Lời mở đầu
ông nghiệp phát triển đã đa lại nhiều sản phẩm phục vụ cho con ngời,
nhng đồng thời nó cũng đa đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và các
chất thải có khả năng làm ô nhiễm môi trờng. Công nghiệp càng phát
triển, sản phẩm thu đợc càng nhiều thì môi trờng cũng ngày càng bị suy
thoái nghiêm trọng. Việt Nam còn là một nớc công nghiệp kém phát triển
nhng tốc độ phát triển ngày một nhanh mạnh theo yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nớc, vì vậy tình trạng ô nhiễm môi
trờng ở nhiều khu vực đã ở mức báo động, đang đòi hỏi sự quan tâm đầy
đủ về việc phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trờng tối đa trong
công nghiệp.
Vốn có sự hứng thú trong việc tham khảo, tìm tòi, xem xét các vấn đề về môi
trờng và ô nhiễm môi trờng và là một sinh viên đang học tập, nghiên cứu tại Khoa
Quản trị kinh doanh Công nghiệp và Xây dựng cơ bản thuộc Trờng Đại học Kinh
tế Quốc dân Hà Nội, em đã lựa chọn đề tài: Phát triển công nghiệp và bảo vệ
môi trờng ở Việt Nam hiện nay cho bản đề án môn học này. Với những kiến
thức lý luận nắm bắt đợc qua các bài giảng của thầy giáo trên lớp và các thông tin
thực tế tìm hiểu từ tài liệu tham khảo, em xin trình bày trớc hết là một số vấn đề
chung về sản xuất, môi trờng và sự tác động của sản xuất đến môi trờng. Sau đó,
tìm nguyên nhân và giải pháp cho sự nghiệp phát triển công nghiệp ở nớc ta gắn
với bảo vệ môi trờng. Đề án đợc kết cấu thành hai phần:
Chơng I: Những vấn đề chung về sản xuất, môi trờng và sự tác động của sản
xuất tới môi trờng
Chơng II: Thực trạng tác động tiêu cực của sản xuất công nghiệp tới chất lợng
môi trờng tự nhiên ở nớc ta
Chơng III: Một số giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển
sản xuất với bảo vệ môi trờng t nhiên
1
c
Chơng một
Ngoài ra, cũng có thể hiểu môi trờng tự nhiên là môi trờng sống của
con ngời và xã hội loài ngời, là điều kiện đầu tiên, thờng xuyên và tất yếu
của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản
nhất của tồn tại xã hội.
Con ngời cùng các yếu tố cấu thành cơ bản khác nh đất đai, nớc, không
khí, các loại động, thực vật, tài nguyên, khoáng sản; các nguồn lực tự nhiên
và các hiện tợng tự nhiên tạo thành một hệ thống luôn vận động, biến đổi
theo những qui luật tự nhiên .Giữa con ngời và môi trờng có sự gắn bó hữu
cơ chặt chẽ với nhau. Con ngời là một bộ phận cấu thành quan trọng và tích
cực nhất, thờng xuyên tác động đến sự vận động và phát triển của môi trờng.
Con ngời không thể tồn tại thiếu môi trờng và ngợc lại, môi trờng ở trạng
thái phát triển hiện đại, cũng không thể tồn tại và phát triển nếu thiếu sự tác
động có ý thức và sáng tạo của con ngời. Nhờ hoạt động sản xuất, con ngời
đã tác động vào môi trờng tự nhiên, biến tự nhiên thành của cải vật chất
phục vụ nhu cầu của mình. Thông qua hoạt động sản xuất, mối quan hệ giữa
con ngời với tự nhiên đã hình thành hệ thống cơ bản Sản xuất - Môi trờng.
Cùng với sự phát triển, sự tác động qua lại trong hệ thống Sản xuất - Môi
trờng ngày càng trở nên chặt chẽ hơn. Bản thân quá trình hoạt động sản
xuất vật chất là một quá trình biện chứng nh C.Mác đã nói, đồng thời với
quá trình biến đổi các yếu tố tự nhiên thành của cải vật chất phục vụ con ng-
3
ời, nói cách khác, là quá trình vật thể hoá con ngời. Khi con ngời tác động
vào tự nhiên, cải tạo, chinh phục tự nhiên để phục vụ mình làm biến đổi tự
nhiên; đồng thời môi trờng cũng tác động ngợc trở lại với con ngời.
