Giải pháp nâng cao chất lượng đảng viên ở chi bộ 2, Đảng bộ Trường Trẻ em Khuyết tật An Giang giai đoạn hiện nay - Pdf 26


1
MỞ ĐẦU
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; suốt đời phấn đấu
cho mục đích, lý tưởng của Đảng…
Công tác đảng viên là một trong những công tác quan trọng trong công tác xây
dựng Đảng. Nói đến công tác xây dựng Đảng là nói đến xây dựng Đảng về chính trị,
xây dựng Đảng về tư tưởng, xây dựng Đảng về tổ chức. Thực hiện tốt công tác đảng
viên như công tác đào tạo, bồi dưỡng đảng viên; phân công nhiệm vụ; quản lý, kiểm
tra; công tác kết nạp đảng viên mới và thường xuyên đưa những người không đủ tiêu
chuẩn ra khỏi Đảng…Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, là nhân tố
quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Đối với đảng viên là giáo viên còn có nhiệm vụ nặng nề hơn vì mỗi thầy giáo cô giáo
là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Đảng cộng sản là đội tiên phong chính
trị của tổ chức và là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ nhất, cách mạng nhất và giác ngộ nhất
của giai cấp công nhân. Đảng viên phải là người tiên phong gương mẫu trong tổ chức
và hành động thực tiễn đời sống xã hội, do đó trong hệ thống chính trị xã hội của xã
hội chủ nghĩa chỉ có Đảng mới đủ phẩm chất chính trị, năng lực xứng đáng là người
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đảng viên cộng sản là người vừa được giác ngộ
cao về lý luận chính trị, vừa là người có ý thức tổ chức, kỷ luật cao, tự giác phục tùng
những quan hệ về tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính nhờ có hai điều
kiện đó đảm bảo cho đảng viên là người đại biểu cho tính tự giác của giai cấp công
nhân, có đủ khả năng tập hợp, giáo dục và lãnh đạo quần chúng.
Trong những năm gần đây, đa số đảng viên được đào tạo bài bản về chuyên
môn, có trình độ từ đạt chuẩn trở lên, tận tuỵ với công việc, có khả năng đáp ứng và
hoàn thành công việc được giao. Cán bộ đảng viên cơ bản xây dựng được bản lĩnh, lập

2
trường tư tưởng vững vàng, kiên định trước khó khăn, thách thức; có phẩm chất đạo
đức lối sống lành mạnh, thực hiện đúng các quy định về những điều đảng viên không

Đảng bộ Trường Trẻ em khuyết tật được thành lập phát triển từ chi bộ của
trường từ năm 2010 có 30 đảng viên đến nay đảng bộ có 37 đảng viên. Đảng ủy gồm
có 05 người: 01 Bí thư Đảng uỷ; 01 Phó bí thứ đảng uỷ; 03 uỷ viên đảng uỷ.
Có ba chi bộ trực thuộc:
+ Chi bộ 1: Sinh hoạt ghép gồm hai tổ chuyên môn là tổ Văn phòng và tổ Chăm
sóc – cấp dưỡng .Có 07 đảng viên.
+ Chi bộ 2: Sinh hoạt ghép gồm 03 tổ chuyên môn: Tổ khiếm thị Tiểu học; Tổ
khiếm thị Trung học cơ sở; Tổ Phục hồi chức năng – Dạy nghề.Có 15 đảng viên.
+ Chi bộ 3: Sinh hoạt ghép gồm 02 tổ chuyên môn: Tổ khiếm thính Tiểu học;
Tổ Dự bị - Can thiệp sớm.Có 15 đảng viên.
1.1.2. Đặc điểm của chi bộ 2, Đảng bộ Trƣờng Trẻ em Khuyết tật An Giang
Chi bộ có 15 đảng viên, Chi uỷ trong đó 01 Bí thư; 01 Phó bí thư; 01 chi uỷ
viên. Sinh hoạt ghép gồm 03 tổ chuyên môn:
+ Tổ Khiếm thị - Tiểu học: Dạy các môn văn hoá chương trình Tiểu học cho
học sinh khiếm thị
+ Tổ Khiếm thị - Trung học cơ sở: Dạy các môn văn hoá chương trình Trung
học cơ sở cho học sinh khiếm thị
+ Tổ Phục hồi chức năng – Hướng nghiệp dạy nghề: Dạy các môn Phục hồi
chức năng và Hướng nghiệp nghề cho học sinh khiếm thị và học sinh khiếm thính.

