A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử có một vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ.
Từ những hiểu biết về quá khứ lịch sử, học sinh hiểu rõ truyền thống dẫn tộc,
quê hương, tự hào với truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta, từ đó
xác định nhiệm vụ hiện tại, có thái độ, trách nhiệm đúng đắn với tương lai của
đất nước. Bác Hồ đã dạy.
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích giống nòi Việt Nam”
Không những biết sử ta, giỏi sử ta, mà chúng ta còn có trách nhiệm giáo
dục thế hệ trẻ phải giỏi lịch sử, tường tận lịch sử của nhân loại.
Tuy nhiên trong hiện tại có những nhận thức chưa đầy đủ về vị trí chức
năng của bộ môn Lịch sử, trong đời sống xã hội Từ đó dẫn đến sự giảm sút chất
lượng bộ môn trên nhiều mặt. Tình trạng học sinh không biết những sự kiện lịch
sử cơ bản,, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến ở
nhiều học sinh hiện nay. Ngay cả ở đội ngũ học sinh giỏi bộ môn Lịch sử, thì
việc nắm chắc được các vấn đề cơ bản của bộ môn vẫn còn khá nhiều hạn chế,
kỹ năng học tập, trình bày một bài tập lịch sử còn tồn tại những bất cập.
Những tồn tại hạn chế đó, theo tôi, nếu xét về yếu tố con người thì là sự
bắt nguồn từ 2 phía: Yếu tố người day (giáo viên) và người hoc (học sinh).
Từ thực tế dddos, là một giáo viên giảng dạy lịch sử đã có trên 20 năm,
tham dự nhiều chuyên đề do Phòng, Sở và Bộ Giáo dục tổ chức, chịu trách
nhiệm bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn lịch của trường và thường xuyên
tham dự bồi dưỡng đội tuyển của Phòng GD&ĐT Diễn Châu tham dự kỳ thi học
sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm và đã đạt được những kết quả khả quan, từ đó tôi
mạnh dạn được trình bày một số kinh nghiệm của mình trong quá trình của hoạt
động bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lịch sử.
Đề tài này tôi không có tham vọng trình bày nhiều, chỉ xin được đề cập
đến một số kinh nghiệm cơ bản của bản thân trong quá trình thực hiện hoạt động
bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi:
Kinh nghiệm về chọn nguồn (đối tượng học sinh) cho đội tuyển.
Kinh nghiệm về việc bồi dưỡng các kỹ năng ghi nhớ, tổng hợp, liên kết,
- Về phía giáo viên, trình độ năng lực, kinh nghiệm bồi dưỡng không đồng
đều, do đó kết quả của công tác bồi dưỡng cũng có sự phân hoá không đều giữa
các trường và vùng miền. Kết quả thường tập trung khá cao vào các trường, các
vùng miền mà ở đó có đội ngũ giáo viên dày dạn kinh nghiệm, năng lực tốt,
nhiệt tình cao trong hoạt động bồi dưỡng. Có hiều đơn vị trường liên tục nhiều
năm không có học sinh giỏi cấp tỉnh môn Lịch sử, từ đó nảy sinh tư tưởng thiếu
tự tin trong giáo viên và học sinh.
- Học sinh chưa thực sự yêu thích môn học bởi trong quá trình giảng dạy,
bồi dưỡng nhiều giáo viên chưa có phương pháp phù hợp để tạo nên hứng thú,
kích thích sự suy nghĩ tìm tòi của học sinh.
- Khả năng “nắm bắt, đánh giá, liên kết phân tích sự kiện lịch sử” của
học sinh chưa cao, chưa hiểu hết bản chất của một sự kiện, một vấn đề lịch sử.
2
- Phương pháp ôn tập bồi dưỡng còn có phần đơn điệu, trong thực tế hầu
hết các giáo viên trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi là thực hiện quy trình
“dạy lại, học lại” các kiến thức đã học. Khả năng kết hợp đa dạng các phương
pháp trong ôn tập bồi dưỡng chưa tốt, tính sáng tạo trong giảng dạy chưa cao.
- Kết quả học tập, thi cử còn thấp, học sinh chưa được hình thành một
cách có “hệ thống các kỹ năng đặc trưng” trong việc học tập môn Lịch sử.
