn Kim Liên trong giai đoạn 2002-
2007…………………………………………………………………………………….54
Bảng 2.6: Báo cáo kết quả kinh doanh tại khách sạn Kim Liên (2002-2007)
……………………………………………………………………………………55
Biểu đồ 2.3: Kết quả kinh doanh của khách sạn Kim Liên (2002-2007)…………...56
Sơ đồ 2.2 : Hệ thống phân phối dịch vụ trong ks Kim Liên …………………….....66
Chuyên đề tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn, góp phần quan trọng trong thu nhập kinh tế quốc dân, giải quyết nạn thất
nghiệp đang có chiều hướng gia tăng. Mặt khác, ngành du lịch còn là một trong 3
ngành kinh tế (cùng với 2 ngành, ngành khai thác và ngành chế biến dầu khí,
ngành chế tạo xe hơi) dẫn đầu về giá trị xuất khẩu. Là một ngành kinh tế tổng
hợp, du lịch đóng vai trò thúc đẩy các ngành khác phát triển như ngành giao
thông, xây dựng, bưu chính viễn thông, ngân hàng…

công nhân viên khách sạn cộng thêm một chích sách kinh doanh đúng đắn, khách
sạn Kim Liên đã khẳng định được vị thế của mình và hiện nay doanh nghiệp
khách sạn Kim Liên là đơn vị dẫn đầu trong các doanh nghiệp khách sạn 3 sao
tại Hà Nội .
Khách sạn Kim Liên đã đạt tốc độ tăng trưởng phát triển toàn diện có chất
lượng cao cả về doanh thu, nộp ngân sách, đảm bảo việc làm tăng thu nhập cho
người lao động, chất lượng sản phẩm dịch vụ, nếp sống văn hoá, tính chuyên
nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Đồng thời khách sạn cũng
luôn tạo điều kiện cho sinh viên đến thực tập trong đó có cả sinh viên trường Đại
học kinh tế quốc dân mà em cũng là một trong số đó.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của các khách sạn trong ngành du lịch, đặc biệt
hiểu được tầm quan trọng của việc tiết kiệm chi phí trong kinh doanh dịch vụ tại
khách sạn, trong thời gian thực tế tại Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên, được
Chuyên đề tốt nghiệp

giúp đỡ của các cô chú trong công ty và sự hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng
dẫn cùng sự tìm hiểu của bản thân, lấy lý luận soi vào thực tiễn, em xin mạnh
dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu : “ Các phương pháp tiết kiệm chi phí trong hoạt
động kinh doanh dịch vụ tại khách sạn Kim Liên”.
Đối tượng nghiên cứu là các phương pháp tiết kiệm chi phí trong hoạt động
kinh doanh dịch vụ của khách sạn Kim Liên nói riêng và một số khách sạn khác
tại Hà Nội, với phương pháp nghiên cứu là sử dụng phương pháp thống kê số
liệu, phân tích thực tiễn kết hợp với phân tích tổng hợp các số liệu đã thu thập
được. Nội dung chính của đề tài gồm 3 phần :
Chương I : Cơ sở lý luận về các phương pháp tiết kiệm chi phí trong hoạt
động kinh doanh dịch vụ tại khách sạn
Chương II : Thực trạng việc thực hiện các phương pháp tiết kiệm chi phí
trong hoạt động kinh doanh dịch vụ tại Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên
Chương III : Các giải pháp và kiến nghị cơ bản nhằm nâng cao và hoàn
chỉnh hơn các phương pháp tiết kiệm chi phí trong hoạt động kinh doanh dịch vụ