Môi trờng tự nhiên là nền tảng cần thiết không thể thiếu đợc cho sự tồn
tại và phát triển của con ngời và phát triển sản xuất, đặc biệt là sản xuất
công nghiệp.Một mặt nó cung cấp và đảm bảo không gian cần thiết cho sự
phát triển của các hoạt động sản xuất công nghiệp, nh đất đai, không gian
cần thiết cho sự phân bố và tổ chức sản xuất công nghiệp. Mặt khác ,nó là cơ
sở nguyên liệu, năng lợng cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Từ các dạng
+ Mức ô nhiễm không khí thông qua các chỉ số tăng của SO
2
, SO
3
,
CO
2
, NH
3
+ Nồng độ các hoá chất độc hại trong nớc, đất
+ Mức độ phóng xạ
+ Các hiện tợng vật lý nh tiếng ồn, độ rung, bụi khói.
Điều kiện môi trờng ảnh hởng đến sức khỏe con ngời và năng suất
lao động nh:
+ Tỷ lệ tử vong
+ Tỷ lệ mất khả năng lao động
+ Đặc điểm phát triển thể lực của nhóm dân c
+ Tuổi thọ bình quân
+ Các loại bệnh thần kinh, dị ứng
+ Những chi phí về vốn đầu t cho việc xây dựng, lắp đặt và duy trì
hoạt động của các phơng tiện bảo vệ môi trờng
5
Để tính toán đợc các chỉ tiêu trên, cần tiến hành thờng xuyên theo
dõi, kiểm tra, đánh giá chất lợng môi trờng, trạng thái môi trờng
trong phạm vi cả nớc, từng vùng và đặc biệt là các trung tâm công
nghiệp, các khu công nghiệp lớn.
3. Những tác động của sản xuất và phát triển sản xuất công nghiệp tới môi
trờng tự nhiên
3.1. Những tác động tiêu cực của sản xuất và phát triển sản xuất
Sản phẩm có ích
Quá trình tiêu dùng
Chất thải
7
3.1.2. Những tác động chủ yếu của công nghiệp hiện nay đến môi trờng
tự nhiên
Ngày nay, các nguồn tài nguyên đang bị con ngời khai thác và sử dụng
quá mức, đang cạn kiệt dần và môi trờng tự nhiên đang bị ô nhiễm, nhiều
nơi trên thế giới đã diễn ra khủng hoảng sinh thái cục bộ.
Than đá, khí đốt và dầu lửa sẽ không phải là nguồn tài nguyên nhiên
liệu vĩnh viễn hàng đầu trên thế giới. Nhu cầu của xã hội nói chung và sản
xuất công nghiệp nói riêng đã, đang và sẽ còn rất lớn. Trên thực tế, loài ngời
đã khai thác và sử dụng một khối lợng khổng lồ các nguồn nhiên liệu này.
Các nguồn nhiên liệu hoá thạch trong thời gian qua đã đáp ứng đợc 3/4 năng
lợng trên thế giới, trong đó, dầu lửa chiếm vị trí quan trọng. Riêng trong lĩnh
vực giao thông vận tải, dầu lửa đáp ứng 97% nhu cầu cần thiết và chỉ riêng
lĩnh vực này đã sử dụng tới 50% nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của ngành công
nghiệp khai thác và chế biến dầu thế giới. Trong một thế giới phát triển
mạnh theo hớng công nghiệp hoá nh ngày nay, nhu cầu về dầu lửa vẫn là rất
lớn và tiếp tục tăng cao. Thực tế, theo một số tính toán cho thấy rằng, hiện
nay, trữ lợng dầu lửa đủ để cung cấp cho nhu cầu năng lợng trên thế giới
trong vòng 43 năm với tốc độ phát triển nh hiện nay, trữ lợng khí đốt đủ
dùng trong 66 năm và lợng than đá đáp ứng nhu cầu của xã hội trong vòng
235 năm.