- Về tài liệu “Bồi dưỡng học sinh giỏi” có khá nhiều tài liệu, tuy nhiên
các tài liệu đó đơn thuần chỉ chứa đựng nội dung “kiến thức thuần tuý”, chưa
có tài liệu đề cập đến kinh nghiệm, cách thức, phương pháp, các kỹ năng làm bài
lịch sử. Do đó công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thường gặp khó khăn, kết quả
không đồng đều. Thực tế hiện nay cho thấy, ở những trường có giáo viên dạn
dày kinh nghiệm bồi dưỡng thì kết quả của công tác bồi dưỡng thường đạt kết
quả cao.
Từ thực trạng đó, tôi xin được mạnh dạn trình bày một số giải pháp sau
đây để các bạn đồng nghiệp và các em học sinh tham khảo, tôi nghĩ rằng nó sẽ có
ít nhiều tác dụng để mọi người tham khảo, vận dụng thêm vào công tác đào tạo,
bồi dưỡng học sinh giỏi ở đơn vị mình, góp phần đưa công tác bồi dưỡng học
kỹ năng học tập và tham dự các kỳ thi chọn học sinh giỏi môn Lịch sử. Việc
tuyển chọn đội tuyển chính thức phải được sàng lọc thông qua các bài kiểm tra,
kết quả học tập bộ môn, Tuyệt đối không dựa vào các “cảm tính” trong việc lập
đội tuyển.
Điểm thuận lợi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay là:
- Tài liệu học tập của học sinh khá phong phú đa dạng như sách giáo khoa,
sách bài tập, sách tham khảo, sách dã sử
- Khả năng nắm bắt sử liệu của học sinh là khá tốt, bước đầu biết so sánh
đánh giá sự kiện lịch sử.
- Phương tiện trực quan trong giảng dạy đã được quan tâm mua sắm khá đầy đủ.
- Phòng giáo dục, Ban giám hiệu nhà trường quan tâm đến quá trình đổi mới
phương pháp, luôn tạo điều kiện để người dạy phát huy tốt khả năng của bản thân, có
nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng tốt nghiệp và đội ngũ học sinh giỏi các
cấp.
Việc “phát hiện, lựa chọn” là yếu tố quan trọng đầu tiên cho chúng ta
thực hiện bước tiếp theo, đó là công tác “bồi dưỡng”. Bởi vậy ngay từ khâu
“đầu tiên” đó, chúng ta phải luôn lưu ý đó là “chon” đúng đội tượng.
2. Bồi dưỡng kỹ năng ghi nhớ “sự kiện lịch sử”
Theo tôi, yêu cầu đầu tiên của học sinh giỏi môn Lịch sử trước hết các em
phải nắm bắt ghi nhớ được sự kiện. “Sự kiện lịch sử” có tầm quan trọng đặc
biệt, nó được xem như là “nguyên liệu” chính, là “xương sống, mạch máu”
trong kết cấu của của một bài tập lịch sử. Không nhớ được sự kiện lịch sử thì
không mô tả, đánh giá, phân tích được lịch sử, nói đúng hơn, không nhớ được sự
kiện lịch sử, học sinh không thể thực hiện các kỹ năng khác. Chính vì yêu cầu
4
này mà có rất nhiều học sinh ngại đến với môn Lịch sử. Do đó việc đầu tiên của
một giáo viên bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử là phải làm sao
truyền dạy cho học sinh có thể bằng con đường, cách thức để có thể nắm bắt
được các sự kiện lịch sử, và sau đó mới rèn luyện các yêu cầu cao hơn như tổng
hợp, khái quát, so sánh, phân tích….