khách hàng tiêu dùng ngay sản phẩm họ cần, và sản phẩm đó thường là vô hình.
Theo quan niệm của các chuyên gia trong lĩnh vực marketing: Dịch vụ là toàn
bộ các hỗ trợ mà khách hàng mong đợi, nó phù hợp với giá, uy tín ngoài bản
thân hàng hoá hay dịch vụ đó.
Trong thực tế còn nhiều khái niệm về dịch vụ, trên đây chỉ là một số khái
niệm tiêu biểu, điển hình đưa ra cách nhìn nhận về dịch vụ. Tất cả các dịch vụ
được tạo ra không phải do chính nhà cung cấp muốn thế mà nó xuất phát từ
chính nhu cầu của khách hàng. Điều đó có nghĩa là dịch vụ được tạo ra sau khi
khách hàng nói hoặc bày tỏ thái độ “họ muốn gì”. Dịch vụ cung cấp cho khách
hàng không chỉ về vật chất mà còn mang lại cho họ lợi ích tinh thần. Từ đó ta có
thể thấy sản phẩm dịch vụ phải được xây dựng dựa trên những tiêu chuẩn nhất
định đáp ứng sự trông đợi của khách hàng. Ví dụ khi ta vào một quán bar, ngoài
chất lượng, số lượng đồ uống ra, chúng ta còn quan tâm đến không khí trong
phòng, chất lượng nhân viên phục vụ, trang thiết bị hiện đại...Tất cả những thứ
đó mới tạo nên khoản mục dịch vụ.
Hiện nay, thật khó phân biệt giữa sản phẩm hàng hoá và sản phẩm dịch vụ vì khi
bán một hàng hoá thường kèm theo dịch vụ hậu mãi (lắp đặt, sửa chữa, bảo
dưỡng....) và một dịch vụ thường có bán kèm hàng hoá (nhà hàng ăn, đồ lưu
niệm...).
Nếu khi xây dựng nên một sản phẩm hàng hoá người ta cần chú ý đến: đặc
tính kỹ thuật, hình dáng bên ngoài, dễ sửa chữa, bảo dưỡng, thay thế, độ tin cậy
và an toàn. Thì khi thiết kế một dịch vụ phải chú ý đến 4 đặc tính sau:
• Tiện nghi cung cấp: kiến trúc khách sạn có gây ấn tượng cho người tiêu dùng
hay không?, trang trí nội thất có phù hợp với đặc điểm văn hoá của khách hàng
mục tiêu không?, trang thiết bị có đầy đủ không và mức độ hiện đại đến
Chuyên đề tốt nghiệp

đâu?...Nếu thực hiện được điều này thì một phần nhu cầu của khách hàng có thể
được thoả mãn, tạo cho họ sự tiện lợi cũng như cảm giác tự thể hiện mình cao
nhất.

giặt là, gửi đồ, massage, bể bơi, các trương trình văn nghệ, đồ lưu niệm....Ngoài
ra một số khách sạn có quy mô lớn còn có dịch vụ hướng dẫn viên du lịch. Dịch
vụ bổ xung bắt buộc hoàn thiện hơn cho dịch vụ chính. Chẳng hạn như trước khi
quyết định ở khách sạn nào, khách cần có dịch vụ thông tin về khách sạn, dịch
vụ đặt chỗ trước, dịch vụ đón tiếp, mang hành lý....
Giữa dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
dịch vụ bổ sung ngày càng giữ vai trò quan trọng bởi nhu cầu của khách trọ
không ngừng tăng lên, đòi hỏi sự đáp ứng của nhiều dịch vụ. Không những thế
dịch vụ cơ bản rất dễ bắt trước, do đó nếu các khách sạn chỉ chú tâm vào các
dịch vụ chính thì kết quả là các khách sạn sẽ hầu hết giống nhau hoặc xích lại
gần nhau. Trong khi đó, cuộc chiến giữa các khách sạn ngày càng trở nên khốc
liệt hơn, mỗi doanh nghiệp phải tự xây dựng cho mình hướng đi riêng, do đó
chiến lược dị biệt hoá sản phẩm đã và đang được các khách sạn khai thác và tận
dụng triệt để. Sự phân biệt được đánh gía ở chất lượng phục vụ, hình thức cung
cấp dịch vụ bổ sung. Điều này dẫn đến một thực tế là dịch vụ bổ sung giữ vai trò
quan trọng đối với sự quyết định đi hay ở của khách.
1.1.3.Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ
Để làm rõ bản chất dịch vụ trong khách sạn, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về đặc
điểm của sản phẩm dịch vụ.
Chuyên đề tốt nghiệp

