MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta rất chú trọng về việc rèn luyện phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; nhất là vai trò nêu gương của
cán bộ chủ chốt. Để đáp ứng được yêu cầu này, các trường phổ thông phải quan
tâm đến việc giáo dục toàn diện cho học sinh; đây là tiền đề quan trọng cho việc
đào tạo đội ngũ cán bộ có chất lượng cho đất nước sau này.
Vấn đề giáo dục toàn diện đã được thể hiện rõ nét trong các chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước ta xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
Điều 27 của Luật Giáo dục Việt Nam có nêu rõ:
- “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh
tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.”
- “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ
thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.”
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Đại hội XI, Đảng ta
xác định: “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục
đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi
mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở
tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ
giữa nhà trường với gia đình và xã hội.”
Tiếp theo đó, Chiến lược Phát triển giáo dục 2011 – 2020 (Ban hành kèm
theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ) đã
khẳng định mục tiêu tổng quát của giáo dục là “Đến năm 2020, nền giáo dục nước
ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một
toàn diện học sinh. Đó chính là giáo dục những tri thức tinh hoa của nhân loại, đạo
đức, lối sống, văn hóa truyền thống của dân tộc, kỹ năng hưởng thụ, sáng tạo nghệ
thuật, thẩm mỹ mà theo C.Mác thì giáo dục toàn diện bao gồm: giáo dục thể lực,
trí lực, khoa học kỹ thuật tổng hợp và giáo dục gắn liền với lao động sản xuất, tức
là nội dung giáo dục bao gồm các mặt: trí, đức, thể mỹ và giáo dục nghề nghiệp.
Đối với V.I.Lênin cho rằng, khi cách mạng mới thành công, bước đầu củng
cố chính quyền thì nhiệm vụ của công tác giáo dục là tuyên truyền và giáo dục về
tư tưởng, chính trị là chủ yếu. Khi cách mạng bước sang giai đoạn hoà bình, xây
dựng đất nước thì nhiệm vụ của công tác giáo dục cũng phải có sự thay đổi theo
cho phù hợp. Sự thay đổi đó thể hiện ở chỗ: công tác giáo dục và đào tạo phải luôn
gắn liền, bám sát với thực tiễn cuộc sống, giáo dục và đào tạo phải trở thành đòn
bẩy, thành công cụ, thành nguồn nội lực bên trong của quá trình phát triển kinh tế
- xã hội.
Còn giáo dục toàn diện theo quan điểm của Khổng Tử “Theo ta, người có đức
nhân là: Bản thân mình muốn đứng vững trong cuộc sống thì phải giúp người khác
đứng vững trong cuộc sống. Mọi việc điều có thể từ mình mà nghĩ đến người
khác, có thể nói đó là biện pháp thực hiện điều nhân” (Luận Ngữ-Ung dã). Nhân
theo Khổng Tử còn là: “kỷ sở bất dục, vi thư ư nhân”. Để thực hiện được Nhân,
Khổng Tử cho rằng con người phải có lễ. Lễ là các quy phạm đạo đức hợp thành
một hệ thống qui tắc xử thế. Trong suốt cuộc đời làm thầy của mình, bên cạnh dạy
chữ, bao giờ Khổng Tử cũng chú trọng vào dạy người, ở đây đề cao thuyết đức trị.
Qua các quan điểm trên, ta có thể đưa ra khái niệm về giáo dục toàn diện học
sinh như sau: Giáo dục toàn diện học sinh là các hoạt động dạy học – giáo dục
của trường phổ thông nhằm đạt được mục tiêu: giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học
sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục toàn diện học sinh
triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao
động có kỹ thuật đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao
động của xã hội. Đi đôi với việc nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn và
4
năng lực thực hành, cần coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp
luật, giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng. Kết hợp giảng dạy, học tập với
lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật. Chuẩn bị cho thanh niên bước vào cuộc sống lao động sản xuất và chiến
đấu, hiểu và làm tốt nghĩa vụ công dân.
Đến Nghị quyết Đại hội VII nêu rõ: mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có
tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có
đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Nhà trường đào tạo
thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả
năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Tại Đại hội VIII, về giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nhấn mạnh với những
nội dung chủ yếu: cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi
trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả.
Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong 5 năm tới là phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho
nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém
trong giáo dục và đào tạo.
Đến Đại hội IX, về vấn đề giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nêu rõ: “ Tiếp
tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy
và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hoá”. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của
học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”.
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, nhà trường gắn với xã hội” Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân
lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện. Đổi mới phải bảo
đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học.
Như vậy, trải qua nhiều kỳ Đại hội, Đảng ta luôn quan tâm và chú trọng đến
việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện con người Việt Nam và luôn khẳng
định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát
triển.”
1.4. Chính sách của Nhà nước ta về giáo dục toàn diện học sinh
* Kể từ Đại hội Đảng khóa VI (Đại hội của đổi mới) năm 1986 đến nay, Nhà
nước ta đã đề ra nhiều chính sách về giáo dục; điều này được thể hiện qua việc
6
Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về lĩnh vực giáo
dục và luôn khẳng định phải bảo đảm tính toàn diện trong giáo dục con người.
Luật Giáo dục được Quốc hội (khóa XI) ban hành năm 2005 đã tạo cơ sở
pháp lý để tiếp tục xây dựng và phát triển nền giáo dục của nước nhà trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến ngày 25/11/2009, Quốc hội (Khóa XII) đã
thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo giáo dục (năm 2005);
qua đó tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, thực hiện chế độ chính sách
đối với người học, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục nước nhà phát triển mạnh
mẽ hơn.
Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ Quy định về
miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với
cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm
học 2014 - 2015 đã thể hiện rõ sự quan tâm của Nhà nước ta về phát triển toàn
diện giáo dục của đất nước. Trong đó thể hiện sự quan tâm, thực hiện các chế độ
hỗ trợ, đãi ngộ cho các đối tượng học sinh, sinh viên thuộc những vùng khó khăn,
hộ nghèo và cận nghèo; học sinh, sinh viên thuộc gia đình có công cách mạng và
diện chính sách khác. Ngày 15/7/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
74/2013/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP đã
văn bản đáng chú ý như sau:
Kế hoạch số 27-KH/TU ngày 13/11/2009 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh
An Giang “về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020”.
Chỉ thị số 19/2005/CT-UBND ngày 25/07/2005 của UBND tỉnh An Giang về
việc hạn chế các quy định, hoạt động mang tính hình thức, nhằm góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học trong ngành giáo dục và đào tạo.
Công văn số 1286/SGDĐT-GDTrH ngày 14/09/2010 của Sở Giáo dục và
Đào tạo An Giang về việc thực hiện nền nếp trường Trung học
Văn bản hướng dẫn nhiệm vụ các năm học: 2010 – 2011, 2011 – 2012, 2012
– 2013, 2013 – 2014 của Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang.
* Thực hiện các chính sách của Trung ương và của tỉnh An Giang về lĩnh vực
giáo dục, huyện Châu Thành cũng có một số chủ trương, chính sách nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện của huyện nhà, tiêu biểu nhất là :
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện lần thứ IX trình Đại hội
đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X của huyện Châu Thành, phần mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp phát triển 5 năm 2010 – 2015, về giáo dục có nêu: “ Nâng cao hơn
nữa chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó chú ý giáo dục đạo đức,
lý tưởng, kỹ năng hòa nhập cộng đồng. Củng cố công tác phổ cập giáo dục và đẩy
mạnh phong trào xây dựng xã hội học tập”. “Huy động mọi nguồn vốn đầu tư cơ
8
sở vật chất trường học, cảnh quan sư phạm. Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục.”
- Kế hoạch thực hiện “Tháng hành động vì sự nghiệp giáo dục” của UBND
huyện Châu Thành các năm: 2010, 2011, 2012, 2013.
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC TOÀN DIỆN HỌC SINH
CỦA TRƯỜNG THCS HÒA BÌNH THẠNH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2013
2.1. Đặc điểm tình hình chung
2.1.1. Đặc điểm tình hình của xã Hòa Bình Thạnh hiện nay
- Xã Hòa Bình Thạnh có 6 ấp, số dân trên 13.200 người với khoảng 3.090 hộ.
nhà vệ sinh dùng chung cho giáo viên và học sinh.