1
Tốc độ khai thác, sử dụng các loại tài nguyên động, thực vật dùng cho
chế biến công nghiệp nhanh hơn rất nhiều lần khả năng tái sinh của thế giới
động, thực vật, đã làm giảm màu xanh trên trái đất. Tình trạng khai thác
rừng ồ ạt với qui mô, tốc độ lớn dùng cho công nghiệp chế biến gỗ, đã làm
giảm tài nguyên rừng nghiêm trọng. Diện tích rừng không ngừng bị thu hẹp.
2
, SO
3
tăng rất nhanh.Những hiện tợng đó trên
chính là sự phản ứng lại của môi trờng tự nhiên trớc những tác động tiêu cực
mạnh mẽ từ phía hoạt động sản xuất công nghiệp và sự phát triển công
nghiệp trên toàn thế giới. Chúng có ảnh hởng rất lớn đến đời sống con ngời
và sản xuất.
3.2. Phân tích những nguyên nhân cơ bản các tác động của sản xuất
công nghiệp làm suy giảm chất lợng môi trờng
9
Nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất dẫn đến ô nhiễm môi trờng
tăng lên nhanh chóng là do trình độ công nghệ sử dụng trong quá trính sản
xuất công nghiệp và trình độ công nghệ xử lý chất thải còn bị hạn chế bởi
trình độ khoa học công nghệ hiện tại.
Những ngành khác nhau có mức độ gây ô nhiễm và các loại ô nhiễm
khác nhau. Công nghiệp nặng gây ra nhiều ô nhiễm hơn công nghiệp nhẹ.
Thông thờng, các nớc có xu thế chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ các
ngành công nghiệp ít chất thải độc hại sang các ngành công nghiệp nặng
gây ô nhiễm nhiều và cuối cùng, sang giai đoạn cao của sự phát triển sẽ là
các ngành ít gây ô nhiễm hơn nh điện, điện tử, máy tổng hợp
Sự phân bố tổ chức sản xuất công nghiệp cha hợp lý giữa các vùng lãnh
thổ, dẫn đến tình trạng tập trung quá mức công nghiệp vào từng vùng làm
tăng nồng độ chất thải công nghiệp, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nhiều
vùng rộng lớn. Trong khi về mặt kinh tế, nguyên tắc phân bố công nghiệp
gần các vùng nguyên liệu, thị trờng tiêu thụ, thì yêu cầu bảo vệ môi trờng
đòi hỏi có sự bố trí hợp lý, cách xa vùng dân c và nguyên liệu để tránh tập
trung quá mức nguồn chất thải công nghiệp độc hại đến đơì sống con ngời.
Khai thác và sử dụng tài nguyên cha hợp lý, thậm chí khai thác bừa bãi
vì những lợi ích trớc mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài.
cơ cấu ngành công nghiệp sử dụng tiết kiệm năng lợng hơn.
Lựa chọn, bố trí các doanh nghiệp công nghiệp có tác dụng rất lớn đến
bảo vệ môi trờng. Các doanh nghiệp công nghiệp không nên bố trí gần khu
dân c, mà nên bố trí thành các cụm công nghiệp, khu dịch vụ và thơng mại
riêng biệt, mà trong đó tốt nhất là mỗi cụm công nghiệp gồm những doanh
nghiệp công nghiệp sử dụng nguyên liệu, sản phẩm hoặc phế thải của nhau,
góp phần giảm ô nhiễm môi trờng.
2. Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo không phá huỷ
cân bằng sinh thái và cạn kiệt tài nguyên.
11
Khi tác động lên môi trờng tự nhiên và biến đổi nó, con ngời luôn đặt
ra cho mình mục đích có tính chất vật chất, nhằm phát triển nền sản xuất xã
hội, không ngừng thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con ngời và sự phát
triển của xã hội. Với mục đích đó, hoạt động sản xuất công nghiệp khai thác
tài nguyên đã diễn ra ồ ạt, bất chấp qui luật tồn tại và phát triển của môi tr-
ờng tự nhiên. Nền sản xuất công nghiệp của xã hội phát triển không ngừng.