4
Tổng số: có 15 đồng chí: nam 07 đống chí; nữ 08 đồng chí
Trong đó : Đảng viên dưới 30 tuổi: không
Đảng viên từ 31 đến 40 tuổi: 10 đồng chí; Tỉ lệ: 66.7 %
Đảng viên từ 41 đến 50 tuổi: 03 đồng chí; Tỉ lệ: 20 %
Đảng viên từ 51 đến 60 tuổi: 02 đồng chí; Tỉ lệ: 13.3 %
Biểu tổng hợp chất lƣợng đảng viên của chi bộ từ năm 2010 đến 2012

Năm
TS


03
10
04
09

2011
14
07
07
14

03
11
03
11

2012
15
08
07
15

03

Đảng, họ là người trực tiếp cùng tổ chức cơ sở Đảng nơi họ sinh hoạt, dân chủ thảo
luận đề ra nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, đồng thời họ là người lãnh đạo nhân dân và
cùng nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
+ Về mối quan hệ giữa đảng viên với tổ chức đảng.
Đảng viên có chất lượng cao là cơ sở để xây dựng tổ chức vững mạnh. Ngược
lại, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện quan trọng quyết định chất lượng
đội ngũ đảng viên. Tổ chức đảng quyết định con người, tổ chức mạnh mới có đảng
viên tốt.
Tổ chức đảng quy định vị trí, chức năng, phương hướng hành động và phân
công nhiệm vụ cho từng đảng viên hoạt động trong guồng máy chung. Tổ chức đảng
trong sạch vững mạnh, đoàn kết, đội ngũ cấp uỷ viên có phẩm chất, năng lực, biết tôn
trọng và huy tụ trí tuệ tập thể thì đảng viên trong tổ chức đó được rèn luyện và trưởng

6
thành, phẩm chất và năng lực của từng người được phát huy. Tổ chức đảng mạnh sẽ
tạo ra một sức mạnh tập thể, được nhân lên nhiều lần từ sức mạnh của mỗi cá nhân.
Ngược lại, chi bộ và đội ngũ cấp uỷ yếu kém, tổ chức lỏng lẻo, mất đoàn kết, chức
năng, nhiệm vụ, phân công trách nhiệm không rõ, kỷ luật lỏng lẻo, chế độ công tác và
chế độ sinh hoạt không chặt chẽ thì số cá nhân, cán bộ, đảng viên tốt khó phát huy
được tác dụng, đồng thời số yếu kém sẽ tăng lên và tình trạng hư hỏng, thoái hoá cũng
nảy sinh.
+ Về mối quan hệ giữa đảng viên với phong trào cách mạng quần chúng.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng viên sống gắn bó và trưởng
thành trong lòng quần chúng, được thử thách, rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn.
Đảng viên là người tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, hướng dẫn cho quần chúng
thực hiên nhiệm vụ chính trị của cơ sở, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Qua phong trào quần chúng, một mặt,
người đảng viên học hỏi được kinh nghiệm từ quần chúng; mặt khác, đảng viên phải
tiên phong, gương mẫu trước quần chúng, làm sao cho dân tin, dân phục, dân yêu.

tiễn, giao nhiệm vụ để thử thách, giao nhiều nhiệm vụ khác nhau gắn với quá trình
công tác để đề bạt, cất nhắc đúng người, đúng việc.
Hình thức giáo dục, rèn luyện đảng viên có thể có nhiều hình thức khác nhau
như phối hợp với các cơ quan đào tạo, phối hợp với cấp uỷ cấp trên mở các lớp học
chính quy, tại chức, đặt ở nhiều địa điểm khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho người
học và kế hợp tốt cho người học vừa học tập, vừa công tác.