- Về đội ngũ giáo viên: năm học 2013 – 2014, tổng số cán bộ, giáo viên và
nhân viên của trường là 44, giáo viên trực tiếp giảng dạy là 35 người. Tất cả cán
bộ, giáo viên đều có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn. Đa số giáo viên
đều có tay nghề từ khá trở lên; có tư tưởng đúng đắn, tập thể giáo viên luôn có
tinh thần đoàn kết, thống nhất cao trong hoạt động giáo dục toàn diện học sinh của
trường.
- Về học sinh: năm học 2013 – 2014, toàn trường có 503 học sinh, với 15 lớp
(5 lớp 6, 3 lớp 7, 4 lớp 8, 3 lớp 9). Số học sinh dân tộc Khmer là 24/503, chiếm
4,77 %. Đa số học sinh đều thuộc gia đình làm nghề trồng lúa; số học sinh thuộc
diện hộ nghèo và cận nghèo là 85/503, chiếm 16,90 %. Nhìn chung đa số học sinh
đều ngoan, chăm học; tuy nhiên vẫn còn không ít học sinh còn lười học, vắng học
nhiều, một ít học sinh thường trốn học để đi chơi game.
- Về Phụ huynh học sinh: Đa số phụ huynh đều có quan tâm, phối hợp với
trường trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận
không nhỏ phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình, thường giao
phó con em mình cho nhà trường, thiếu sự phối hợp với trường để giáo dục học
sinh; những trường hợp này lại thường rơi vào các em học sinh có hành vi đạo đức
chưa đúng, hay vi phạm, chậm sửa đổi.
- Hội Khuyến học của xã cũng có quan tâm hỗ trợ cho trường về vật chất để
giúp các em học sinh nghèo giảm bớt khó khăn để đến trường học tập. Tuy nhiên
công tác phối hợp giữa Hội Khuyến học và nhà trường chưa thường xuyên, chỉ
thực hiện chủ yếu vào thời gian huy động học sinh vào đầu mỗi năm học và tổng
kết năm học.
- Chính quyền địa phương luôn quan tâm đến công tác giáo dục của trường
thể hiện qua việc tổ chức các đoàn vận động học sinh để phối hợp với trường huy
động học sinh vào đầu mỗi năm học; cũng như huy động mọi nguồn lực để giúp
đỡ cho các em học sinh nghèo của trường về vật chất như: xe đạp, tập, viết,…
Với tình hình của trường nêu trên, cho thấy trường có nhiều thuận lợi nhưng
cũng không ít khó khăn và các yếu tố này sẽ tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến
thi do ngành tổ chức
- Tạo cảnh quan sư phạm xanh-sạch-đẹp; xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực nằm tạo môi trường giáo dục thoải mái, lành mạnh.
* Việc tổ chức và điều hành thực hiện các hoạt động của Phó hiệu trưởng
phụ trách công tác chuyên môn
11
- Theo dõi nền nếp hoạt động của các tổ chuyên môn, thường xuyên dự các
buổi sinh hoạt của các tổ chuyên môn để nắm bắt kịp thời những khó khăn, hạn
chế của các tổ để từ đó có cách giải quyết kịp thời trong phạm vi chức năng cho
phép và báo cáo kịp thời cho Hiệu trưởng các trường hợp ngoài khả năng giải
quyết của mình
- Dự giờ giáo viên cùng với các tổ chuyên môn và thường xuyên dự giờ đột
xuất để nắm bắt tình hình giảng dạy của giáo viên. Qua đó có sự điều chỉnh, bổ
sung nội dung hoạt động trong kế hoạch cho phù hợp với thực tế.
- Quản lý hoạt động của Thư viện, thiết bị đáp ứng nhu cầu phục vụ cho hoạt
động giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh về sách giáo khoa, tài liệu
tham khảo, đồ dùng dạy học,… Việc thực hiện và lưu trữ hồ sơ sổ sách của Thư
viện, thiết bị.