1.1.3.1. Dịch vụ là những sản phẩm mang tính vô hình.
Đây chính là một đặc tính riêng có của sản phẩm dịch vụ.Ví dụ khi một sản
phẩm mới ra đời, thông tin tới được khách hàng có thể nói lên một vài lợi ích của
nó. Tuy nhiên, lợi ích thực sự mà thể thấy sản phẩm dịch vụ đó mang lại chỉ có
thể nhận biết được sau khi đã trải qua việc sử dụng nó.
Chất lượng của hàng hoá, ví dụ như xà phòng, người sử dụng có được thông qua
việc giặt quần áo bẩn. Còn đối với sản phẩm dịch vụ, chất lượng của nó rất khó
đo lường một cách chính xác vì nó phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng.
Và bởi vì khách hàng không giống nhau nên cách cảm nhận của họ cũng khác

thác và phục vụ một cách tốt nhất những nhu cầu của khách, nhà cung ứng sẽ
thành công.
1.1.3.5. Kiểm tra chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Đây là một công việc hết sức khó khăn do sản phẩm dịch vụ mang tính vô
hình, được xây dựng chủ yếu dựa trên quá trình giao tiếp giữa nhân viên và
khách hàng. Nhà cung cấp không thể sử dụng bất kỳ một hình thức nào để đánh
giá chất lượng trừ khi dựa vào độ thoả mãn của khách hàng. Tuy nhiên mức độ
thoả mãn của mỗi người cũng rất khác nhau gây khó khăn cho việc đánh giá chất
lượng..
1.1.3.6. Bản quyền dịch vụ.
Trên thực tế, hầu hết các sản phẩm dịch vụ thường không có bản quyền và rất
dễ bị bắt trước, gây nhằm chán cho khách. Do đó các khách sạn phải tập trung
xây dựng các chiến lược dị biệt hoá sản phẩm của mình, phù hợp với đối tượng
Chuyên đề tốt nghiệp

khách chính.
1.1.4. Các yếu tố tham gia cấu thành lên hoạt động kinh doanh dịch vụ
trong khách sạn
1.1.4.1 Khách hàng
Khách hàng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất các sản phẩm dịch vụ
trong khách sạn thông qua những yêu cầu xuất phát từ nhu cầu của bản thân
mình, sự hài lòng của khách đối với chất lượng dịch vụ quyết định sự tồn tại
sống còn của khách sạn. Do đó nghiên cứu nhu cầu và sự trông đợi của khách
hàng tại thị trường mục tiêu là yếu tố cần thiết, quyết định tới chất lượng sản
phẩm dịch vụ.
* Lý thuyết về sự trông đợi dịch vụ của khách hàng.
Khi sự trông đợi của khách hàng về sản phẩm dịch vụ cân bằng với sự cảm
nhận của họ thì khi đó chất lượng dịch vụ đạt ở mức trung bình hoặc khá, còn
khi nó vượt quá hoặc kém xa so với sự cảm nhận của họ thì chứng tỏ dịch vụ tốt
hay tồi. Như vậy, sự trông đợi đóng vai trò quan trọng để các nhà cung cấp xác

• Tính thống nhất: Một khách sạn có thể có nhiều bộ phận khác nhau, tuy nhiên
đối với khách hàng tất cả chỉ là một. Do đó tất cả các khâu phải được tiến hành
ăn khớp với nhau, không có sự tách rời, sai lệch. Bất kỳ một sai lầm nhỏ nào
cũng đều dẫn đên sự hiểu lầm cho cả một hệ thống.
Từ đó ta thấy đối với sản phẩm dịch vụ khách hàng vừa là người sản xuất,
vừa là người tiêu dùng. Vậy tại sao họ lại luôn luôn sẵn sàng tham gia như vậy?
Chuyên đề tốt nghiệp