2/9/1945 Nhật Bản ký Hiệp định đầu hàng không điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc
12/10/1945 Lào tuyên bố độc lập
17/10/1947 Mi-an-ma tuyên bố độc lập
8/4/1949 Thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)
4/4/1949 Tổ chức quân sự Bắc đại tây dương (NATO) ra đời
1/10/1949 Thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
14/1/1950 Cộng hòa Ấn Độ thành lập
25/6/1950 Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ
12/4/1951 Thành lập “Cộng đồng than thép châu Âu”
27/5/1952 Liên minh phòng thủ châu Âu thành lập
14/5/1955 Thành lập tổ chức “Hiệp ước Vac-xa-va
5/1955 Liên minh Tây Âu thành lập
25/3/1957 Thành lập “Cộng đồng kinh tế châu Âu”
1/1/1959 Cách mạng Cu Ba thắng lợi
1960 17 nước châu Phi giành độc lập (năm châu Phi)
1/7/1967 Thành lập “Cộng đồng châu Âu”
8/8/1967 Thành lập “Hiệp hội các nước Đông nam á”
Những sự kiện lịch sử Việt Nam tiêu biểu từ 1930 đến 1991.
Thời gian Nội dung sự kiện
6/1925 Hội Việt nam cách mạng thanh niên thành lập
25/12/1925 Thành lập “Việt Nam quốc dân Đảng
7/1928 Tân Việt cách mạng Đảng thành lập
6
6/1929 Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập
8/1929 An nam Cộng sản Đảng thành lập
9/1929 Đông Dương Cộng sản liên đoàn thành lập
3/2/1930 Đảng Cổng sản Việt nam thành lập
9/2/1930 Khởi nghĩa Yên Bái
12/9/1930 Xô viết Nghệ tĩnh
Việc kiểm tra sự ghi nhớ các sự kiện lịch sử phải được tiến hành thường
xuyên, ta có thể kiểm tra vào thời gian đầu của buổi bồi dưỡng. Hình thức kiểm
tra nên đa dạng, cách thức mà tôi thường áp dụng là:
- Cung cấp thông tin về thời gian và học sinh bổ sung về địa điểm, nội
dung của sự kiện.
- Cung cấp về địa điểm và học sinh bổ sung về thời gian, nội dung
- Cung cấp về nội dung sự kiện, học sinh bổ sung về thời gian và không
gian xảy ra sự sự kiện.
- Các hành viên trong đội tuyển tự kiểm tra lẫn nhau.
Qua thực tế tôi thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh là khá tốt, chỉ trong
khoảng thời gian ngắn từ 2 đến 4 tuần, các em đã có thể nhớ một cách khá có hệ
thống theo dòng thời gian các sự kiện lịch sử có trong chương trình. Trong quá
trình các em tự học để “ghi nhớ” các sự kiện, để tạo thêm hứng thú, giáo viên bồi
dưỡng có thể miêu tả thêm một số chi tiết ở các sự kiện đặc biệt quan trọng. Việc
mô tả của giáo viên là một cách tạo “tình huống” có vấn đề, nhằm gây hứng thú
cho học sinh có thể ghi nhớ một cách bền vững hơn các sự kiện đã được cung
cấp.
3. Bồi dưỡng kỹ năng tổng hợp sự kiện lịch sử theo chủ đề.
Việc ghi nhớ sự kiện là cần thiết, là yêu cầu cần đạt khi bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi lịch sử. Tuy nhiên đó chỉ mới là yếu tố “cần” nhưng chưa
“đủ” của một học sinh giỏi môn Lịch sử . Là học giỏi môn lịch sử, sau khi nắm
được nội dung của các sự kiện đơn lẻ là phải biết so sánh, tổng hợp, khái quát,
liên kết, kết nối các sự kiện đó theo dòng lịch sử, hoặc đánh giá khái quát các sự
kiện lịch sử đơn lẻ thành một vấn đề lịch sử theo một yêu cầu nhất định nào đó.
Đó chính là yêu cầu, là sự “khẳng đinh tố chất” của một học sinh có phải là
8
“học sinh giỏi lịch sử” hay không. Trong thực tế đây là một “điểm yếu” của các
học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi lịch sử hiện nay. Chúng ta thường thấy
rằng, các em nắm các sự kiện lịch sử đơn lẻ rất tốt, nhiều em nhớ đến từng chi
tiết nhỏ, nhưng “điểm yếu” của các em chính là sự kết nối, khái quát, so sánh,
BCH TW Đảng, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào cần nêu được không khí “khẩn
trương”, không khí đó được thể hiện bằng một loạt các quyết định của Đảng và
UBGP, khi trình bày các sự kiện lịch sử về giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội,
Huế, Sài Gòn, học sinh phải đánh giá được sự “tác động” của nó đối với thắng
lợi toàn cục của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Tuy nhiên, sự “bình luận”,
“đánh giá” phải chính xác, ngắn gọn, tránh đánh giá sai, dùng ngôn từ không phù
hợp với nội dung
Trong một chủ đề lịch sử, phải xác định được các sự kiện lịch sử “trung
tâm” của chủ đề đó, tức là các sự kiện “chính”, sự kiện có tác động, ảnh hưởng
đến các sự kiện khác.