* Việc tổ chức và điều hành thực hiện các hoạt động của Phó hiệu trưởng
phụ trách công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Theo dõi nền nếp hoạt động của tổ chuyên môn cùng môn đào tạo của mình,
thường xuyên dự các buổi sinh hoạt của tổ chuyên môn mình phụ trách để nắm bắt
kịp thời những khó khăn, hạn chế của tổ để từ đó có cách giải quyết kịp thời trong
phạm vi chức năng cho phép và báo cáo kịp thời cho Hiệu trưởng các trường hợp
ngoài khả năng giải quyết của mình
- Dự giờ giáo viên trong tổ chuyên môn mình phụ trách để nắm bắt tình hình
giảng dạy của giáo viên. Qua đó phối hợp với Phó hiệu trưởng chuyên môn điều
chỉnh, bổ sung nội dung hoạt động trong kế hoạch cho phù hợp với thực tế.
- Quản lý hoạt động của Đoàn TNCSHCM, Đội TNTPHCM, nhất là hoạt
động của giáo viên Tổng phụ trách đội để tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục
hợp với các giáo viên khác, với giáo viên Tổng phụ trách đội trong hoạt động giáo
dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh.
- Thường xuyên thực hiện nhiệm vụ duy trì sĩ số học sinh, quan tâm giúp đỡ
các em học sinh nghèo, các em có học lực yếu, kém nhằm giúp các em không mặc
cảm và có niềm tin trong học tập cũng như các hoạt động ngoại khóa khác.
* Hoạt động của giáo viên Tổng phụ trách đội
- Xây dựng kế hoạch hoạt động công tác Đội cho mỗi năm học, học kỳ, hằng
tháng và hằng tuần cho phù hợp với chủ đề mỗi tháng và bám sát kế hoạch chung
của trường. Thực hiện việc cập nhật và lưu trữ đầy đủ hồ sơ sổ sách có liên quan
hằng năm.
- Tổ chức thực hiện thường xuyên các hoạt động giáo dục học sinh như: sinh
hoạt giáo dục tư tưởng học sinh vào đầu mỗi tuần; thi đua nền nếp học tập giữa
các lớp; theo dõi việc thực hiện nền nếp học tập của các lớp. Phối hợp với giáo
viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm xử lý, giáo dục kịp thời các học sinh vi phạm
nội quy của trường, các học sinh có biểu hiện đạo đức xấu.
13
- Tham mưu cho Phó hiệu trưởng phụ trách công tác giáo dục ngoài giờ lên
lớp xây dựng kế hoạch tổ chức các phong trào, Hội thi thuộc lĩnh vực ngoại khóa
dành cho học sinh phù hợp theo chủ điểm lớn trong mỗi năm học và chịu trách
nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện.
* Hoạt động của các bộ phận thư viện, thiết bị, tài chính
- Thư viện: xây dựng kế hoạch hoạt động của thư viện theo quy định của
trường; tổ chức giới thiệu sách hằng tháng; thực hiện việc cho giáo viên mượn
sách phục vụ hoạt động giảng dạy, giáo dục học sinh. Phối hợp với giáo viên chủ
nhiệm cho học sinh nghèo mượn sách giáo khoa đầy đủ và kịp thời để học tập
nhằm đảm bảo chất lượng dạy và học của trường đạt kết quả tốt.
- Thiết bị: Xây dựng xây dựng kế hoạch sử dụng và bảo quản thiết bị theo
quy định của trường; lên lịch các tiết thực hành và các tiết dạy có sử dụng đồ dùng
dạy học để cho giáo viên mượn nhằm đảm bảo cho tiết dạy của giáo viên đạt hiệu
quả và có chất lượng hơn.
2010 - 2011 27,90 35,06 32,35 4,69 78,27 15,56 5,68 0,49
14
2011 - 2012 22,55 35,05 36,27 6,13 71,32 17,89 9,80 0,98
2012 - 2013 25,71 35,00 37,38 1,67 74,29 17,38 8,33 0,00
Bảng 3. Thống kê số lượng học sinh đạt giải phong trào từ 2010 đến 2013
Năm học
HSG
huyện
HSG
tỉnh
VHCT
Olympic
tiếng Anh
ViOlympic
Toán
Văn
nghệ
Vẽ
tranh
KC
sách
CHĐ
Giỏi
2010 – 2011 4 3 0 0 0 0 0 0 0
2011 – 2012 9 3 0 0 0 0 4 1 0
2012 – 2013 7 1 1 0 1 1 3 2 1
Qua các bảng thống kê trên, có thể rút ra một số nhận xét về hoạt động giáo
dục toàn diện học sinh của trường THCS Hòa Bình Thạnh từ năm 2010 đến năm
2013 như sau:
* Những thành quả đạt được
- Chất lượng sinh hoạt tổ và chất lượng giáo dục bộ môn của một số tổ chưa
cao.