Chỉ có một câu trả lời duy nhất là xuất phát từ nhu cầu và mong muốn được thoả
mãn nhu cầu.
Sự trông đợi của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ đã trở thành tiêu
diểm để các doanh nghiệp khách sạn hướng tới. Tuy nhiên, chất lượng của các
sản phẩm này như thế nào lại tuỳ thuộc vào phía nhà cung ứng(các khách sạn).
1.1.4.2 Nhà cung ứng
Nhà cung ứng tham gia vào việc sản xuất, tạo ra các sản phẩm dịch vụ đáp
ứng nhu cầu của khách hàng. Các yếu tố từ phía nhà cung ứng bao gồm:
a. Vị trí địa lý của khách sạn
Góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ là các
doanh nghiệp khách sạn khác. Thông thường khách sạn được xây dựng ở những
nơi có tài nguyên du lịch như: tại các thành phố lớn, trung tâm văn hoá chính trị
hay tại các khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên...Đồng thời, khách sạn phải được
nằm ở gần trục đường giao thông, thuận tiện cho việc đi lại của khách.
b. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cần thiết cho việc sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ. Trong khách sạn đó là
các khu phục vụ khách như buồng, bàn, bar...và trang thiết bị máy móc phục vụ
cho công việc, đồ trang trí tạo nên vẻ đẹp bên ngoài cho dịch vụ. Sản phẩm dịch
vụ không chỉ tốt về chất lượng bên trong mà còn phải đẹp bên ngoài. Có 4 tiêu
chí dể dánh giá chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật trong khách sạn là: sự tiện
nghi, tính thẩm mĩ, sự an toàn và điều kiện vệ sinh. Bốn tiêu chí này thường đi
kèm với nhau, nếu một khách sạn mà có sự tiện nghi và tính thẩm mĩ thấp thì

Chuyên đề tốt nghiệp

Điều đó có nghĩa là nhà quản lý phải quan tâm đến động cơ, nhu cầu, sự chín
chắn của mỗi nhân viên mà từ đó có thái độ ứng sử thích hợp sao cho nhân viên
thực hiện mục tiêu của khách sạn một cách tự nguyện với lòng hăng hái nhiệt
tình.
Hoạt động dịch vụ là một quá trình liên hoàn, cần có sự phối hợp nhịp nhàng
giữa tất cả các khâu, phục vụ cho việc tạo ra một sản phẩm hoàn hảo. Tất cả các
yếu tố trên đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là thu lợi nhuận.

1.2. Chi phí và tiết kiệm chi phí
1.2.1. Chi phí và phân loại chi phí dịch vụ du lịch
1.2.1.1 Chi phí dịch vụ du lịch.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch một cách bình thường các
đơn vị cần phải tiêu hao một lượng lao động sống, lao động vật hoá nhất định.
Cụ thể, những hao phí về vật chất như: khấu hao tài sản cố định, chi phí về
nguyên liệu vật liệu, điện năng, nhà cửa, trang thiết bị, công cụ lao động nhỏ...
những hao phí này gọi chung là hao phí về lao động vật hoá, còn hao phí về lao
động sống như tiền lương, tiền công. Ngoài ra, còn có một khoản chi phí mà thực
chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra đó là các khoản trích theo lương như
BHXH, BHYT, KPCĐ, các loại thuế không được hoàn trả như thuế giá trị gia
tăng không được khấu trừ, thuế tài nguyên, lãi vay ngân hàng... Trong tổng chi
phí đó thì chi phí về lao động sống chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các khoản chi
phí khác. Sở dĩ như vậy là vì trong du lịch nói chung và khách sạn nói riêng, sản
phẩm dịch vụ du lịch cung cấp cho khách hàng là các lao vụ dịch vụ là kết quả
của lao động sống. Khối lượng và chất lượng của các lao vụ dịch vụ này phụ
thuộc vào yếu tố con người đó là: kinh nghiệm, trình độ nghiệp vụ, ý thức hay
Chuyên đề tốt nghiệp

nói cách khác đó là mức độ thích hợp của nhân viên cho một công việc cụ thể.

 Tiền lương của công nhân viên.
 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân viên.
 Khấu hao TSCĐ.
 Chi phí bằng tiền khác.
Nguyên tắc: phân loại chi phí theo cách này là những khoản chi phí có chung
tính chất kinh tế thì được xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát
sinh ở địa điểm nào, dùng vào mục đích gì trong kinh doanh.
Ý nghĩa: cách phân loại này là cơ sở cho việc tập hợp chi phí theo yếu tố và
lập báo cáo chi phí theo yếu tố, cho biết được chi phí của doanh nghiệp theo từng
yếu tố so với tổng chi phí phục vụ cho việc giám đốc tình hình dự toán chi phí
dịch vụ du lịch.
b. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế (theo khoản mục chi phí)
Nguyên tắc: theo cách này chi phí được phân loại theo những khoản chi phí
có công dụng kinh tế được sắp xếp vào một khoản mục chi phí, không tính đến
chi phí đó là gì và nội dung kinh tế của nó như thế nào.
Theo cách phân loại này, chi phí kinh doanh dịch vụ được chia thành các khoản
mục sau:
Chuyên đề tốt nghiệp

Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp: khoản mục chi phí này bao gồm các
loại chi phí như xà phòng, giấy vệ sinh, thuốc tẩy...
 Tiền lương của công nhân viên bao gồm: tiền lương chính, tiền lương phụ,
tiền thưởng và các khoản có tính chất lương khác của công nhân phục vụ.
 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân viên.
Các khoản trích nộp này được tính theo tỷ lệ % quy định bao gồm: BHXH
trích 15% trên tiền lương cơ bản (kỳ1) phải trả cho công nhân viên, BHYT là 2%
trên tiền lương cơ bản phải trả cho công nhân viên, KPCĐ là 2% trên tiền lương
cơ bản phải trả công nhân viên.
 Khấu hao TSCĐ: khoản mục này được tính theo tỷ lệ % trên nguyên giá
TSCĐ trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.

phân bổ một lần cho các đối tượng tính giá liên quan theo tiêu thức phù hợp.
Ngoài cách phân loại chi phí để phục vụ trực tiếp cho công tác hạch toán chi
phí và tính giá thành như trên, còn có cách phân loại chi phí khác để phục vụ cho
công tác quản lý chi phí, phân tích chi phí. Đó là phân loại chi phí theo mối
tương quan giữa khối lượng sản phẩm dịch vụ tạo ra và chi phí thì chi phí được
chia thành:
 • Chi phí cố định (chi phí bất biến): là những chi phí không thay đổi khi có
sự biến đổi về khối lượng sản phẩm dịch vụ tạo ra.
 • Chi phí biến đổi (chi phí khả biến): là những chi phí có mối tương quan
tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm dịch vụ tạo ra.
Chuyên đề tốt nghiệp

1.2.2. Chi phí và tiết kiệm chi phí trong du lịch nói chung
Chi phí kinh doanh du lịch là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố sử dụng
trong quá trình kinh doanh để doanh nghiệp tạo ra và cung ứng các sản phẩm
dịch vụ du lịch trên thị trường. Chi phí kinh doanh du lịch rất đa dạng và phức
tạp vì bao gồm nhiều khoản chi phí chỉ có tính chất, nội dung và mức độ khác
nhau.
Có những khoản chi phí có thể định lượng dễ dàng như chi phí khấu hao
phòng nghỉ, chi phí vận chuyển, chi phí nguyên liệu ăn uống, nhưng cũng có
những khoản chi phí khó có thể xác định chính xác giá trị thực như chi phí sử
dụng tài nguyên du lịch, chi phí tiếp cận thi trường khách mới, chi phí mở Tour
du lịch khách mới.
Du lịch là ngành lao động sử dụng nhiều lao động trực tiếp nên chi phí nhân
lực là một trong những khoản chi phí chủ yếu của ngành và doanh nghiệp du
lịch, đặc biệt ở những nước có mức trả công cao (các nước phát triển). Do đó,
vấn đề giảm bớt chi phí kinh doanh nói chung và chi phí nhân lực nói riêng là
mối quan tâm chính của các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm các con
đường nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Việc giải quyết vấn đề này tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của quốc