Ví dụ:
Trình bày các sự kiện lịch sử về chủ đề Cách mạng tháng Tám 1945. Chủ
đề này có các sự kiện cần nêu:
- 9/3/1945: Nhật đảo chính Pháp
- Cao trào kháng Nhật cứu nước.
- 14/8/1945: Nhất đầu hàng đồng minh.
- 14 -15/8/1945: Hội nghi BCH TW tại Tân Trào, Ban bố lệnh Tổng khởi
nghĩa.
- 16-17/8/1945: Hội nghị Quốc dân: Thông qua lệnh tổng khởi nghĩa
- 19/8/1945: giành chính quyền ở thủ đô Hà Nội.
- 23/8/1945: Giành chính quyền ở Huế.
- 25/8/1945: Giành chính quyền ở Sài Gòn.
- 28/8/1945: các địa phương cuối cùng giành chính quyền
- 2/9/1945: Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập.
Trong chủ đề này, ta giúp học sinh xác định các sự kiện “trung tâm” như:
- Lệnh tổng khởi nghĩa. (Ban bố đúng thời cơ, hiệu lực trên toàn quốc)
- Giành chính quyền ở thủ đô Hà Nội, Huế và Sài Gòn. (Đập tan cơ quan
đầu não của chính quyền địch, tay sai thân Nhật và chính quyền PK, tạo điều
kiện cho các địa phương khác giành chính quyền)
10
- Cung cấp các sự kiện trong một chủ đề, sau đó xác đinh sự kiện “trung
tâm”. Khi xác định sự kiện “trung tâm”, giáo viên hướng dẫn cho học sinh giải
quyết thấu đáo câu hỏi “Tại sao” sự kiện đó lại là sự kiện “chính” trong các sự
kiện.
Bằng cách đó, ta đã giúp cho các thành viên trong đội tuyển đạt được yêu
cầu đầu tiên đó là vừa nắm bắt được sự kiện đơn lẻ và tổng hợp các sự kiện theo
chủ đề, đồng thời xác định được sự kiện cơ bản, sự kiện “trung tâm” của “chủ đề
lịch sử đó” trong chủ đề đó.
4. Rèn luyện kỹ năng liên kết , xác định các sự kiện lịch sử.
Song song với việc rèn luyện kỹ năng tổng hợp các sự kiện lịch sử theo
chủ đề, chúng ta sẽ có yêu cầu cao hơn đối với học sinh, đó là yêu cầu học sinh
liên kết các sự kiện lịch sử theo chủ đề. Kỹ năng “liên kết các sự kiện” trong một
bài tập lịch sử sẽ tạo nên sự gắn kết về mạch bài một cách khăng khít, làm cho
phần trình bày của học sinh có sự chặt chẽ.
Để tạo nên tính liên kết giữa các sự kiện trong một bài tập lịch sự, kinh
nghiệm của bản thân tôi trong quá trình bồi dưỡng đó là:
Trong một chủ đề, một vấn đề lịch sử, học sinh cần xác định được các sự
kiện cần đưa vào trong bài tài làm của mình, và dựa vào mạch sự sự kiện đó, các
em sẽ gắn kết các sự kiện đó trong quá trình làm bài. Đây là một kỹ năng mà
trong quá trình bồi dưỡng, tôi nhận thấy đem lại khá “hiệu quả” về kết quả khi
thực hiện bài tập, là một kỹ năng mà khi thực hiện đạt được “nhất tiễn-lưỡng
tiện”. Khi thực hiện kỹ năng này, học sinh tránh được hiện tượng “quên” do
phải tập trung suy nghĩ trong quá trình làm bài, vừa tạo nên được tư duy gắn kết
khá nhuần nhuyễn trong quá trình trình bày.