- Một số giáo viên thực hiện nhiệm vụ còn nhiều sai sót trong công tác
chuyên môn ; hoàn thành công việc ở mức thấp.
- Số lượng học sinh giỏi các cấp hằng năm còn thấp; tỉ lệ học sinh xếp loại
yếu ở một số môn còn cao.
- Vẫn còn một số học sinh thiếu ý thức học tập, nghiện game; các học sinh
này thường mất trật tự trong giờ học, hay vi phạm nội quy nhà trường; học sinh
xếp loại hạnh kiểm trung bình hàng năm vẫn còn trên 5 %.
- Kỹ năng sống của đa số học sinh của trường còn thấp, thể hiện qua cách
làm việc theo nhóm còn yếu, giao tiếp ngoài xã hội còn hạn chế, thiếu tự tin khi
đứng trước đông người, chưa có cách xử lý đúng đắn kịp thời khi phải đối mặt
với một số tình huống xảy ra,…
- Tỉ lệ học sinh bỏ học hằng năm thường cao hơn mặt bằng chung của
huyện. Nhất là tỉ lệ học sinh bỏ học trong hè hằng năm từ 5 % đến 7 %.
Nguyên nhân của các tồn tại trên được chỉ ra bởi các lý do chủ yếu sau
đây:
- Công tác bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn chưa đồng đều, một số tổ
trưởng còn phải lo việc nhà, chưa đầu tư vào công việc ở trường. Năng lực quản
lý của một số tổ trưởng còn hạn chế, rập khuôn hàng năm, thiếu sự linh hoạt,
chưa có sự đột phá.
- Một số giáo viên thiếu nhiệt tình trong công tác; chưa thực sự đổi mới
phương pháp giảng dạy, chậm đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh.
- Công tác chỉ đạo, tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho giáo
viên còn hạn chế, việc bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu thực hiện
chưa đồng đều giữa các môn.
16
- Công tác kiểm tra nội bộ của trường thiếu chặt chẽ, còn nặng về hình thức,
chưa mang lại hiệu quả cao, việc đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện thiếu
thường xuyên, còn sơ sài cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các hạn
trong tác phong, lối sống để tạo lòng tin với phụ huynh và học sinh. Đồng thời
17
cũng chú trọng đến việc phát hiện và tuyên dương, khen thưởng kịp thời các
gương điển hình tiên tiến để tạo sức ảnh hưởng đến các cá nhân còn chậm đổi
mới.
Bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho giáo viên tổng
phụ trách đội, giáo viên chủ nhiệm để tổ chức tốt các phong trào ngoại khóa của
trường nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh, từng
bước nâng cao kỹ năng sống, tác phong ứng xử của học sinh.
Quan tâm phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với phụ huynh học sinh, với các
ban ngành, đoàn thể, Hội khuyến học xã trong các hoạt động giáo dục đạo đức
học sinh, nhất là đối với các học sinh có nguy cơ bỏ học, học sinh chưa ngoan.
18
Chương 3
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TOÀN DIỆN HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS HÒA BÌNH THẠNH ĐẾN
NĂM 2020
3.1. Mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh của
trường THCS Hòa Bình Thạnh đến năm 2020
* Mục tiêu chung
Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học, nhất là các
thiết bị hiện đại phục vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy
và học tập.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên nhằm đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu học tập của học sinh. Giảm dần tỉ lệ học sinh bỏ học , hạn chế tối đa
tỉ lệ học sinh lưu ban và học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình.
Xây dựng tốt “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Từng bước hoàn
thiện công tác kiểm định chất lượng nhà trường. Phấn đấu đạt trường Chuẩn
quốc gia vào năm 2016.