Tuy nhiên, bất kỳ một nền sản xuất công nghiệp nào, trớc hết, đều phải tính
toán đầy đủ các nguồn vốn, tức là toàn bộ chi phí cần thiết để sản xuất ra
sản phẩm. Có một nguồn vốn cơ bản mà bất kỳ một nền sản xuất nào cũng
phải tính đến, đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên. Không có một nhà doanh
nghiệp sản xuất nào lại tiếp tục duy trì sản xuất khi đã tiêu phí quá nhiều
nguồn vốn so với thu nhập. Trên thực tế, nền sản xuất của mỗi quốc gia cũng
nh toàn cầu trong thời gian qua đã tiêu xài quá phung phí một nguồn vốn
quan trọng vào bậc nhất - nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trớc một thực tế
nh vậy, cần phải xác định, nhận thức rõ và có những việc làm cụ thể hớng tới
một mục tiêu không chỉ trớc mắt mà còn cho cả tơng lai lâu dài, đó là khai
thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đảm bảo không phá huỷ
cân bằng sinh thái và cạn kiệt tài nguyên song song với việc phát triển công
nghiệp và sản xuất công nghiệp. Cần đẩy nhanh công nghiệp hoá, phát triển
kinh tế xã hội một cách cân đối với những tài nguyên thiên nhiên sẵn có.
nghiệp về cơ bản đã đợc giải quyết nh: xử lý các chất thải độc hại ngay trong
từng chu trình sản xuất, chỉ thải bỏ ra môi trờng những chất không gây hại
nhiều nh nớc, CO
2
, các chất khoáng mà các sinh vật khác có thể sử dụng đ-
ợc; phơng pháp chu trình công nghệ khép kín nghĩa là đa các chất thải của
sản xuất vào lĩnh vực tiêu dùng của sản xuất; tăng cờng cái gọi là công
nghệ khô; khử các chất độc hại bằng phơng pháp sinh học, v.v Tóm lại,
cần kết hợp chặt chẽ giảm thiểu chất thải công nghiệp độc hại ra môi trờng,
nâng cao trình độ và năng lực xử lý chất thải với chiến lợc, kế hoạch phát
triển công nghiệp lâu dài, thông qua phòng chống ô nhiễm, bảo vệ môi trờng
là chính chứ không phải các biện pháp khắc phục ô nhiễm, hậu quả do các
hoạt động công nghiệp gây ra. Suy cho cùng, những thiệt hại về kinh tế do
sự ô nhiễm môi trờng tự nhiên đem lại và những chi phí để sửa chữa, khắc
phục những thiệt hại đó bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều so với những chi phí
13
để chủ động ngăn chặn ngay từ đầu sự ô nhiễm. Đồng thời, việc ngăn chặn
sự ô nhiễm thờng dễ hơn việc thủ tiêu những hậu quả của nó. Vì vậy, có thể
rút ra một kết luận đơn giản là, đầu t vào công nghệ, nâng cao năng lực,
trình độ xử lý chất thải công nghiệp, giảm thiểu chất thải ra môi trờng, trong
hầu hết các trờng hợp đều mang lại lợi ích kinh tế to lớn, đồng thời cải thiện
và nâng cao chất lợng môi trờng, đảm bảo những điều kiện tốt cho đời sống
và sản xuất công nghiệp.
Trên đây là một số lý luận chung về sản xuất, môi trờng và sự tác động
của sản xuất công nghiệp tới môi trờng. Để áp dụng những lý luận này trớc
thực trạng, tình hình suy giảm chất lợng môi trờng tự nhiên nớc ta bởi hoạt
động sản xuất công nghiệp, chúng ta cùng chuyển sang phần hai của bài
viết.