Ví dụ:
Khi trình bày chủ đề: Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt nam học sinh xác
định các sự kiện, nội dung chính cần trình bày:
- 6/1929: Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập.
- 8/1929: An nam Cộng sản Đảng ra đời
- 9/1929: Đong Dương Cộng sản Đảng thành lập
Ví dụ:
Hãy nêu các chiến thắng lớn về mặt quân sự trong cuộc kháng chiến
chống Pháp 1945-1954? trong các chiến thắng đó, những chiến thắng nào đã
đánh dấu các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến?
Hoặc:
13
Ba mươi năm tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ tổ Quốc (1945-1975),
dân tộc ta đã lập nên những chiến công hiển hách. Hãy nêu và phân tích hai
chiến thắng có đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ trong giai đoạn đó.
Đây là một yêu cầu thường gặp trong các đề thi chọn học sinh giỏi. Ở vấn
đề thứ nhất, yêu cầu là đề cập đến các chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, chiến
thắng Biên giới thu đông 1950 và chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Ở vấn đề thứ
hai đó là chiến thắng Điện Biên Phủ và Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa
xuân 1975. Điểm “dễ” của nó là các sự kiện đó học sinh dễ dàng nắm bắt được
nội dung của các sự kiện trên. Nhưng điểm “khó” là ở chỗ học sinh phải “nhận
diện” được các sự kiện đó để đưa vào nội dung trình bày. Đây là một kỹ năng
mà qua nhiều năm trực tiếp bồi dưỡng, tôi thấy rằng chúng ta phải hết sức chú ý,
bởi lẽ như tôi đã trình bày ở trên, đây là một điểm “yếu” của các học sinh giỏi
môn Lịch sử của chúng ta hiện nay, và để khắc phục được điểm “yếu” đó, trong
quá trình bồi dưỡng đội tuyển, chúng ta phải thường xuyên “tập dượt” cho học
sinh “nhận diện” các sự kiện lịch sử dưới nhiều “góc độ” khác nhau, để từ đó
giúp học sinh tránh được sự “bị động”, tăng thêm tính “chủ đông” trong việc
liên kết, đánh giá các sự kiện lịch sử. Thường để “nhận diên” được các sự kiện
“chìm” như đã nêu ở trên, chúng ta thấy học sinh cần xác định chính xác ý nghĩa
của các sự kiện, từ ý nghĩa, dấn đến xác định đúng sự kiện cẩn trình bày.
5. Rèn luyện kỹ năng so sánh các sự kiện lịch sử
So sánh sự kiện lịch sử, rút ra điểm giống nhau, khác nhau, điểm mạnh,
điểm yếu là một kỹ năng không thể thiếu trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn
Lịch sử. Nội dung so sánh có thể là các phong trào cách mạng, các chiến dịch
THC, kỹ năng này thường chưa đặt ra yêu cầu cao, song lại phải vận dụng
thường xuyên trong quá trình học và làm bài. Với các học sinh giỏi, theo tôi rất
cần thiết tập dượt cho các em kỹ năng này. Tuy nhiên để rèn luyện kỹ năng phân
tích một nội dung, một sự kiện lịch sử đòi hỏi sự "tư duy" cao độ, bởi vậy qua
quá trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi chúng ta nên chú ý không ngừng tập
dượt, rèn luyện cho các em kỹ năng này một cách nhuần nhuyễn.s
Với kinh nghiệm của bản thân, trong bộ môn lịch sử, kỹ năng phân tích
thường là phân tích các nguyên nhân thành công hay thất bại, ý nghĩa lịch sử, bài
học kinh nghiệm của một sự kiện lịch sử nào đó, như phân tích nguyên nhân
thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cách mạng tháng Tám 1945, nguyên nhân thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước….
Rèn luyện kỹ năng phân tích, tức là rèn luyện cho các em biết "mổ xẻ"
vấn đề, truy xét đến tận cùng căn nguyên của vấn đề. Để làm được điều đó, theo
kinh nghiệm của bản thân mình, tôi thường truyền lại "bí quyết" của mình đó
là, khi phân tích một vấn đề nào đó, chúng ta hãy biết đặt ra các câu hỏi "tại
sao", "vì sao".