* Mục tiêu cụ thể
diện học sinh của trường THCS Hòa Bình Thạnh đến năm 2020
3.2.1. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác
quản lý và hoạt đông dạy học
Đây là một giải không thể thiếu cho mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện học sinh của nhà trường. Bởi vì để hiện thực bất cứ một hoạt động,
một công việc nào đó điều kiện tất yếu là phải có địa điểm, phương tiện, trang
thiết bị tối thiểu mới tiến hành được mà muốn hoạt động đạt kết quả cao thì sự
đòi hỏi đáp ứng về cơ sở vật chất phải càng cao hơn cả về số lượng lẫn chất
lượng.
Tạo dựng được một khôi trường khang trang, xanh-sạch-đẹp, với đầy đủ
trang thiết bị tốt và một môi trường giáo dục lành mạnh thì một điều chắc chắn
là chất lượng giáo dục toàn diện học sinh sẽ đạt kết quả cao.
Thực hiện giải pháp này, Hiệu trưởng phải tăng cường công tác xã hội hóa
giáo dục, phải biết tận dụng và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội cho
sự nghiệp phát triển giáo dục. Huy động mọi nguồn lực trong xã hội đóng góp,
đầu tư cho giáo dục để từng bước trang bị thêm đồ dùng dạy học, các thiết bị
hiện đại cho trường để phục vụ tốt công tác quản lý, công tác giảng dạy và các
hoạt động ngoại khóa của trường nhằm nâng cao dần chất lượng giáo dục toàn
diện học sinh của đơn vị đạt mục tiêu đã đề ra.
20
3.2.2. Nêu cao vai trò gương mẫu của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và
tổ trưởng chuyên môn của trường
Đây là một giải pháp nếu thực hiện tốt thì sẽ có tác động ảnh hưởng lớn đến
kết quả các hoạt động giáo dục của trường. Bởi vì cán bộ quản lý và tổ trưởng có
gương mẫu, tiên phong đi đầu thì tất nhiên các giáo viên buộc phải noi theo mà
thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và chắc chắn chất lượng hoạt động giáo dục
chung của toàn trường sẽ đạt kết quả cao như mong muốn.
Vai trò gương mẫu của Hiệu trưởng sẽ có ý nghĩa quyết định đến việc đổi
mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của trường. Để thể
hiện được vai trò gương mẫu, Hiệu trưởng phải quan tâm thực hiện tốt:
từ tất cả các đối tượng: giáo viên, học sinh, phụ huynh và nhân dân địa phương.
Đây là một kênh thông tin quan trọng giúp Hiệu trưởng có được những cơ sở tốt
để có cách giải quyết, xử lý chính xác và đúng đắn, kịp thời các tình huống phát
sinh xảy ra trong hoạt động giáo dục toàn diện học sinh của trường, trách việc
gây mất đoàn kết trong nội bộ.
3.2.4. Nâng cao vai trò của Hiệu trưởng trong lãnh đạo, quản lý hoạt
động dạy học
Trong việc lãnh đạo, quản lý hoạt động dạy học, Hiệu trưởng cần thực hiện
tốt các vai trò sau đây:
* Vai trò tạo lập: Hiệu trưởng tổ chức trao đổi những chủ đề cần thiết trong
giảng dạy giúp giáo viên thực hiện có kết quả chương trình, sách giáo khoa
mới, Đối với việc học của học sinh, có thể tổ chức trao đổi kinh nghiệm học
tập, hướng dẫn các em tổ chức các buổi hoạt động ngoại khoá, nhằm nâng cao
kết quả học tập của các em. Mặt khác, muốn cho việc chỉ đạo hoạt động dạy học
thành công, Hiệu trưởng ngoài việc trang bị những tri thức quản lý cần phải
trang bị thêm cho mình tri thức khoa học giáo dục và cả những tri thức khác có
liên quan đến hoạt động quản lý như tri thức xã hội, tri thức kinh tế, Có như
vậy hoạt động quản lý mới thực sự là hoạt động mang tính khoa học và đem lại
hiệu quả cao.