8
Cấp uỷ cơ sở lập chương trình, kế hoạch cụ thể cho công tác giáo dục, rèn luyện
đảng viên trong từng năm. Sau một năm thực hiện phải có tổng kết, đánh giá, rút
khinh nghiệm. Sau khi thực hiện công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên phải gắn với
phân công công tác, nhiệm vụ cho đúng người, đúng việc, đúng trình độ, năng lực,
đúng nguyện vọng của mỗi đảng viên. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ
cấp trên và phối hợp, kết hợp giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị- xã hội
ở cơ sở trong công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên.
b. Kết nạp đảng viên:
Kết nạp đảng viên là tăng về số lượng và từng bước cải thiện, cơ cấu, trẻ hoá
đội ngũ đảng viên, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng đảng viên, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Với phương châm:
Một là, coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng đơn thuần. Số lượng và
chất lượng đảng viên có mối quan hệ tác động hữu cơ lẫn nhau, chất lượng từng đảng
viên là yếu tố hàng đầu tạo nên chất lượng đội ngũ đảng viên. Tuy nhiên cũng không
vì số lượng mà coi nhẹ chất lượng, hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên.
Hai là, kết nạp đảng phải luôn luôn đi đôi với củng cố Đảng, làm trong sạch đội
ngũ đảng viên.
Ba là, cảnh giác, đề phòng những phần tử cơ hội, phản động chui vào Đảng.
- Các bước tiến hành của công tác kết nạp đảng viên mới phải khoa học, đúng
quy định và kế hoạch của chi bộ, đảng bộ đề ra. Thực hiện bước nào phải có chất
lượng bước đó, đặc biệt phải coi trọng chất lượng, không vì thành tích, vì kế hoạch đề
ra mà chạy theo số lượng.

10
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, CHẤT LƢỢNG ĐẢNG VIÊN Ở CHI BỘ 2,
ĐẢNG BỘ TRƢỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT AN GIANG
2.1.Thực trạng chất lƣợng đảng viên ở chi bộ 2, Đảng bộ Trƣờng Trẻ em
Khuyết tật An Giang.
2.1.1. Những ƣu điểm:
2.1.1.1. Về đội ngũ đảng viên:
* Về tƣ tƣởng chính trị:
Tất cả các đảng viên trong chi bộ đều có lập trường quan điểm vững vàng.
Trung thành kiên định với đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà
nước. Các đảng viên trong chi bộ đều có trình độ chuyên môn từ Cao đẳng sư phạm
trở lên. Về năng lực nhận thức của đảng viên đều có nhận thức đúng về chủ trương
đường lối, nghị quyết của Đảng, có năng lực thực tiễn. Tuyên truyền, vận động gia
đình và nhân dân thực hiện đúng quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Tự giác chấp hành chế độ học tập các nghị quyết của
Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước để không ngừng nâng cao kiến thức, năng
lực chuyên môn.
* Về phẩm chất đạo đức lối sống:
Đa số đảng viên trong chi bộ luôn nêu cao tinh thần, phẩm chất đạo đức cách
mạng, có lối sống trong sáng, lành mạnh, có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.
Luôn gương mẫu, nêu cao vai trò của người đảng viên, nêu cao tinh thần tự phê bình
và phê bình. Chấp hành tốt và thực hiện tiết kiệm trong các hoạt động công tác thường
xuyên, chống lãng phí. Không vi phạm những điều đảng viên không được làm. Giữ
gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng, đoàn kết nội bộ, trung thực với Đảng, có ý thức
thực hiện tốt việc đấu tranh xây dựng nội bộ Đảng.

11
Đa số đảng viên trong chi bộ xác định được vai trò tiên phong gương mẫu trong
công tác cũng như trong sinh hoạt, lối sống, phẩm chất đạo đức của người đảng viên

cấu, trẻ hoá đội ngũ đảng viên, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng đảng viên,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Công tác kết nạp đảng viên
mới ở chi bộ thực thiện đúng theo quy định và kế hoạch đã đề ra và đồng thời chú
trọng đến chất lượng, chứ không chạy theo số lượng. Cụ thể mỗi năm chi bộ kết nạp
thêm 01 đảng viên mới góp phần làm tăng thêm sức chiến đấu của chi bộ.
* Kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên.
Đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng làm cho số lượng đảng viên đi
đôi vơí chất lượng đảng viên tránh tình trạng đảng viên đông nhưng không mạnh.
Nhận thức được điều này nên hàng tháng trước khi sinh hoạt chi bộ thì chi uỷ thực
hiện tốt việc kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả thực hiện theo kế hoạch kiểm tra
chuyên đối với từng đảng viên trong chi bộ, để có những đóng góp kịp thời khi có
đảng viên có biểu hiện lệch lạc về lý tưởng hoặc giảm súc về chuyên môn… Từ đó
giúp cho đồng chí mình nhận ra những sai sót và sửa chữa kịp thời góp phần làm cho
chi bộ không có đảng viên nào vi phạm phải kỷ luật. Đồng thời góp phần làm cho chi
bộ ngày càng trong sạch vững mạnh.
2.1.2. Những hạn chề:
2.1.2.1. Về đội ngũ đảng viên:
Song song với những ưu điểm trên, đội ngũ đảng viên còn có những hạn chế
khuyết điểm như sau:

13
Đội ngũ đảng viên tuy có kinh nghiệm thực tế nhưng trình độ lý luận chính trị
còn yếu. năng lực lãnh đạo quần chúng còn hạn chế. Một số đảng viên còn nể nang,
ngại va chạm, chưa mạnh dạn trong công tác tự phê bình và phê bình như khi góp ý
kiến cho lãnh đạo thì ít ai dám góp ý thật lòng vì sợ không hài lòng cấp trên, một số
đảng viên chưa phát huy và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, lợi dụng
nguyên tắc tập trung dân chủ để phê bình chỉ trích nhau chứ không mang tính xây
dựng, một số đảng viên còn ngại khó, chưa tiên phong trong công việc, chủ yếu giao
việc thì làm. Được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ nhưng chất lượng chưa cao.
2.1.2.2. Về công tác đảng viên:

- Một số đảng viên chưa quan tâm nhiều đến công tác Đảng mà phần lớn chỉ lo
cho công tác chuyên môn của mình, nên ít chịu khó tìm hiểu thêm về hoạt động công
tác đảng, trách nhiệm của một người đảng viên từ đó ảnh hưởng ít nhiều đến ý chí
phấn đấu của người đảng viên. 15
CHƢƠNG 3
PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐẢNG VIÊN Ở
CHI BỘ 2, ĐẢNG BỘ TRƢỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT AN GIANG
3.1. Phƣơng hƣớng:
- Tăng Cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ đảng viên
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ
chức kỷ luật, thực sự tiên phong gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được
giao. Cấp uỷ phải quan tâm làm tốt công tác chính trị tư tưởng, chủ động dự báo tình
hình để kịp thời trang bị những thông tin có định hướng của Đảng cho đảng viên, nâng
cao chất lượng công tác và học tập lý luận chính trị, chú ý bồi dưỡng cho đảng viên có
kỹ năng lãnh đạo, giải quyết những tình huống xảy ra ở cơ sở. Chủ động khắc phục
những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, chống chủ nghĩa cơ hội, thực dụng xây dựng đoàn
kết thống nhất trong cấp uỷ, chi bộ, đảng bộ trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, điều lệ
Đảng, đường lối, chính sách của Đảng và tình đồng chí. Cấp uỷ phải nắm chắc tình
hình tư tưởng, phát hiện kịp thời những đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống và các
biểu hiện tiêu cực khác; có biện pháp cụ thể để phòng ngừa, giáo dục, giúp đỡ và xử
lý nghiêm minh đối với những đảng viên sai phạm.

Tiêu chuẩn đảng viên là những yêu cầu rất cơ bản về phẩm chất và năng lực mà
mọi đảng viên cần có: Là tiêu chí để từng đảng viên phấn đấu rèn luyện, là tiêu chí để
đánh giá, phân loại đảng viên. Tiêu chuẩn đảng viên cũng là tiêu chí để đưa những
người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, là tiêu chí để quần chúng phấn đấu
và tổ chức cơ sở Đảng xem xét kết nạp họ vào Đảng. Do đó xác định đúng tiêu chuẩn
đảng viên là khâu đầu tiên chi phối tất cả các khâu khác của công tác đảng viên.