Chơng hai
Thực trạng tác động tiêu cực của sản xuất công
trang bị lại khá hiện đại, song cũng chỉ đạt trình độ hiện đại trung bình của
thế giới (số này chiếm khoảng 20%). Một số rất ít, không đáng kể, đạt trình
độ công nghệ và thiết bị sản xuất tiên tiến. Hầu hết, các doanh nghiệp và cơ
sở sản xuất công nghiệp ở nớc ta sử dụng thiết bị cũ, lạc hậu, công nghệ sản
xuất cổ điển, vừa sử dụng không hợp lý các nguồn nguyên liệu, tiêu tốn
chúng, vừa làm tăng tỷ lệ phế thải công nghiệp và ô nhiễm môi trờng. Đến
15
tới 80% doanh nghiệp công nghiệp cha cha có hệ thống xử lý chất thải công
nghiệp, số còn lại có hệ thống xử lý phế thải nhng hầu hết đều cha hoàn
chỉnh. Nhiều cơ sở sản xuất qui tụ vào một số vùng trùng hợp với sự phân
bố tập trung các doanh nghiệp thuộc những nhóm sản xuất công nghiệp
khác nhau khiến mức độ ô nhiễm càng thêm nặng nề. Tình trạng ô nhiễm
môi trờng do sản xuất công nghiệp đặc biệt nghiêm trọng ở một số khu đô
thị, khu công nghiệp tập trung. Cùng với sự phát triển của xã hội, trong cơ
chế thị trờng thời mở cửa, nền công nghiệp Việt Nam đang đứng trớc nhiều
biến đổi và thách thức, mà thách thức lớn nhất là vấn đề gắn phát triển sản
xuất công nghiệp với bảo vệ môi trờng tự nhiên.
II. Thực trạng tác động của sản xuất công nghiệp tới
chất lợng môi trờng
1. Những biểu hiện chủ yếu của phát triển sản xuất dẫn tới giảm sút chất l-
ợng môi trờng
Nền công nghiệp Việt Nam nhìn chung còn nhỏ bé. Tuy nhiên, trong
nhiều năm đổi mới, phấn đấu vơn lên gần đây, chúng ta cũng đã dần dần
hình thành đợc một nền công nghiệp bao gồm nhiều ngành nghề, đã hình
thành nhiều khu công nghiệp tập trung song song với sự phát triển của các
thành phố lớn. Đây là một kết quả đáng khích lệ để nền công nghiệp nớc
nhà ngày càng vững bớc đi lên, đạt đợc nhiều bớc tiến to lớn, có ý nghĩa trên
con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra.
Song, điều này cũng tất yếu đi kèm với nó là những tác động xấu tới môi tr-
ờng tự nhiên mà những giải pháp để phòng chống cũng nh khắc phục, chúng
ợng lớn tơng đối ít, trừ than, dầu khí, bôxit, apatít, nguyên tố hiếm Đã phát
hiện trên dới 3500 mỏ, điểm quặng và các biểu hiện của khoảng 80 loại
khoáng sản. Hiện nay, mới đa vào khai thác 300 mỏ với hơn 30 loại khoáng
sản, chủ yếu là:
Than đá: Khu vực Quảng Ninh có trữ lợng 3500 triệu tấn, hàng năm
khai thác 3 triệu tấn. Công nghệ cũ, hiếu suất thấp, tình trạng ô
nhiễm môi trờng nặng nề. Về bụi ở các khu mỏ than, nồng độ bụi v-
ợt quá tới 5 lần tiêu chuẩn cho phép. Hàm lợng SiO
2
có trong bụi
chiếm đến 16-30%, 85% công nhân mỏ bị bệnh bụi phổi. Hiện
nay, muốn khai thác 10 triệu tấn than, phải bốc xúc ít nhất 50.10
6
m
3
đất đá, hàng ngàn hecta đất với hàng tỷ mét khối đất đá thải trơ trụi
không những cha đợc xử lý mà còn tiếp tục gia tăng. Các bãi thải
của khu công nghiệp than đá đã phá đi sự cân bằng sinh thái vốn có
ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Nhiều sông suối bị đất đá bồi lấp,
nhiều cánh rừng bị chặt phá, lấy gỗ làm cột chống lò Tình trạng ô
nhiễm môi trờng ở một số nơi nh vùng mỏ Quảng Ninh, vịnh Hạ
Long đang tăng rất nhanh.