* Vai trò triển khai: Đây là việc chỉ đạo giáo viên và học sinh thực hiện các
quy định hành chính (quy chế chuyên môn, nền nếp học tập ); việc chỉ đạo thực
hiện các chủ trương của cấp trên, các kế hoạch, quyết định của tập thể nhà
trường, cũng như việc tổ chức sắp xếp nhân sự trong đội ngũ giáo viên, việc
phân công giảng dạy trong giáo viên.
* Vai trò đổi mới: Trong nhà trường, Hiệu trưởng luôn luôn là người đại
diện cho đổi mới trong giáo dục. Môi trường bên trong và bên ngoài nhà trường
luôn luôn biến đổi. Do đó, Hiệu trưởng phải làm sao cho bản thân và tập thể sư
phạm thích ứng với những biến đổi đó bằng các quyết định đúng đắn nhằm tạo
22
sự thay đổi phù hợp với thực tiễn. Để có được những quyết định đúng đắn, Hiệu
tích cực về cách dạy, cách học theo tinh thần đổi mới. Đầu tư cơ sở vật chất-
thiết bị dạy học, xây dựng môi trường dạy học phục vụ cho đổi mới phương
23
pháp dạy học. Xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động. Tổ chức cuộc họp
trao đổi thống nhất về nhận thức và chương trình hành động.
* Chỉ đạo điểm: Trao đổi về kiểu giáo án theo tinh thần đổi mới phương
pháp dạy học. Xây dựng chuẩn đánh giá tiết dạy theo tinh thần đổi mới phương
pháp dạy học; qui trình tiến hành đánh giá. Chọn đối tượng thực nghiệm: môn
học, bài học, người dạy, lớp dạy. Các đối tượng thực nghiệm chuẩn bị tiết dạy.
Tổ chức dạy thí điểm trong phạm vi phù hợp với đặc điểm của trường. Tổ chức
dự giờ đánh giá các tiết dạy; rút kinh nghiệm sau các tiết dạy thực nghiệm.
* Chỉ đạo đại trà: Chỉ đạo thực hiện dạy học ở tất cả các môn học và với tất
cả giáo viên. Tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm, đánh giá, xếp loại các tiết dạy.
Động viên khuyến khích giáo viên điều chỉnh sai lệch, thúc đẩy thực hiện tốt
hơn.
* Tổng kết, đánh giá: Sơ kết thi đua, khen thưởng, nhắc nhở, phê bình.
Tổng kết, nêu bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện đạt hiệu quả cao hơn.
3.2.6. Lãnh đạo và quản lý đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh
Thực hiện giải pháp này, Hiệu trưởng phải làm các công việc: triển khai các
văn bản, quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo; lãnh đạo xây dựng và triển khai
kế hoạch đánh giá; phê duyệt báo cáo đánh giá; sử dụng kết quả đánh giá kết quả
học tập của học sinh để làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung các kế hoạch
trong hoạt động giáo dục của trường, nhất là hoạt động giảng dạy của giáo viên
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được thực hiện thường
xuyên trong suốt quá trình học tập của học sinh để kịp thời động viên, khuyến
khích, nhắc nhở về ý thức học tập của học sinh. Giáo viên phải quan tâm thực
hiện việc hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự đánh giá kết quả
học tập của chính mình.
Đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh; chú trọng hình thức
nghĩa", "uống nước nhớ nguồn ”, những hoạt động văn hóa lành mạnh khác,…
nhằm thu hút, lôi cuốn học sinh đến với tập thể, đến những hoạt động bổ ích để
giáo dục về lòng nhân ái, tình đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau; giáo dục
cho các em những kỹ năng sống; giáo dục truyền thống và đạo lý con người Việt
Nam, để từ đó giáo dục đạo đức học sinh. Ngoài ra, giáo viên Tổng phụ trách đội
cũng là người hỗ trợ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm trong việc giáo dục đạo
đức cho học sinh.
* Đối với giáo viên chủ nhiệm:
Giáo viên chủ nhiệm là người giữ vai trò chủ động trong việc phối hợp các
lực lượng giáo dục và là người trực tiếp thay mặt nhà trường để giáo dục học
sinh; là người thực hiện sự phối hợp, liên kết chặt chẽ với giáo viên Tổng phụ
25