tương ứng.
Chuyên đề tốt nghiệp

1.2.3. Chi phí và tiết kiệm chi phí trong kinh doanh khách sạn
1.2.3.1. Phân tích chi phí trong khách sạn
Hoạt động kinh doanh của khách sạn hàng ngày hàng giờ luôn gắn liền với
các chi phí như làm vệ sinh, giặt đồ vải, ánh sáng bảo dưỡng, chi phí lương thực
thực phẩm, đồ uống, phục vụ…Lượng chi phí nhiều hay ít còn phụ thuộc vào qui
mô, khối lượng công việc, tổ chức lao động hợp lý, đặc điểm tiêu dùng của thị
trường mục tiêu, tính hoàn thiện trong công tác quản lý và thực hành tiết kiệm
của khách sạn. Nét đặc trưng khi xây dựng kế hoạch chi phí là tổng chi phí được
xác định trong kế hoạch phải là tối đa. Mức chi phí tối đa này chỉ được phép
vượt khi mà thực hiện vượt mức kế hoạch về doanh thu. Chi phí kinh doanh của
khách sạn được hiểu là toàn bộ các chi phí mà khách sạn phải bỏ ra để thực hiện
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm chi phí về đối tượng lao động,
tư liệu lao động, thù lao lao động và các chi phí bằng tiền khác. Trong kinh
doanh khách sạn xác định đối tượng phản ánh chi phí phải căn cứ vào loại dịch
vụ, hàng hoá và đơn vị tính của giá. Giá buồng là giá tính cho một ngày đêm cho
số khách ở, giá giường là giá cho 1 ngày đêm tính cho một khách, giá ăn là giá
tính cho 1 suất ăn ở mức độ nào ( định lượng, hình thức ăn ), giá dịch vụ là giá
tính cho xác định được tổng chi phí kinh doanh của khách sạn mình trong kỳ
phân tích và chi phí cho từng loại dịch vụ ( buồng ngủ, ăn uống và dịch vụ bổ
sung) việc xác định chi phí cần làm rõ và xếp chúng thành 2 nhóm chi phí cố
định và chi phí biến đổi.
Chỉ tiêu tổng quát về chi phí của khách sạn ( giá trị tuyệt đốí )
TC= C1 + C2 + C3
Trong đó:
TC: Tổng chi phí kinh doanh của khách sạn trong kỳ phân tích.
Chuyên đề tốt nghiệp


thể hiện chi phí trên 100 đơn vị tiền tệ doanh thu. Suất chi phí được xác định
bằng phần trăm giữa tổng thể chi phí trên tổng doanh thu.
Mp = Tổng chi phí/Tổng doanh thu x 100
Suất chi phí cần được tính toán cụ thể cho từng loại dịch vụ để làm cơ sở cho
việc so sánh tính hiệu quả kinh doanh đối với từng loại.
1.2.3.2. Tiết kiệm chi phí trong khách sạn
Khách sạn sử dụng rất nhiều lao động sống nên chi phí nhân lực là một trong
những khoản chi chủ yếu của khách sạn. Do đó vấn đề giảm chi phí kinh doanh
chính là giảm bớt chi phí nhân lực cho khách sạn . Đây không phải là biện pháp
rõ ràng thực hiện vì quản lý nhân lực trong khách sạn là cả một nghệ thuật và trả
lương cho họ đúng với năng lực càng khó chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý
phải có những chính sách tiền lương thưởng sao cho thật hợp lý và tiết kiệm nhất
các chi phí liên quan đến việc quan lý đào tạo nguồn nhân lực nhưng vẫn phải
đảm bảo tính hiệu quả và năng suất lao động cao sử dụng tối ưu nguồn nhân lực
khả năng phục vụ khách trong các mùa vụ là một trong nhưng biện pháp hiệu
quả để giảm phí chi phí.
Chi phí cho lao động sống là chủ yếu nhưng cần những chi phí dùng cho sản
xuất kinh doanh (điện ,nước, bưu chính…) các chi phí cho các đồ dung rẻ tiền
mau hỏng trong khách sạn (những đồ dùng đặt trong khách sạn sử dụng một
lần :bản chải, dầu gội, giấy viết thư…). Hiện nay kinh doanh ăn uống trong
khách sạn đang chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu và đây cũng là mảng
kinh doanh tốn nhiều chi phí mà nếu không biết tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả
Chuyên đề tốt nghiệp

thì rất lãng phí và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh chung. Đó là các chi phí
chi nguyên liệu đầu vào: Các nguyên liệu chế biến thức ăn, đồ uống… Quản lý
chi phí đầu này đang là vấn đề đáng quan tâm của các nhà lãnh đạo vì quản lý
chi phí nguồn không dễ chút nào. Cần phải có kế hoạch trong sử dụng và đầu tư
cho thật hợp lý và khoa học. Như vậy mới có thể tiết kiệm chi phí góp phần phát
triển doanh thu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status