2
2
Tác động của môi trờng sinh thái tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta,
Nguyễn Hoàng Giáp - Hoài Anh, Tạp chí Hoạt động khoa học số 2/2001
17
Apatít: Khu vực Lào Cai hàng năm khai thác 300000 tấn, công nghệ
áp dụng còn lạc hậu, gây ô nhiễm môi trờng đáng kể.
Dầu khí: Tập trung chủ yếu ở vùng thềm lục địa phía Nam, năm
cũng nh Fluo - hai tác nhân gây nhiều độc hại nhất của ngành.
Hàng năm, sản xuất đợc 240000 tấn H
2
SO
4
trong đó, 180000 tấn đi từ
nguyên liệu pyrit. Tất cả đều dùng xúc tác một lớp, hiệu suất chuyển hoá
thấy và lợng chất thải cao. Hàng năm, thải 4347 tấn SO
2
, riêng Lâm Thao
thải 2000 tấn H
2
SO
4
ra sông Hồng và khoảng 80000 tấn xỉ pyrit.
18
HCl khoảng 10000 tấn, một bộ phận lớn thải ra sông vì cha có cơ sở sử
dụng hết.
NaOH khoảng 8000 tấn/năm, phần lớn đợc dùng cho công nghiệp giấy.
Phân bón supe phốt phát 600000 tấn/năm (theo thiết kế).
Phân lân nung chảy 180000 tấn/năm, đồng thời cũng thải ra một lợng
Fluo tơng đơng 11745 tấn Na
2
SiF
6
, phần chủ yếu hiện nay Fluo đợc thải ra
không khí.
Phân đạm trung bình hàng năm 90000 tấn urê, theo công nghệ sử dụng
than antraxit, khí hoá ở áp suất thờng trong lò vỉ cố định. Hiệu suất thu hồi
thấp, ô nhiễm nguồn nớc là chính, gồm: xyanua, arsen, phốt pho, phenol,
gây ô nhiễm nặng trên các dòng sông.
Khi phân tích nguồn nớc thải của một số nhà máy dệt, ngời ta thấy
có nhiều loại độc tố và nồng độ vợt quá mức cho phép nhiều lần.
Ngành giấy có khoảng 90 nhà máy sản xuất đang hoạt động. Trong
công nghiệp sản xuất giấy, ngay cả những xí nghiệp lớn, đợc trang
bị công nghệ trong giai đoạn 1975-1980 nh Bãi Bằng, Cogido, Tân
Mai cũng đã thải xuống sông một lợng độc tố (Lignin) có hàm lợng
rất cao (20000-27000 mg/l) và thải vào khí quyển các chất H
2
, H
2
S,
SO
2
, bụi Na
2
SO
4
, Na
2
CO
3
CH
3
CH (methyl vertan), CH
3
SCH
3
(dimethyl simlit) với hàm lợng lớn hơn nhiều lần mức cho phép,
gây nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng.
Về đờng, hơn 10 nhà máy đờng do Trung ơng quản lý với năng suất
1025 tấn/ngày (mới sử dụng 50% công suất)
Về bia, khoảng vài triệu lít/năm, các cơ sở sản xuất thịt và hải sản hiện
nay sản xuất đợc khoảng 60 000 tấn/năm.
Hầu hết theo công nghệ cũ (trừ ngành bia). Phần thải của ngành này
chủ yếu là các phụ phẩm thực phẩm giàu đờng, tinh bột, protit Các nhà
máy đờng có đặc điểm là COD của nớc thải rất lớn 140000-170000 mg/l do
hàm lợng đờng còn lại sau khi ly tâm. Các chất thải này tiếp tục phân huỷ
sau khi ra khỏi nhà máy, tạo ra sự ô nhiễm chậm. Đặc biệt trong hoàn
cảnh nhà máy thực phẩm nằm cạnh nhà máy sản xuất hoá chất. Các chất
thải của chúng có khả năng phát triển tạo ra các sản phẩm mới nh các hợp
chất Clo hữu cơ có mức độ gây độc cao. Trong điều kiện nhiệt đới và ẩm,
các nguồn thải thực phẩm dẫn dễ dẫn đến những ổ dịch bệnh lớn.