Ví dụ: Khi rèn luyện cho học sinh phân tích nguyên nhân thành công của
cách mạng tháng Tám 1945 về vai trò lãnh đạo của Đảng, ta phải biết dặt ra câu
hỏi: "tại sao" yếu tố Đảng lãnh đạo lại là nguyên nhân "quyết định" đến thắng
lợi của cách mạng tháng Tám. Để trả lời được yêu cầu này, học sinh phải phải trả
lời được các ý:
- Vì Đảng ta đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn.
15
- Vì Đảng ta đã tìm ra phương pháp đấu tranh thích hợp, đầy sự sáng tạo,
phù hợp với thực tiễn của nước ta.
- Vì Đảng ta đã biết dày công chuẩn bị lực lượng cách mạng, chớp đúng
thời cơ để phát lệnh tổng khởi nghĩa
Một bài tập phân tích "sâu" tức là trả lời đầy đủ, chuẩn xác yêu cầu cần
phân tích.
Cũng liên quan đến kỹ năng phân tích, mặc dù ở cấp THCS, trong kết cấu
16
Hoặc khi nêu những thành công của miền Bắc sau kế hoạch năm năm lần
thứ nhất (1961-1965), những đổi thay lớn lao của miền Bắc có thể được minh
họa:
“Năm năm mới bấy nhiêu ngày,
Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều
Dân có ruộng dập dìu hợp tác
Lúa mượt đồng ấm áp làng quê”
(Tố Hữu)
Tuy nhiên có một khó khăn nay mà tôi nhận ra rằng, các tác phẩm trong
chương trình Ngữ văn ít có tác phẩm nào còn mang tính "thời sự" có thể dùng để
minh họa lịch sử được, do đó để các em trong đội tuyển môn lịch sử có một "vốn
liếng" nhất định về kiến thức văn học để phục vụ trong quá trình làm bài, người
dạy nên chú ý trang bị cho các em. Trong các tác phẩm văn học phù hợp với việc
minh họa cho lịch sử, tôi nhận thấy rằng các tác phẩm thơ ca của Tố Hữu rất phù
hợp để trích dẫn minh hoạ, Thơ ca của Ông đã bám sát chặng đường phát triển
của đất nước, mỗi bước đi của dân tộc, Tố Hữu đều có các tác phẩm sâu sắc, ấn
tượng, nếu chúng ta biết tận dụng khai thác thì bài làm của học sinh sẽ hết sức
sinh động .
Ngoài kiến thức Văn học, kiến thức của các môn như Địa lý, Công dân và
các môn học khác, chúng ta cũng đều có thể triệt để khai thác đưa vào sử dụng,
phục vụ cho việc học tập môn Lịch sử.
8. Rèn luyện kỹ năng bố cục, trình bày bài làm lịch sử
Một trong những non yếu của học sinh hiện nay, kể cả đội tuyển học sinh
giỏi các cấp của môn lịch sử đó là cách trình bày bố cục một bài làm lịch sử.
Thường học sinh làm bài không tuân thủ một bố cục chặt chẽ, khoa học mà trình
bày bài làm một cách rời rạc, thiếu tính lô gích. Đối với bản thân tôi, trong quá
trình bồi dưỡng đội tuyển, bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng các kỹ
năng khai thác các kiến thức, còn phải chú trọng bồi dưỡng cách bố cục trình bày
bột bài làm lịch sử.
Với những kinh nghiệm trên, trong quá trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh
giỏi môn lịch sử lớp 9 từ năm 2001 đến nay, trải qua ở 2 đơn vị tôi đã công tác
và kết quả bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của Phòng GD, đã đạt
được kết quả như sau.