17
Tiêu chuẩn đảng viên trong giai đoạn hiện nay đã được Đại hội Đại biểu toàn
Quốc lần thứ XI của Đảng thông qua: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ
cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc
Việt Nam; suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tố
quốc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân, chấp hành
nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị , điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp
luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức lối
sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật Đảng, giữ
gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đó là tiêu chuẩn chung cho đảng viên trong toàn
Đảng. Ngoài các tiêu chuẩn chung thì đối với đảng viên trong trường Tiểu học phải là
người có trình độ sư phạm Tiểu học. Có năng lực giáo dục học sinh Tiểu học. Chấp
hành đúng nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học, am hiểu và thực hiện tốt công ước
thiếu nhi, luật giáo dục, luật phổ cập giáo dục Tiếu học. Là người phải luôn luôn phấn
đấu để trở thành giáo viên giỏi các cấp. Có uy tín với học sinh, đồng nghiệp và quần
chúng nhân dân.
Xây dựng tiêu chuẩn Đảng viên tại đơn vị để đảng viên phấn đấu hoàn thành
và đạt tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn Đảng viên được làm căn cứ để đánh giá phân loại đảng
viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình tại cơ sở.
3.2.2. Tăng cƣờng công tác giáo dục, nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống,
năng lực thực tiễn cho đảng viên.
Đây là nhiệm vụ thường xuyên của chi bộ của tổ chức cơ sở Đảng. Qua thống
kê trình độ chính trị của đảng viên trong chi bộ chúng ta thấy rằng trình độ chính trị

lực của từng đảng viên để phân công cho phù hợp.

19
+ Phân công giao giáo viên chủ nhiệm lớp làm công tác khác.
+ Phân công đảng viên làm chủ tịch công đoàn nhà trường.
+ Phân công đảng viên phụ trách mảng phong trào của nhà trường . . .
(100% đảng viên đều được phân công nhiệm vụ cụ thể trong tháng, quý, năm) Chi uỷ
giám sát theo dõi đảng viên thực hiện nhiệm vụ được chi bộ phân công và đánh giá
mức độ hoàn thành của từng đảng viên.
Về đánh giá phân loại đảng viên: Thông qua đánh giá phân loại đảng viên để
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, làm cho chất lượng đảng viên ngày càng được nâng lên.
Đánh giá đảng viên là một quá trình cần phải đảm bảo đúng quy trình, đánh giá chính
xác. Nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đảng viên trong công tác tự phê bình và
phê bình. Phát huy dân chủ trong chi bộ tạo điều kiện cho đảng viên nói thẳng, nó
thật.
Chi uỷ chi bộ cần xây dựng quy trình đánh giá, phân loại đảng viên theo các
bước sau đây:
Bước 1: Chuẩn bị: Bí thư chi bộ thông báo nội dung hội nghị cho đảng viên biết
để chuẩn bị ý kiến. Thông báo tiêu chuẩn xếp loại đảng viên, yêu cầu đảng viên
nghiên cứu tiêu chuẩn từ đó đối chiếu với nhiệm vụ công việc được giao và các mặt
hoạt động khác để tự đánh giá, chuẩn bị bằng bản tự kiểm cá nhân. Thông báo ngày
giờ hội nghị, địa điểm, thành phần tham gia để đảng viên có sự chuẩn bị trước.
Bước 2: Chi bộ học tập và thoả luận các tiêu chuẩn đảng viên để đánh giá đảng
viên chính xác hơn.
Bước 3: Bản thân mỗi đảng viên được trình bày bản tự kiểm điểm của mình.
Bước 4: Tập thể chi bộ góp ý kiến cho đảng viên. Ghi nhận những thành tích
mà đảng viên đạt được, tập thể biểu dương khen thưởng và học tập. Ngược lại còn có
nhiều thiếu sót thì được tập thể nhắc nhở kịp thời để đảng viên uốn nắn vươn.

20

đồng chí, đồng đội của mình. Thương yêu giúp đỡ nhau trong cuộc sống, thực hiện tốt
các chế độ công khai trong Đảng, giữ nghiêm kỷ luật Đảng.
3.2.6. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung
ƣơng 4 khoá XI.
Với tinh thần của Đảng cách mạng , Trung ương đã nhìn thẳng vào sự thật, đề
ra chủ trương, giải pháp khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, nhằm xây dựng
Đảng ta thật sự là Đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh
không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Trung ương đã
xác định lấy tự phê bình và phê bình, nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu của cấp
trên là nhóm giải pháp đầu tiên.
Với chi bộ, thực hiện tự phê bình và phê bình được coi là quy luật phát triển của
đảng viên, nhất là trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và trước thực
trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối
sống như hiện nay thì chi bộ càng coi trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả của tự
phê bình và phê bình. Trong tự phê bình và phê bình trước hết là kiểm điểm tập thể
chi bộ, sau đó đến từng cá nhân như: bí thư, phó bí thứ, chi uỷ viên rồi đến từng đảng
viên, việc kiểm điểm phải gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao đồng thời phải dám
nhìn thẳng vào sự thật, mạnh dạn đóng góp đồng chí mình một cách chân tình, xem đó
là cách tốt nhất để sửa mình, phát huy ưu điểm, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm
để tiến bộ hơn trong thời gian tới.
Để phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế khuyết điểm, không ngừng
nâng cao chất lượng công tác tự phê bình và phê bình của chi bộ cần thực hiện một số
nội dung sau:

22
- Trước hết, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc hơn nữa tinh thần Nghị
quyết Trung ương 4 (khoá XI), từ đó không ngừng nâng cao nhận thức, xây dựng ý
thức tự giác trong tổ chức thực hiện của chi uỷ và đảng viên, xem tự phê bình và phê
bình là nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng
Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, là đạo đức, là văn minh; là nhiệm vụ quan

Minh phù hợp với đặc điểm hoạt động của cơ quan đơn vị và của ngành trong giai
đoạn hiện nay. Xác định rõ trách nhiệm gương mẫu của đảng viên, nhất là cán bộ lãnh
đạo chủ chốt, người đứng đầu (tổ khối, bộ phận, đơn vị). Đưa việc học tập và làm theo
tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành một nội dung sinh hoạt
của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể trong đơn vị theo định kỳ hàng tháng. Tiếp
tục thực hiện có hiệu quả việc tích hợp nội dung về học tập và làm theo tư tưởng, tấm
gương đạo đức phong cách Hồ Chí Minh cho học sinh và các lớp bồi dưỡng cán bộ,
giáo viên. Giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tư tưởng, tấm gương đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh. Công tác sơ, tổng kết và kiểm tra định kỳ việc học tập
và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh tuyên
truyền về việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh gắn với kỷ niệm các ngày lễ lớn.
3.2.8. Mạnh dạn đƣa những đảng viên không đủ tƣ cách ra khỏi Đảng.
Thực hiện lời dặn của Bác “ Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và
cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính chí
công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch…” và “phải giữ gìn sự đoàn kết trong
Đảng như giữ gìn ngươi của mắt mình”. Hiện nay có một số đảng viên không còn tự
giác tu dưỡng đạo đức, nâng cao giác ngộ cách mạng và rèn luyện lối sống nên bị suy
thoái tư tưởng chính trị, tha hoá đạo đức, biến chất, chạy chức, chạy quyền, tham

24
nhũng …Những đảng viên như vậy thường là người cơ hội, vô ý thức trong thực hiện
nhiệm vụ đảng viên và chức trách cán bộ; hành vi né tránh, ngại va chạm của những
đảng viên, chỉ biết sống thực dụng, kiếm lợi riêng cho mình. Chính vì lẽ đó mà tiêu
cực xã hội không được ngăn chặn, đẩy lùi trở thành nguy cơ đối với chế độ. Đảng viên
có thái độ né tránh, ngại va chạm tức là chưa thật sự trung thực, trung thành với sự
nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân và tổ quốc Việt Nam ta. Là đảng viên mà né
tránh, ngại va chạm, không dám biểu lộ chính kiến trước những vấn đề phức tạp, nhạy
cảm, chỉ lo giữ quyền lợi riêng thì chính họ đang làm chậm sự phát triển, phải đưa họ
ra khỏi tổ chức Đảng.

xử lý kỷ luật trên nhẹ dưới nặng. Công tác kiểm tra giám sát của Đảng phải gắn với ý
thức tự giác rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần tự phê bình và phê bình
của mỗi đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đế
cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhằm góp phần xây dựng Đảng trong sạch
vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
3.3. Kiến nghị:
-   Giang: lập kế hoạch cho các đảng
viên đều được tham gia học chương trình sơ cấp lý luận chính trị, do Trung tâm bồi
dưỡng chính trị thành phốp Long Xuyên mở hàng năm. Đối với các bí thư, phó bí thư
chi bộ, uỷ viên được tham gia học lớp trung cấp chính trị.
- T: xử lý nghiêm các cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật
Đảng để giữ vững niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng.
- Giang : xem xét thêm về chế độ chính sách cho bí thư, phó bí
thư, chi uỷ viên dưới cơ sở.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status