Tóm lại, không một ngành sản xuất công nghiệp, một xí nghiệp công
nghiệp nào mà trong quá trình hoạt động, phát triển của nó không gây tác
động tiêu cực đến môi trờng.
2. Những nguyên nhân của các tác động tiêu cực đó:
Từ tình hình thực trạng ô nhiễm môi trờng tự nhiên ở nớc ta do tác
động của sản xuất và phát triển sản xuất công nghiệp, có thể rút ra mấy nhận
xét sau:
Tổng lợng chất thải độc hại dới các dạng rắn, lỏng và khí do nền
công nghiệp nớc ta thải ra là cha lớn, việc đóng góp vào phần ô
nhiễm chung của thế giới còn thấp so với các nớc phát triển.
21
Vấn đề ô nhiễm ở các khu vực công nghiệp và vùng phụ cận nhà
máy là nghiiêm trọng, đặc biệt tại các thành phố lớn nh thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội (mức độ ô nhiễm vợt tiêu chuẩn cho phép từ
3-15 lần).
Nguồn ô nhiễm chính là các xí nghiệp hoá chất, phân bón, dệt, giấy
và chế biến thực phẩm. Thêm nữa, là tại các thành phố lớn mật độ
các qui định về môi trờng cha hoàn chỉnh.
4) Đối với các thành phố, do tốc độ đô thị hoá cao, công nghiệp phát
triển manh, đặc biệt là sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp
công nghiệ, cơ sở sản xuất t nhân mà Nhà nớc khó kiểm soát về mặt
vệ sinh môi trờng với một cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn.
Chơng ba
Một số giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ
giữa phát triển sản xuất với bảo vệ môi trờng tự
nhiên
ở bình diện phát triển kinh tế bền vững thì chìa khóa của chiến lợc bảo
vệ môi trờng công nghiệp chính là các giải pháp ngăn ngừa sự ô nhiễm do
công nghiệp mang lại. Về bản chất, các độc tố gây ô nhiễm môi trờng của
23
công nghiệp là do các hợp chất hoá học, các sản phẩm sinh học, các tác
động vật lý. Các sai phạm này khi đã đợc tạo ra, nó sẽ tồn tại và lan truyền
tại một vùng ô nhiễm rộng hơn và với thời gian lâu dài hơn cho nên vấn đề
xử lý thờng rất tốn kém và về mặt kỹ thuật không phải trờng hợp nào cũng
giải quyết đợc.
1. Về phía doanh nghiệp và các tổ chức
Để có thể phòng ngừa hậu quả thì việc phòng ngừa phải đợc tiến
hành ngay từ đầu và tại nguồn tạo ra ô nhiễm. Trong công nghiệp, vấn đề
đánh giá tác động môi trờng (EIA) đợc đặt ra trong giai đoạn tiền khả thi
của luận chứng, ở đây, ta đã tìm cách loại trừ hoặc có giải pháp để ngăn
ngừa ô nhiễm, EIA là một bớc đi cần thiết và bắt buộc. Nhng cũng cần nhận
thức rằng EIA là một quyết định đợc đa ra trên các dự đoán. Nó đòi hỏi một
hệ thống số liệu nền đầy đủ và dựa vào nghệ thuật và kinh nghiệm của xử
lý, theo một phơng pháp rất mờ của ngời thực hiện. Mà đây là những vấn
đề mà sự tích luỹ của chúng ta còn ít, cho nên kết luận của nó mang tính gần
đúng. Vì vậy, công tác đánh giá tác động đến môi trờng của cơ sở công
trờng
Hệ thống chính sách và pháp luật bảo vệ môi trờng nh là một bộ phận
tạo ra khuôn khổ pháp lý hớng dẫn các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp công nghiệp. Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ trong hệ thống
chính sách và pháp luật cùng với thiếu kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực
môi trờng là kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
chỉ chú ý tìm kiếm lợi nhuận cho riêng mình mà quên mất lợi ích lâu dài của
quốc gia, của xã hội. Do vậy, trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý của nhà nớc hiện nay, hệ thống chính sách và luật pháp
môi trờng ở nớc ta cần đợc hoàn thiện theo hớng sau:
25