Tại trường THCS Diễn Đoài: Từ năm học 2001-2002 đến năm học 2006-
2007. Trong năm học đó tôi đã bồi dưỡng cho trường 21 em đạt danh hiệu học
sinh giỏi huyện môn lịch sử và 8 em đạt danh hiệu học sinh giỏi tỉnh. Trong đó
có 2 giải nhất. 2 giải nhì, 1 giải ba và 4 giải khuyến khích. Đây là 1 kết quả theo
tôi có sự thành công lớn mà kết quả đạt được có sự đóng góp lớn bởi những kinh
nghiệm mà bản thân đã áp dụng, vì trước đó, từ năm 1994 đến năm 2001, trường
chỉ có 1 học sinh giỏi huyện lớp 9 và không có học sinh giỏi tỉnh môn lịch sử.
Năm 2008, tôi chuyển công tác về trường THCS diễn Hồng. Trong năm
học 2008-2009, tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 9 môn lịch sử đạt
kết quả như sau:
Học sinh giỏi huyện: 4 em. Học sinh giỏi tỉnh có 1 em (Đạt giải 3).
Năm học 2009-2010, bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử 9 đạt
kết quả như sau: có 6 học sinh giỏi huyện và 2 học sinh giỏi tỉnh (1 giải ba và 1
giải khuyến khích).
18
Trong thời gian trên, tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi tỉnh. Đội
tuyển dự thi của huyện Diễn châu luôn xếp vị trí dẫn đầu. Cụ thể: Năm học
2008-2009, có 12/13 thí sinh đạt giải. Năm học 2009-2010 có 10/10 thí sinh đạt
giải.
Trong quá trình bồi dưỡng, bản thân tôi luôn được học sinh tín nhiệm, tin
tưởng, các em khi tham gia bồi dưỡng rất hứng thú, quan hệ thầy –trò có sự phối
hợp rất tốt.
Bảng tổng hợp kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi từ 2001-2010.
Năm học Học sinh giỏi huyện Học sinh giỏi tỉnh Ghi chú
HS dự
thi
nghiệm đến bài tập nhận thức, rèn luyện kỹ năng phải được trẽn luyện một cách
đồng bộ
- Ôn tập trên cơ sở hệ thống kiến thức theo một trình tự lô gich, tăng c-
ường thực hành tại chỗ.
- Nắm vững kiến thức sử địa phương, sự kiện lịch sử nổi bật trong năm,
ôn tập theo chủ đề để học sinh hứng thú học tập, nhớ nhanh, nhớ lâu.
- Có chế độ ưu tiên khuyến khích trong quá trình ôn tập, tạo nên sự thi đua
lành mạnh trong học sinh.
- Xây dựng "Ngân hàng đề" luôn tạo nên sự bất ngờ hứng thú, ham tìm
hiểu trong mỗi câu hỏi, mỗi giờ kiểm tra thực hành.
- Sử dụng đa dạng phương pháp trong một buổi ôn tập tạo nên sự thoải
mái trong học tập của học sinh.
Những kinh nghiệm mà bản thân rút ra trong quá trình thực hiện hoạt động
bồi dưỡng học sinh giỏi, theo tôi không chỉ đơn thuần áp dụng trong hoạt động
bồi dưỡng học sinh giỏi. Trong thực tế, tôi đã vận dụng một số kinh nghiêm này
trong hoạt động dạy học đại trà, đồng thời kinh nghiệm cũng đã được trao đổi
với một số các bạn đồng nghiệp khác và cũng đã mang lại kết quả đáng khích lệ.
C: KẾT LUẬN
Phương pháp ôn tập bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 là nhằm
cung cấp cho các em những kiến thức lịch sử một cách có hệ thống, đặc biệt là
bồi dưỡng, rèn luyện cho các em các kỹ năng cơ bản trong học tập, từ đó bước
đầu hình thành cho các em phương pháp học tập bộ môn Lịch sử một cách tích
cực, đạt được kết quả cao. Với những phương pháp mà tôi đã trình bày, tôi hy
vọng các đồng nghiệp, các em học sinh sẽ có thêm một chút tư liệu tham khảo về
kinh nghiệm dạy học môn Lịch sử, từ đó góp một phần nhỏ bé của mình trong
việc nâng cao chất lượng dạy và học đối với môn Lịch sử, khắc phục được
những hạn chế trong việc dạy và học ập môn Lịch sử hiện nay, lấy lại vị thế quan
trọng của môn Lịch sử trong hệ thống các môn học của bậc học phổ thông.
20
Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt được chất lượng tốt hơn, đội ngũ